Đặc San 2005 phần I

ĐẶC SAN CHU VĂN AN 2005

Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh

Chu Văn An Bắc California

Xuân Ất Dậu 2005

Phát hành  ngày 26 tháng 3 năm 2005


MỤC LỤC

Lá thư Ban Chấp Hành Ban Chấp Hành  
Truyền thống CVA Phạm Quang Trình  
Từ Bắc Kỳ di cư tới tỵ nạn Nguyễn Ý Đức  
Tôi và thác Niagara (thơ) Phan Chừng Thanh  
Hà Nội Phan Phi Liêu  
Rừng thu thay lá Nguyễn Đình Phương  
Sao chẳng gặp nhau (thơ) Nguyễn Vũ Văn  
Bốn người khách lạ Đặng Đức Cường  
Lên voi, xuống ..đất Phạm Văn Nhuệ  
Nén hương cho mẹ (thơ) Phan Tôn Sơn  
Quan niệm về Trung Hiếu Lê Duy  
Đóa hồng (thơ song ngữ) Minh Viên  
Nay hoàng hôn đã Nguyễn Gia Bình  
Bao giờ đầy (thơ) Nguyễn Gia Bình  
Hoài niệm ấu thơ Vũ Đức Nghiêm  
Trời hương phấn cũ (thơ) Vũ Đức Nghiêm  
Tam Phúng Bùi Đức Lạc  
Thành phố tuổi thơ Kim Vũ  
Câu chuyện thầy Lang Nguyễn Ý Đức  
Đôi ngả (thơ) Đào Tiến Luyện  
Nguyễn Thị Hồng Yểm Lưu An  
Kinh dịch Lê Quý Thụ  
Con ve sầu Ham Học  
Ông Đồ (Nhạc) Nguyễn Đức Chung  
Tuổi già và trí nhớ Trương Đăng Đệ  
Hiệp Định Genève 1954 Phạm Cao Dương  
Vui buồn (thơ) Phạm Hữu Thuật  
Ôi! Cái lưng đau của tôi Nguyễn Tranh Chiếu  
Quỳnh hoa (thơ) Đàm Trung Phán  
Ông Trời dốt tiếng Việt Lý Kế Duy  
Một mình, hai mình (thơ) Từ Sơn  
Chữ Tm Đàm Trung Phán  
Thái Cực Quyền (Tài Chi) Trần Ngọc  
Kỷ niệm với các GS CVA Lê Xuân Tiếu  
Buồn nhớ cố hương (Thơ) Ngọc Bích  
Di chuyển bằng máy bay Lương Anh Dũng  
Bình Dương trong ký ức (thơ) Nguyễn Văn Tài  
Mùa Xuân ở Union City Hàn Phú  
Võ thuật, võ đạo, võ hiệp Trần Trung Chính  
Bạn và địch (thơ vui) Ngô Sĩ Hùng  
Môi sinh tinh thần Phạm Huy Thịnh  
Xuôi theo giòng đời Tôn Nữ Mặc Giao  
Thủ tục bầu cử tại Úc Thanh Văn  
Còn nụ cười nào cho anh Sầu Đông  
Đò trăng (thơ) Ngô Đức Diễm  
Những kỷ niệm quân trường Việt Bằng  
Nơi một thuở mùa Xuân (thơ) Việt Bằng  
Hà Nội trong tôi Nguyễn Văn Khôi  
“Crazy Horse” (Ngựa điên) Nguyễn Duy Hảo  
Nỗi buồn tiếng Việt Chu Đậu  
Bài đầu thu (thơ) Vương Đức Lệ  
Xuân lại càng già Đoàn Văn Khanh  
Kỷ Yếu CVA (dự thảo) GS Lâm & GS Tấn  
Cùng nhau bảo toàn đất tổ Hoàng Cơ Định  
CVA vang vọng trong tôi (thơ) Trần Khánh Hồng  
Bạn Cũ Chu Văn An Trong Tù L Hồng Giang  
Nhận xét về Đặc San 2004 Nguyễn Thọ Chấn  
Bản tình ca cho trường (Nhạc) Lê Quốc Tấn  
Tin sinh hoạt CVA Phạm Nguyên Khôi  
Hình ảnh CVA Ban Biên Tập  
Địa chỉ liên lạc Ban Biên Tập  
Danh sách Ban Chấp Hành Ban Biên Tập  

* * *

 

Lá thư Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California nhiệm kỳ 2004-2006 xin kính chào toàn thể quý vị Giáo Sư và quý Đồng Môn.

Đúng ra tháng tám vừa qua, Ban Chấp Hành chúng tôi đã mãn nhiệm kỳ. Tuy nhiên, chúng tôi đã được “ưu ái” lưu nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa cho tới tháng tám năm 2006.  Hy vọng lúc đó sẽ có nhiều Đồng Môn tham gia vào công việc điều hành Hội Chu Văn An của chúng ta.

Đặc San Chu Văn An năm nay được dự trù phát hành vào ngày 26 tháng 3, 2005 là ngày Họp mặt tân niên của Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California.  Chủ đề chính của Đặc San năm nay là “Kỷ niệm 30 năm bỏ nước ra đi” và cũng kỷ niệm nạn đói năm Ất Dậu xảy ra cách nay đúng 60 năm.  Đặc biệt trong Đặc San năm nay, chúng tôi có trích đăng “Kỷ Yếu Chu Văn An” do thầy Lê Văn Lâm và thầy Bùi Đình Tấn biên soạn còn đang dang dở.  Theo như thầy Lâm cho biết, dự thảo kỷ yếu coi như đã hoàn tất được 3/4 rồi.  Chỉ cần duyệt xét và hiệu đính lại các chi tiết và bổ túc thêm hình ảnh và những bài tường thuật hoạt động của các Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An trên toàn cầu là xong.  Vậy xin quý Đồng Môn đọc qua và cho chúng tôi biết những sai lầm hoặc thiếu sót để chúng tôi sửa chữa.

Chúng tôi cũng xin mượn trang giấy này để tỏ lòng cám ơn quý ân nhân đã ủng hộ tài chính cho hội.   Trong việc điều hành, thế nào cũng có sự sơ xuất, kính xin quý vị lượng tình tha thứ.  Mong được đón nhận tất cả mọi ý kiến xây dựng của qúy Đồng Môn.

Xin cám ơn quý vị và quý bạn

Ban Chấp Hành Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California.

* * *

 

Truyền Thống Chu Văn An

Thân tặng quý bạn cựu học sinh Bưởi-Chu Văn An

 nhân ngày Họp Mặt Tết Đinh Sửu 19.1.1997

CVA Phạm Quang Trình

Chu Văn An (+ 1370) theo sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí là một bậc danh nho đời nhà Trần, hiệu là Tiểu Ẩn, người xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì), Hà Đông. Đời vua Trần Minh Tông (1314-1340) ông là Quốc Tử Giám Tu Nghiệp và coi việc giảng kinh cho Thái Tử, ông soạn sách Tứ Thư Thuyết Ước. Đến đời vua Trần Dụ Tông (1341-1368), ông dâng sớ xin chém bảy người nịnh thần (Thất Trảm Sớ), vua không nghe, ông liền từ chức, về nghỉ ở huyện Chí Linh (Hải Dương). Tự bấy giờ trở đi, ông không chịu nhận quan chức gì nữa, chỉ làm thơ văn và dạy học trò, nhiều người hiển đạt (như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, vân vân). Sau khi ông mất, vua ban tên thụy là Văn Trinh, cho tùng tự ở Văn Miếu.

 Sách không ghi ngày sinh, chỉ ghi năm ông qua đời là năm 1370, có lẽ ông cũng thuộc vào bậc sống tương đối thọ (khoảng sáu bẩy mươi gì đó?) Tuy nhiên danh tiếng Chu Văn An rất nổi là do tính cương trực liêm khiết. Là một danh nho, chắc hẳn Chu Văn An tràn đầy cuộc sống của một bậc chính nhân quân tử Đông phương với châm ngôn ”Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Dâng lên vua Thất Trảm Sớ để xin chém bẩy tên nịnh thần đồng thời mở trường dạy học để có những môn sinh hiển đạt như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát là chứng minh cho thấy Chu Văn An phải là nhân vật độc đáo như thế nào mới đạt được những thành quả lẫy lừng như vậy. “Cây tốt sinh trái tốt. Cây xấu không thể sinh trái tốt”.  Lời Kinh Thánh quả nhiên cũng là cách giúp cho ta suy luận để nhận định về con người. Chu Văn An là nhân vật ưu thời mẫn thế đã có những hành động của bực anh hùng.

 Với thành tích lẫy lừng về tính liêm khiết của một vị quan cũng như tính mô phạm của một ông thầy, danh xưng Chu Văn An được những người có trách nhiệm đặt lại cho Trường Bưởi quả là một lựa chọn đáng kính phục và có ý nghĩa lớn lao. Dư luận từ lâu rồi, ít ra cũng từ trên nửa thế kỷ qua đều cho rằng Trường Bưởi-Chu Văn An là một trường danh tiếng vì đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Chắc chắn là như thế. Người viết nhớ lại những tháng ngày còn học ở Chu Văn An quả nhiên mình cũng cảm thấy rất hãnh diện. Hãnh diện vì cái tên Chu Văn An. Hãnh diện vì được học trong một nhà trường danh tiếng với các thầy tài ba đáng kính. Hãnh diện vì học sinh Chu Văn An có tiếng là giỏi. Thật vậy ở trường Chu Văn An có nhiều lớp đệ nhị cấp, mà lớp nào đi thi Tú Tài cũng đậu với tỷ lệt rất cao. Lớp học của người viết thuộc loại tài tử (1C mà lại) thường là đậu ít nhất so với các ban khác với 51 học sinh mà đậu tới 47 tên thì quý vị thử nghĩ coi thành tích cũng khá lắm đấy chứ. Ấy chưa kể các lớp khác siêu hơn, có lớp chỉ rớt có hai mạng, còn toàn là đậu hết. Một học sinh khác của lớp 1B, hồi năm 1960 khóa 1 anh thi Tú Tài ban B đậu phó bảng (đứng thứ hai), khóa 2 anh thi Tú Tài ban C đậu Thủ Khoa (đứng đầu). Nói ra chắc không bao giờ hết! Nhưng tóm lại, thành tích lớn lao của trường cũng là nhờ Ban Giám Đốc làm việc với kỷ luật nghiêm minh và nhờ tài ba và sự tận tâm dạy dỗ của các giáo sư.

 Biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975 khiến hằng triệu người phải bỏ nước ra đi trong đó có hàng chục ngàn người đã từng mài đũng quần trên ghế của trường Bưởi-Chu Văn An. Hầu hết đã lớn tuổi và đã thành danh hoặc có sự nghiệp. Vui mừng thay, khi xa quê hương cũng như xa mái trường, những cựu học sinh Bưởi-Chu Văn An vẫn muốn tìm đến nhau để hàn huyên tâm sự ôn lại những tháng ngày thân mến xa xưa dưới mái trường thân yêu.

 Nhân ngày họp mặt Chu Văn An, người viết có vài tư tưởng muốn chia sẻ với quý bạn.

 1. Tình thầy trò của dân Việt Nam:

 Từ thuở bước chân đến trường, nhất là ở trường làng nhà quê, chắc quý bạn không thể quên được những cảm giác bỡ ngỡ xôn xao của một cậu bé hay một cô bé lần đầu tiên đi đến trường. Đoạn văn của Thanh Tịnh chắc hẳn còn vang vọng đâu đây: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy, nẩy nở trong lòng tôi như những cánh hoa tươi mỉm cười dưới bầu trời quang đãng. Những cảm giác ấy... ngày đó tôi không biết ghi, và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy em bé núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường thì lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng. Con đường này tôi đã quen... “. Vân vân. Đã có nhiều tác giả viết về thời ấu thơ, trong đó nhắc đến tình thầy trò. Rõ ràng là dân Việt mình quý mến ông thầy nhiều lắm. Từ cha mẹ, các bậc phụ huynh đến học trò ở bậc tiểu học đã có lòng kính mến ông thầy. Lòng quý mến đó được xây dựng trên lễ giáo đông phương hàng bao thế kỷ, hằn sâu vào tim óc. Cho dù có xa cách, khi gặp lại vẫn một lòng kính trọng. Một cách đại cương là như thế. Dĩ nhiên thời xã hội chủ nghĩa, đã có những thay đổi khi chế độ mới đưa quan niệm đấu tranh giai cấp vào làm đảo lộn trật tự xã hội.

 Tình thầy trò của dân Việt hình như khác xa với tình thầy trò của dân Mỹ. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư! Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy! Lễ giáo đông phương là thế. Chỉ một chữ Lễ đủ cho ta thấy đông phương hùng dũng đồ sộ biết bao. Một chữ Lễ thôi phải viết bằng một pho sách. Chữ Lễ khó có thể dịch sang một tiếng nước ngoài cách tương tự được vì nó bao hàm ý nghĩa vô cùng rộng lớn. Nho giáo khi nói đến Quân, Sư, Phụ đã cho thấy tương quan và vai trò quan trọng của mỗi vị trong đó. Bực Thầy (Sư) đã đóng một vai trò lớn lao trong xã hội. Học trò làm sai làm bậy, ông thầy đều có trách nhiệm. Tội “tru di tam tộc” trong đó họ (tộc) của thầy (Sư) cũng bị vạ lây!  Cũng bởi trách nhiệm lớn lao mà ông Thầy luôn được học trò kính trọng. Gặp thầy phải khoanh tay cúi chào, chứ không nhìn trân trân như học trò Mỹ ngày nay. Hằng năm, đến Tết, học trò phải lại tết thầy. Thầy chết, trò phải để tang. Cái lễ giáo đôi khi có khắt khe một chút nhưng đã giữ cho xã hội có trật tự trên dưới trong tình đại gia đình, chứ không phải trong tương quan giai cấp chủ, nô. Nhìn sự việc hôm nay và nghĩ lại chuyện xưa, chắc hẳn chúng ta ít nhiều sẽ cảm thấy nền văn minh tiến bộ có nhiều cái hay song cũng có nhiều cái dở, thoái hóa, nhất là về mặt lễ giáo đạo đức. Trong khi hô hào bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, có nên phục hồi lại lễ giáo đông phương chăng, ít ra đến một mức nào đó cho phù hợp với đà tiến bộ của văn minh nhân loại. Người Mỹ có ngày của Cha (Father’s Day), có ngày của Mẹ (Mother’s Day) mà chưa có ngày của Thầy Cô (Teacher’s Day)!  Thầy cô đóng vai trò quan trọng lắm chứ. Con cái ở nhà trường gặp thầy cô hình như nhiều hơn là hàn huyên với cha mẹ ở gia đình, đó là sự thực. Lại cũng một sự thực đáng buồn là người Mỹ dạy cho học sinh về Nhân Quyền mà không dạy về Công Dân Giáo Dục, thế nên tội phạm ỡ xã hội Mỹ mỗi ngày một tăng!  Chúng ta đã hấp thụ lễ giáo dân tộc từ đông phương, chúng ta nghĩ nên làm gì ở xã hội quá ư tiến bộ, mà hình như thiếu lễ giáo này?

 Ở xứ người, không riêng gì các cựu học sinh Bưởi-Chu Văn An, cựu học sinh các trường danh tiếng khác cũng thành lập các hội ái hữu để hâm lại tình thầy trò, tình đồng môn với nhau, thật quả là điều đáng quý, đáng khuyến khích. Tất cả cũng trong mục tiêu bảo tồn văn hóa đó thôi.

 2. Xã hội đời Trần thời Chu Văn An:

 Từ đời Trần Dụ Tông về sau tức là về cuối đời Trần, xã hội Việt Nam bắt đầu bất ổn. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Vua quan lo ăn chơi hưởng thụ. Nạn tham nhũng xuất hiện. Vua làm điều sai trái không ai dám ngăn cản. Hầu hết trở thành nịnh thần nhằm thủ lợi riêng mà không hề nghĩ đến việc nước là việc chung. Chu Văn An dâng Thất Trảm Sớ để xin vua chém đầu bẩy tên quan nịnh thần, không rõ có đầu Hồ Quý Ly chưa. Nhưng sử sách ghi vào năm 1400, Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần để lập ra nhà Hồ, chắc hẳn thời trước đó ba chục năm, xã hội Việt Nam đời Trần đã ở trong tình trạng bất an “thượng bất chính” tạo thời cơ cho Hồ Quý Ly có manh tâm tiếm ngôi nhà Trần. Việc làm của Chu Văn An quả là can đảm và anh hùng. Nếu không phải là gan dạ và được vua quan kính nể thời đầu Chu Văn An có lẽ đã bị rơi. Mặt khác, đụng đến thế lực tham nhũng nịnh thần, tất nhiên bọn này phải phản ứng quyết liệt trở lại khi Chu Văn An dám dâng Thất Trảm Sở xin chém đầu bẩy tên. Nhà Trần mất ngôi vì bọn tham nhũng nịnh thần. Bởi bọn này hèn nhát mà Hồ Quý Ly mới có manh tâm chiếm ngôi. Nếu như có nhiều vị quan như Chu Văn An thì dễ gì Hồ Quý Ly có tâm địa phản trắc. Cũng tại Vua Trần ươn hèn, thiếu sáng suốt, tuyển chọn và xử dụng toàn những tên hèn nhát nịnh bợ, nên nhà Trần mới bị mất ngôi. Nghĩ lại thì đâu chỉ phải đời trần. Thời sau này cũng thế thôi! Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ vì sao? Có phải vì nạn tham nhũng kinh hồn? Có phải vì người lãnh đạo quốc gia hèn nhát? Có phải vì thiếu những vị quan có tư cách phong độ như Chu Văn An? Hồ Chí Minh hôm nay và đồng đảng có khác gì Hồ Quý Ly ngày xưa, vẫn lại cam tâm uốn mình cúi đầu làm tay sai cho giặc phương Bắc để mong toàn thân ngồi trên địa vị? Lịch sử có những tái diễn tương tự! Rõ ràng là dân tộc Việt Nam đang mơ tưởng những người khí phách như Chu Văn An nhiều lắm.

 3. Tinh thần Chu Văn An:

 Khi về nghỉ tại Hải Dương, Chu Văn An mở trường dạy học, có nghĩa là ông muốn đào tạo một lớp người mới cho xã hội Việt Nam theo đúng truyền thống Nho gia “Phú quý bất năng dâm. Bần tiện bất năng di. Uy vũ bất năng khuất”. Lớp người mới đó theo tinh thần Nho gia sẽ đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh.

 Cụ Trần Trọng Kim trong bộ Nho Giáo đã viết:

 “Đời xưa người đi học đạo của thánh hiền gọi là Nho tức là người đã học biết suốt được lẽ trời đất và người, để dạy bảo cho người ta ăn ở cho phải đạo luân thường. Nho là bởi chữ Nhân đứng bên chữ Nhu mà thành ra. Nhân là người, Nhu là cần dùng, tức là một hạng người bao giờ cũng cần dùng đến để giúp cho nhân quần xã hội biết đường mà ăn ở và hành động cho hợp lẽ trời. Chữ Nhu lại có nghĩa là chờ đợi, tức là người học giỏi, đợi người ta cần đến, sẽ đem tài trí của mình ra mà giúp việc đời. Phàm những người học Nho thuật thường là những người chuyên về mặt thực tế hơn mặt lý tưởng. Bởi vậy từ xưa đến nay, những người Nho học đều là người chực ra cáng đáng việc đời, để làm ích quốc lợi dân, chứ không phải là người yếm thế, chỉ vụ lấy sự vui thú trong vòng tư tưởng. Có biết rõ cái ý nghĩa ấy thì về sau mới hiểu tại sao Khổng Tử cứ phải chu du thiên hạ để cầu ra xuất chinh. Ngài là người theo đạo Nho, bao nhiêu cái tư tưởng và học tập của Ngài là chủ về nhân sự, cốt đem thực hành ra ở xã hội, làm ích lợi cho nhân quần. Cái mục đích ấy chính là cái mục đích của những người nho học từ đời thượng cổ cho đến ngày nay. Cũng bởi lẽ ấy cho nên thầy Tử Lộ nói rằng: ‘Bất sĩ vô nghĩa... Quân tử chi sĩ giã, hàng kỳ nghĩa giã: không ra làm quan là vô nghĩa...’ Người quân tử ra làm quan là làm việc nghĩa vậy (Luận ngữ: Vi tử, XVIII)”.

 “Trước thời Xuân Thu thì những nhà Nho học gọi là sĩ thuộc quyền quan Tư Đồ. Những người sĩ do quan Tư Đồ chọn lấy cho đi du học văn chương và lục nghệ là: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số để dùng làm quan coi việc nước. Bởi vậy sách Hán Thư Nghệ Văn Chí nói rằng: Nho giáo do quan Tư Đồ mà ra. Từ cuối đời Xuân Thu trở đi, Khổng Tử đem phát huy cái học thuật của Nho gia và định rõ những điều như là:

 a. Nói về cuộc biến hóa của vũ trụ, quan hệ đến vận mệnh của nhân loại.

 b. Nói về các mối luân thường đạo lý ở trong xã hội.

 c. Nói về các lễ nghi trong việc tế tự trời đất, quỉ thần

 Những điều ấy thành ra cái thế lực rất to, có ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của cả nhân chúng trong xã hội. Bởi vì những điều ấy chính là điều cốt yếu của một tông giáo, cho nên từ Khổng Tử trở đi, mới gọi cái học của Nho gia là Nho giáo, mới tôn Không Tử là tị tổ của Nho giáo”.

 Người viết xin phép được trích dài dòng văn tự một chút để quý độc giả biết thêm về ý nghĩa của chữ Nho. Và khi đã biết được đầy đủ qua cách giải thích và trình bày rất mạch lạc của cụ học giả Trần Trọng Kim rồi chúng ta mới thấy cái học đông phương quả là ghê gớm. Trước văn minh vật chất chói lòa của Tây phương, tưởng đâu Đông phương mờ nhạt không ra gì, ngờ đâu, cái học của Đông phương cũng đồ sộ không kém. Nội môn Dịch học (Change) với thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái... để so sánh với khoa điện tử của Tây phương hiện đại đủ cho thấy Đông phương đã đi xa Tây phương từ mấy ngàn năm. Ngày nay có phong trào trở lại nghiên cứu Đông phương đủ rõ Đông phương đâu thua kém gì Tây phương. Hình như mới đây có một khoa học gia Trung Quốc cho biết khi nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử, ông ta nghiên cứu thêm về dịch lý và việc nghiên cứu chế tạo giúp ông đi nhanh hơn mức thường. Cũng vậy Nho học không chỉ được nhìn một cách eo hẹp qua các bộ sách dù lớn như Tứ thư, Ngũ Kinh mà nó bao gồm đủ môn học, trong đó môn học làm người là quan trọng bực nhất. Cũng vây, khi nói tới đạo Nho, đâu phải chỉ có Nho học của Tàu tức là Hán Nho, Tống Nho, vân vân. Còn có Nho học của Nhật Bổn, Nho học của Đại Hàn và Nho học của Việt Nam mà nhiều vị học giả gọi là Việt Nho. Nho học Việt Nam hay Việt Nho được xây dựng trên nền tảng Văn Hiến bao gồm nhân sự tài liệu sách vở cũng lớn lao đồ sộ lắm, dĩ nhiên trong đó Chu Văn An là một biểu tượng của một nho sĩ Việt Nam rất đáng kính trọng vậy. Có một thời, người dân Á Đông và cách riêng dân Việt Nam trước văn minh chói lòa của Tây phương đã quên mất mình. Tình trạng “vong thân” này làm chúng ta không nhìn ra cái tinh túy của dân tộc, rồi nói là mình không có chi cả, văn hóa mình thấp kém so với Tây phương. Nhưng sau những phút bàng hoàng vì sự chói lòa của văn minh Tây phương, chúng ta đã định thần, bình tĩnh trở lại để nhận ra rằng nhiều sản phẩm văn minh Tây phương đã gây nên biết bao đổ vỡ cho nhân loại, điển hình là hai cuộc Thế Chiến và rằng chúng ta Việt Nam hay Đông Phương cũng có những nét nguy nga đồ sộ hay lắm chứ. Tình gia đình Việt Nam chẳng hạn là một cái gì mà văn minh Âu Mỹ không có. Xã Hội Việt Nam được xây dựng trên tình gia đình, trên nền tảng gia đình để mọi người gọi nhau bằng ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì... dù không có họ hay huyết tộc gần gũi với nhau. Thậm chí cho đến người ăn mày, cũng còn được gọi là ông hay bà ăn mày. Đây là một khám phá độc đáo của cụ triết gia Kim Định về văn hóa dân tộc. Thực ra còn nhiều lắm. Các học giả đang ra công nghiên cứu và chúng ta hy vọng sẽ được thấy những tinh hoa làm nên con người Việt Nam, xây dựng nên nước Việt Nam Văn Hiến.

 Bây giờ xin trở lại tinh thần Chu Văn An. Chu Văn An được đào luyện trong môi trường văn hóa dân tộc, của Nho giáo và của Việt Nho. Cuộc sống và hành động can đảm của Chu Văn An quả là một tấm gương lớn lao cho mọi người còn quan tâm đến vận mệnh dân tộc. Phú quý bất năng dâm. Bần tiện bất năng di. Uy vũ bất năng khuất. Diệt trừ tham nhũng, đào luyện những con người tốt cho xã hội, tấm gương Chu Văn An đáng được dân tộc Việt Nam trong mọi thời kính phục nhắc nhở. 

 Thay lời kết: Soi gương kim cổ, nhìn lại tiền nhân là những việc mà mọi người chúng ta rất nên làm. Chu Văn An và những danh nhân khác được đặt tên cho mỗi trường học đều hàm ngụ ý nghĩa là kẻ hậu sinh phải noi theo tấm gương cao đẹp của tiền nhân. Người viết thiển nghĩ tinh thần ái hữu của mỗi hội đều quý hóa, đều tốt đẹp. Song nếu mỗi hội ái hữu, nhất là các hội viên dấn thân một bước xa hơn trong nghĩa vụ của một con dân đất Việt, biết đâu quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta sớm có ngày thanh bình hạnh phúc. Một Chu Văn An khi xưa dâng Thất Trảm Sớ không được vua chấp nhận, quyết trở về mở trường dạy học. Nay, nếu một ngàn một vạn Chu Văn An cùng ra tay quyết chí mài gươm diệt trừ tham nhũng, biết đâu đất nước lại thoát được ách thống trị của giặc Hồ.

 San Jose ngày 8 tháng 1 năm 1997

CVA Phạm Quang Trình

* * *

 

Từ Bắc Kỳ Di Cư tới Tỵ Nạn Chính Trị

 

CVA Nguyễn Ý Đức

            Nhân dịp kỷ niệm 50 năm di cư từ Bắc vào Nam, lang tôi xin ra ngoài lãnh vực y học, ghi lại vài hàng về biến cố đau buồn này. Để khỏi “Lạc bất tư Thục”, ham vui mà quên cả quê hương, bản quốc...Một quê hương còn nhiều tai ương.

Đang giờ học Việt Văn  của giáo sư Nguyễn Tường Phượng, tôi được nhân viên  phòng Giám Học  kêu xuống  gặp người nhà. Tôi học lớp Đệ Tam ban A Trung Học Chu Văn An ở Hà Nội. Tới văn phòng, tôi thấy bố tôi đang ngồi nói chuyện với Thầy Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán và Thầy Giám Học Vũ Đức Thận. Bố tôi quen với hai cụ qua người anh họ tôi là ông Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm báo Dân Chủ ở đường Gia Long Hà Nội. Bố cho tôi hay là đã xin phép hai cụ để cho tôi nghỉ học sớm và theo ông về  quê  có việc.          Hai bố con về nhà tôi trọ để thu xếp đồ đạc rồi ra bến xe đò về tỉnh Hải Dương. Trên đường đi, bố tôi cho hay là phải di cư vào Nam ngay vì Việt Minh sắp tiếp thu Hà Nội và các tỉnh bên đây Bến Hải. Người quốc gia chỉ có mấy tháng để di cư.

Vào thời gian đó,  tình hình chiến sự miền Bắc sôi động ác liệt mạnh mẽ. Đi đâu cũng thấy nói tới sự rút lui của quân đội viễn chinh và quân đội quốc gia. Khi đó, phương tiện truyền tin là đài phát thanh và mấy tờ báo, chứ đâu có internet, truyền hình như ngày nay, nên tin tức rất hiếm hoi, đôi khi chỉ là truyền khẩu. Có tin đồn rằng, vì muốn hòa giải với Tây phương, Cộng sản Trung Hoa và Nga Sô Viết đã làm áp lực với đàn em phải ký kết hiệp định Geneve; rằng cộng sản Việt  đòi chia đất nước từ vĩ tuyến 13 nhưng sau đó phải chấp nhận vĩ tuyến 17; rằng họ muốn quân đội viễn chinh Pháp rút lui trong 90 ngày, nhưng các quốc gia đàn anh quyết định là 300 ngày...để mọi người có thời gian thoát ách cộng sản.

Rất nhiều dân chúng Hà Nội và các tỉnh lỵ miền Bắc hốt hoảng, vội vã sửa soạn thu vén di cư vào Nam. Uy Ban Bảo Vệ Bắc Việt đã được thành lập song hành với Uy Ban Di cư.  Đường phố ngổn ngang những đồ vật mang ra bán. Những tủ chè, sập gụ, những lư đồng, bình sứ rồi quần áo, gia dụng. Thôi thì đủ thứ. Ai ai cũng cố  bán tống bán tháo để có chút vốn di cư. Đó là cuộc di cư vĩ đại của cả triệu đồng bào miền Bắc bỏ mồ mả cha ông chỉ vì không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản ngoại lai.  Họ đã  nghe nói cũng như chứng kiến sự  khắc nghiệt của chính quyền đối với dân chúng ở vùng do chế độ kiểm soát. Những đấu tố, những thủ tiêu không nương tay, những kiểm soát theo dõi đời sống rất khắt khe.

Bố tôi đang làm việc tại tòa Tỉnh Trưởng Hải Dương. Ong cũng chỉ là nhân viên phù động do quen biết chứ không phài là công chức chính ngạch. Xuất thân con nhà có chút ruộng đất, nên trước chiến tranh, ông chỉ giao du hưởng thụ. Ong nội mua cho bố tôi chức Hội trong làng, nên cũng có một vài vai vế  chiếu trên chiếu dưới đối với chốn đình trung và ngoài xã hội. Theo anh tôi thì ông cụ cũng “phá gia chi tử” lắm. Thời đó làm gì có ngân hàng, chi phiếu, thẻ tín dụng nên đỏ đen hết tiền mặt là văn tự ruộng đất nhà cửa được đưa ra để cầm bán.  Gia đình chúng tôi phải bỏ quê lên tỉnh làm ăn vì không thích hợp với “kháng chiến địa phương”. Ong bác ruột bị thủ tiêu vì giữ chức Cửu trong xã. Anh tôi khi đó mới 12 tuổi không sớm băng đồng trong đêm chạy lên huyện thì cũng bị bắt. Chồng của cô tôi bị bắt nhầm, tưởng là bố tôi. Ong cụ đã về vùng tề từ mấy ngày trước. Lý do là họ nhà tôi làm chủ  một số điền thổ trong tổng và được liệt kê vào hạng “cường hào, ác bá”.

Hai bố con về tỉnh để sửa soạn ra đi. Chúng tôi phải xuống Hải Phòng để đi tầu thủy, vì khi đó chương trình di cư  đang ở cao điểm nên di tản bằng đường hàng không trở nên rất hiếm hoi. Những ngày nấn ná sửa soạn, bán nhà cửa đồ đạc, chờ ngày lãnh giấy lên tầu là những ngày rất giao động. Họ hàng ở dưới quê lên thăm hỏi, chia tay. Nhiều người nỉ non quyến dụ.  Nào là đất nước thanh bình đến nơi rồi, tại sao không ở lại mà hưởng “tự do, hạnh phúc”!  Rằng  chính phủ rất khoan hồng, mọi người đều được tiếp tục làm việc như trước. Một bà bạn của gia đình có cô con gái rượu thì “ cháu ở lại đi, mai mốt đất nước thống nhất thì tha hồ mà vào thăm Sài gòn”. Ông chú ruột làm phát ngân viên cho Bảo Chính Đoàn tỉnh được gia đình vợ hai móc nối ở lại: “ cứ mang hết tiền quỹ về quê xây dựng sự nghiệp, giúp làng xóm, tha hồ mà sướng”. Nhưng bố tôi đã nhất quyết ra đi vì đã phần nào hiểu rõ bản chất của chế độ.  Bà vợ kế ở lại với một đứa con gần hai tuổi và bụng chửa hơn bốn tháng, vì bố mẹ ở dưới quê muốn gắn bó với quê cha đất tổ.

Ngày ngồi trên xe lửa từ Hải Dương xuống Hải Phòng mới thực vất vả và  chứng kiến nhiều bi hài kịch. Tầu đậu ở nhiều ga dọc theo đường số 5 để lấy thêm khách, mà hầu hết là xuống Phòng để vô Nam bằng tầu biển há mồm. Cán bộ địa phương được tung ra để gây trở ngại cho người di cư. Thôi thì  khóc lóc, níu kéo ở lại, ngăn cản lên tầu. Cũng có những chửi mắng “ đi liếm chân đế quốc làm Việt gian cho giặc Pháp”.  Chẳng khác gì “ tàn dư Mỹ Ngụy” mấy chục năm sau này. Rồi vứt đồ, đánh đập cho bõ ghét.

Làm thân  rau muống Bắc kỳ di cư ở  vùng đất trù phú trong Nam, người dân miền Bắc đã đóng góp nhiều cho mảnh đất quê hương. Chỉ vỏn vẹn có hai thập niên, mọi người bên này vĩ tuyến 17 đã xây dựng được một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam với nền tảng khai phóng, nhân bản; một nền văn học tự do  với nhiều dân tộc tính; một chế độ y tế xã hội phục vụ phúc lợi người dân tương đối đầy đủ. Và cũng đã hy sinh nhiều xương máu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng kết quả là chỉ tránh được hiểm họa Đỏ cho một phần nhỏ của thế giới  với cái giá là một lần nữa lại tỵ nạn  vào phần tư cuối của thế kỷ hai mươi. Khi mà các thế lực quốc tế không còn cần đến mình trong nhu cầu của họ.

Từ Bắc Kỳ Di Cư  tới tỵ nạn chính trị  thấm thoát mà đã nửa thế kỷ, năm mươi năm, mười lăm ngàn hai trăm năm mươi ngày dài đằng đẵng.  Về quê hương thì vẫn thấy nhiều ngậm ngùi chua sót. Những người vì hòa bình và thống nhất ở lại miền quê thì đời sống không khác gì mấy, so với 50 năm về trước. Có chăng là ngọn đèn điện, chiếc ti vi,  chiếc xe gắn máy. Vẫn quần quật giật gấu vá vai lam lũ. Vẫn chân đất với bùn lầy nước lỗ chân trâu. Ngày kiếm được việc làm trị giá 50 xu Mỹ là mừng rồi.

Ong chú đã sớm ra người thiên cổ, vì những riếc móc theo địch, hại nước hại dân, tịch thu tài sản. Bà thím già nua, kèm nhèm quệt nước mắt với bầy cháu nội ngoại thò lò mũi xanh thì : “Giá mà ngày đó chú thím và các em theo chân bố cháu!” Cô em gái lao động Đông Au dành được chút tiền mở sạp hàng xén cho  qua ngày. Mấy đứa cháu chưa bao giờ biết mặt thì “chúng cháu theo giải phóng vào kiếm các chú thì các chú đã ra đi, không đợi chúng cháu đi với”. Báo chí trong nước phản ảnh đầy rẫy những than phiền  của dân chúng cũng như tuyên bố của viên chức chính quyền các cấp về  tham nhũng, cửa quyền, bất công, thất nghiệp, tệ đoan xã hội, giáo dục tụt hậu. Đã có những chương trình, đề nghị, nhưng áp dụng, thực hiện thì như cứ nửa vời, cầm chừng, trồi sụt như  thấy tháng của bà nạ dòng sắp vào tuổi mãn kinh. Khoảng cách giầu nghèo từ nông thôn tới thành thị sao mà quá chênh lệch. Một bữa “chiêu đãi” cá sông Việt Trì bẩy món với rượu ngoại của người giầu quyền thế  tốn công quỹ cơ quan cả dăm bẩy trăm  Mỹ kim như không.  Trong khi đó thì ngân sách quốc gia dành cho y tế chỉ có năm mỹ kim mỗi năm cho một đầu người. Tư bản Mỹ thực phí phạm, bỏ ra những 2000 tiền đô xanh.

Về cộng đồng tỵ nạn thì tích cực cũng nhiều  nhưng tiêu cực cũng không phải là ít.  Trong gần ba mươi năm, hơn một triệu người Việt đã hình thành một khối thiểu số có những sắc thái đặc biệt vừa làm phong phú và vừa thay đổi một phần nào cấu trúc căn bản của Hiệp Chủng Quốc Mỹ.  Họ đi từ số không, không có một nền tảng có sẵn như người Trung Hoa hoặc di dân từ các quốc gia Âu Châu tới Mỹ từ cả trăm năm trước. Ho vật lộn với nhiều khó khăn để sinh tồn, để thích nghi với nếp sống mới và để tạo dựng một tương lai vững chắc cho thế hệ con cháu. Họ âm thầm làm việc, chịu đựng mọi thử thách, kỳ thị trong những năm đầu. Nếu đa số dân chúng Mỹ không muốn quay lưng trước hoàn cảnh tuyệt vọng của con dân một quốc gia đồng minh với họ trước đây, thì cũng có một thiểu số lạnh nhạt với lớp di dân này. Khi mới tới, họ được phân tán khắp 50 tiểu bang để sự cứu giúp được dễ dàng cũng như tránh sự tụ nhập quá đông người Việt ở một địa phương. Nhưng rồi dần dà, sau khi đã có lông có cánh, họ cũng tìm về với nhau, trong những tụ điểm thích hợp để tương trợ, dìu nhau mà đi lên. Dù sao thì “một giọt máu đào cũng hơn ao nước lã”. Và “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”.   Với bản tính nhẫn nhục, cần cù, thực tế, dễ thích nghi, có nhiều sáng kiến nhỏ, họ đã tham gia vào nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống Mỹ quốc. Họ đã tạo dựng nên những cơ sở kinh tế, thương mại vững chắc, củng cố và phổ biến văn hóa Việt Nam vào nền đa văn hóa địa phương.

Các thế hệ Việt Nam thứ hai, thứ ba đã mau lẹ tiến tới để thu nhập tinh hoa kiến thức qua nền giáo dục đa diện của nước Mỹ. Họ đã có nhiều đóng góp khoa học, kỹ thuật đáng khen ngợi cũng như cung hiến cho nền hành chánh tiểu bang và liên bang nhiều chuyên gia có khả năng điều hành, lãnh đạo. Sự thành công của thế hệ này đã tạo ra nhiều ngạc nhiên cho con dân bản xứ.  Càng ngạc nhiên hơn khi ta nhìn lại khả năng của nhóm di dân mới. Tới Mỹ không sửa soạn với hai bàn tay trắng. Họ tức tưởi, đánh tháo rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn trong vội vàng, hoảng sợ, không kịp suy nghĩ, nói chi đến sửa soạn. Họ không biết là sẽ đi đâu, không biết tương lai sẽ ra sao. Họ vào nước Mỹ đa số không nói được tiếng Anh, không có một Mỹ kim trong túi. Họ đến từ một văn hóa với nhiều khép kín, ràng buộc vào một nếp sống phóng khoáng, tự do. Họ lạc vào rừng người có cái nhìn khác biệt về chủng tộc, giống tính. Họ chóng mặt trước sự tiến bộ, phồn thịnh của một quốc gia mới chỉ có hơn hai trăm năm lập quốc. Ấy vậy mà họ đã vươn lên, thành công tạo dựng một thế đứng vững chắc trong một quốc gia nhiều chủng tộc.

Nhưng tiêu cực thì cũng nên kể ra, để rút kinh nghiệm.  Theo nhiều người, cũng còn một số điều tưởng như cần làm, cần thay đổi, thích nghi. Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng, nếu cộng đồng vững mạnh thì bạn cũng lắng nghe mà đối phương cũng nể vì; và rằng sống trên đất nước  mà quyền tự do, dân chủ được tôn trọng tối đa, chẳng nhẽ lại cứ mãi mãi “ Con đường của ta là duy nhất đúng”. Chúng ta cùng có mục tiêu là tranh đấu để có tự do, dân chủ cho đồng bào ở Việt Nam cơ mà.

Trong một bài bình luận, ký giả kỳ cựu Phạm Trần  đã có ý kiến “ Nhưng trong thời đại bây giờ, chiến thắng cũng có thể đạt được không phải bằng quân sự mà bằng kinh tế, ngoại giao và thông tin nên mặt trận này đòi hỏi người Việt tị nạn phải thay đổi suy tư trong công cuộc đấu tranh với chính quyền Hà Nội... Và sau cùng mỗi cử tri người Việt cũng nên tự hỏi mình: Trong ngót 30 năm qua sống ở nước ngoài, tôi đã làm được gì cho đồng bào tôi, hay tôi chỉ biết co ro ngồi một chỗ để hy vọng viển vông và sợ sệt mông lung”.

Ngoài ra, mặc dù đã sống trên đất Mỹ gần ba mươi năm, nhưng một số không nhỏ  đồng hương ta vẫn chưa hoàn toàn hội nhập vào dòng chính; chưa tận dụng  các quyền lợi mà người công dân Hoa Kỳ được hưởng cũng như  chu toàn các bổn phận khi vào quốc tịch. Do đó  nhiều người chịu thiệt thòi cũng như chưa đóng góp đúng mức. Một trong những lý do là trở ngại ngôn ngữ, lơ là bổn phận và thiếu hướng dẫn. Ngoài ra, người mình vốn khiêm nhường, chịu đựng, chín bỏ làm mười, nên không có những ra mặt đòi hỏi quyền lợi như  công dân Mỹ.

...Hầu hết những người theo bố mẹ làm Bắc Kỳ di cư  rồi cùng với đồng hương Miền Nam đứng mũi chịu sào đưa gia đình đi tỵ nạn chính trị ở ngoại quốc đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời. Hôm nay ngồi lại với nhau, ôn lại ngày lẽo đẽo lên tầu há mồm  vô Nam dọc theo bờ  biển chữ S, rồi bồng bế con cái di tản bằng phương tiện tiến bộ hơn, mà thấy nao nao, ướt mắt.

Tương lai như chìm dần.. Thôi đành trông cậy ở thế hệ đến sau, trong và ngoài nước, nhìn rõ thực tại, nhiệt huyết hơn thẳng thắn hơn, công bằng hơn. Để xây dựng một cộng đồng uy tín, một quê hương có tự do, dân chủ cụ thể, thực tế chứ không chỉ trên giấy tờ, văn bản. Dù là tương đối. Vì có còn hơn không.

CVA Nguyễn Ý Đức, Texas - 2004

(Hiệu đính lại ngày 3/3/2005 để gởi đăng vào Đặc san CVA)

* * *

 

Tôi và thác Niagara

 

Phan Chừng Thanh (CVA 1946)

 

Tôi bé nhỏ trước Niagara hùng vĩ

Như thuở hồng hoang hạt bụi sinh ra

Một hạt bụi nằm sâu đáy nước

Soi tỏ bầu trời mây trắng bay qua

Tôi muốn nhìn thiên niên kỷ mới

Bằng con mắt xanh của cánh rừng xanh

Bằng những bình minh có nhiều ánh lửa

Bằng một tư duy sâu sắc trong lành

Hỡi thác cao hàng ngàn thước nước

Đã làm mòn bao tảng đá vô tri

Đã khoét sâu thời gian hàng thế kỷ

Đã tạc vào không gian bao ký ức thấu kỳ

Nhưng tôi hạt bụi vẫn nằm sâu đáy nước

Vẫn ngạo nghễ nhìn thác đổ trên cao

Vẫn thấy gió quăng mình qua bọt sóng

Cả trời đất trong tầm mắt xôn xao

Tôi nhỏ bé và chỉ là hạt bụi

Nhưng là người nên tôi mạnh biết bao!

CVA Phan Chừng Thanh

* * *

 

Hà Nội

CVA Phan Phi Liêu (CVA 1966)

 

Trên hữu ngạn sông Hồng-Hà về miền đồng bằng Bắc Việt, một đô thị được xây dựng từ bao thế kỷ, trên một khoảng đất chạy dài theo ven sông. Đô thị đó có nhiều lâu đài tráng lệ xen với những miếu tạ cổ kính rải rác khắp mọi nơi.

Một cầu sắt vĩ đại bắc qua sông, có chừng hơn trăm năm nay, đánh dấu sự thay đổi đột ngột của một giai đoạn lịch-sử cũng không xa ta là mấy. Những lâu đài  kiến trúc Tây-Âu, nhà Bác-cổ, nhà thư viện, trường Đại-học, các công thự, về mặt mỹ thuật đã tô điểm thêm đô thị này cùng với  những danh lam sẵn có.

So với các tỉnh khác trong nước, Hà-Nội, vì chính đấy là Hà Nội, đã có rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng. Cảnh bát ngát thì như Tây-Hồ, Trúc-Bạch, cảnh nên thơ thì như Hoàn-Kiếm, Ngọc-Sơn, cảnh cổ kính thì như Văn-Miếu, chùa Một-Cột, Trấn-Ba-Đình. Mỗi một nơi đẹp một khác, mỗi một chỗ là di tích lịch sử của từng thời đại một. Hà-Nội cao quý với những văn-nghệ sĩ phụng sự nhân sinh. Hà-Nội lịch sự qua những thuần-phong mỹ tục. Hà-Nội niềm nở nhũn nhặn qua những sự tiếp đón mời chào. Hà-Nội ăn chơi qua những xóm yên hoa, những nơi cao lâu tửu quán. Hà-Nội lầm than qua những cửa ô bùn đọng, thôi thì trăm hình nghìn vẻ, vẻ nào cũng đăc biệt, thực quả xứng đáng với danh từ “nghìn năm văn vật”.

Ngược dòng thời gian, ta thấy một Hà-Nội mới lạ: đèn điện, nước máy, cinema, xe hỏa v…v… Trên các ngả đường bàn cờ, tấp nập nào hàng hóa, nào xe cộ, nào người qua lại vì công việc hay ăn chơi, các “quan” ở các tỉnh nhỏ về chơi “xin bổ, xin thăng hoặc xin đổi”. Bài “Hà-Nội hành” dưới đây của Nông-sơn Nguyễn Can-Mộng như vẽ ra một bức tranh hoạt động đủ các màu sắc thời đó.

        Nùng Nhị từ xưa mở đất cõi,

        Nghìn năm vượng khí nơi đô hội.

        Nếp đất phồn hoa trải mấy triều,

        Phố xá rộng dài ở chật chội. 

        Nhà ngói bát úp đường bàn cờ,

        Đèn điện sao sa nước máy giội.

        Người đủ hạng ngươì trò đủ trò.

        Phong-lưu thanh-lịch cũng có lối.

        Trừ ra giai mấy cậu phu xe.

        Là không bộ cánh, áo rách rưới:

        Trừ ra gái mấy chị hàng than.

        Là không son phấn mặt đen đủi.

        Dù đâu mất mùa kém bao nhiêu.

        Ở đất ăn chơi chẳng biết đói;

        Dù người như đất hiền bao nhiêu,

        Ở lâu tập nhiễm rồi cũng sỏi.

        Người khôn của khó lúc đua chen,

        Đủ ngón ăn chơi âu mới giỏi.

        Xem trong băm sáu phố phường này,

        Kẻ đi người lại ai cũng vội.

        Các quan các tỉnh thường về chơi.

        Xin bổ xin thăng hoặc xin đổi.

        Công tư to nhỏ biết bao trường,

        Thầy thầy trò trò rộn hai buổi.

        Kẻ đi làm việc người làm công,

        Mỗi  người một nghề chẳng ai rỗi.

        Trước ga xe hỏa, trên bến tầu,

        Hàng hóa lên xuống phu bối rối.

        Đồng-Xuân chợ họp đông cả ngày,

        Hàng Giấy khách chơi vui về tối.

        Cà-phê chả cá hiệu cao lâu,

        Chớp ảnh, tuồng tầu, rạp hát bội.

        Trên cao trông xuống bọn người đi,

        Thật là chen chúc trong đám bụi.

        Nếu không danh lợi dắt tay vào.

        Suy ra cho rộng cuộc doanh hoàn,

        Đại để cũng như thành Hà-Nội.

Xa hơn một chút nữa là hình ảnh một Hà-Nội cũ khá sầm uất với 36 phố phường và 5 cửa ô. Những phố phường lớn hãy còn, chỉ một số ít gọi khác đi. Còn 5 cửa ô là ô Quan-trưởng ở phía đông, ô Chợ Rừa ở phía tây, ô Cầu Rền ô Đông Mác ở phía nam và ô Cầu Giấy ở phía Bắc thì nay chỉ còn vết tích của ô Quan-trưởng là một cái cổng xây ở phố Mới trông ra phía sông Hồng-Hà.

Những câu ca-dao dưới đây cho ta biết sự sầm-uất của Hà-Nội vào thời kỳ ấy như thế nào:

            Rủ nhau chơi khắp Long-thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.

Hàng Bồ hàng Bạc hàng Gai,

Hàng Buồm hàng Thiếc hàng Hài hàng Khay.

Mã-Vĩ hàng Điếu hàng Giày,

Hàng Lờ hàng Cót hàng Mây hàng Đàn.

Phố Mới Phúc-kiến hàng Ngang,

Hàng Mã hàng Mắm hàng Than hàng Đồng.

Hàng Muối hàng Nón cầu Đông

Hàng Hòm hàng Đậu hàng Bông hàng Bè,

Hàng Thùng hàng Bát hàng Tre,

Hàng Vôi hàng Giấy hàng The hàng Gà,

Quanh đi đến phố hàng Da.

Trải xem phường phố thật là cũng xinh.

Phồn hoa thứ nhất Long-thành.

Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.

Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

Bút-hoa xin chép nền thơ lưu truyền.

  Hà-Nội lại còn là một sân khấu trên đó tuế nguyệt đã đem diễn những tấn tuồng luôn luôn thay đổi. Hưng vong, suy, thịnh là những màn chính của tấn tuồng. Nên qua những đổi thay, qua những cảnh tang thương của thời cuộc, Hà-Nội đã súc cảm rất mạnh đến tấm lòng hoài cổ mến tiếc bâng khuâng, gợi nên những vần thơ đầy nhạc điệu não nuột như những tiếng đàn trầm bổng bật dưới móng tay nhà đại nhạc-sĩ chán chường:

            Tạo hóa gây chi cuộc hí-trường,

            Đến nay thấm thoát mấy tinh-sương.

            Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

            Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

            Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

            Nước còn chau mặt với tang thương.

            Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,

            Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Bài “Thăng-Long thành hoài cổ” nói trên của bà huyện Thanh-Quan “rằng hay thì thực là hay” nhưng có người cho là chỉ hay về nhạc điệu, hay về mối cảm tình mà tác giả đã phổ ra lời thơ, chứ không đánh dấu được thời đại nào, cũng như không chỉ rõ được nơi nào rành mạch. Nghĩa là bài đó không sát đề lắm vì bất cứ với cảnh nào có sơn thủy, lâu đài, ở bất cứ thời gian nào, hiện tại, quá khứ, vị lai, bài đó đều có thể đem ra áp dụng một cách rất thích hợp. Đến như bài “Thăng-Long thành hoài cổ” dưới đây của Từ-Diễn-Đồng thì thật là tài tình, đóng khung vào một thời gian và không gian nhất định, không thể lẫn với bất cứ một cảnh nào khác được:

            Đồn rằng thuở trước đóng đô đây,

            Trải mấy triều vua mới đến nay.

            Năm cửa chỉ còn chòi cửa Bắc,

            Cột cờ sao có lá cờ Tây?

            Lầu bia nhà Lý xây còn đó,

            Hồ kiếm vua Lê vứt chỗ này.

            Kẻ khá đi đâu mà vắng cả,

            Xe rồng chẳng thấy, thấy xe tay.

Đối với Ngô-Bằng-Giực trong bài “Vịnh Thăng-Long” thì Hà-Nội là một nơi đã trải lắm phen thịnh trị cùng có những cuộc xung sát đáng ghi:

            Thăng-long nào có phụ chi tên,

            Thịnh trị từ xưa đã lắm phen.

            Trần Lý hai đời đô đứng giữa,

            Việt Ngô mấy độ trận dàn bên.

            Nước non vẫn nhớ nơi Hoàn-kiếm,

            Phố xá còn ghi chốn đúc tiền.

            Cảnh đấy người đây lòng thắc mắc,

            Giao tình ai lạ với ai quen.

Trong những cuộc xung sát nói trên, đời nọ qua đời kia, chúng ta nhiều phen chiến thắng quân thù cũng như lắm khi chúng ta bị cảnh ngộ ngược lại.

Hồ Tây đua sức vẫy vùng,

Nữ-nhi chống với anh hùng được sao?

Mấy câu trên trong Đại-Nam quốc sử diễn ca là những điều công nhận sự chiến bại của Trưng-Vương trước Mã-Viện cũng như những vết lõm ở cổng thành cửa Bắc hiện giờ là di tích sự thất thủ thành Hà-Nội ngày 25-4-1882 do Hoàng-Diệu chống giữ. Nhưng dù trường  hợp nào, tinh thần bất khuất của dân tộc cũng được bộc lộ ở những vị tiêu biểu, nên Trưng-Vương thua mà được ca ngợi trong sử sách, Hoàng-Diệu mất thành mà được lưu danh với non sông, ghi lại  trong bài “Chính-khí ca” của Nguyễn-văn Giai tức Ba-Giai:

Một cơn gió thảm mưa sầu,

Nấu nung gan sắt dãi dầu long son.

Chữ trung còn chút con con,

Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây,

Trời cao biển rộng đất dầy.

Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi,

Thương thay gặp buổi truân nguy,

Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung.

Rủ nhau tiền góp của chung,

Đem người lên táng ở trong học đường

Đau đớn nhẽ ngẩn ngơ đường,

Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa…

 

Nhưng Hà-Nội cũng có những chiến công kỳ lạ khi quân Tây-Sơn đánh đuổi quân Tôn-Sĩ-Nghị qua cầu phao, khi vua Quang-Trung phá tan 20 vạn quân Thanh ở Đống-đa để Sầm-Nghi-Đống phải đền tội bằng sợi dây lưng. Và đống xương vô-định kia đã là di-tích cho ta tin tưởng vào chí quật cường cùng lòng dũng cảm của dân tộc để giữ gìn bờ cõi. Cho nên những khối óc xâm lăng dù có đạt được mục đích nhất thời, sớm muộn cũng phải khuất phục trước chính-nghĩa theo như ý Á-Nam Trần-Tuấn-Khải trong bài “Chiều thăm Đống-Đa”:

Ngàn tây úa bóng hoàng hôn,

Sè sè một ngọn núi con bên đường.

Đìu hiu gió giục hơi sương,

Phải đây là bãi chiến-trường ngày xưa ?

Hỏi ai gây cuộc ganh đua,

Đống xương vô chủ còn trơ đến rày.

Hồn thiêng dù có đâu đây,

Biết ra khi cũng đắng cay vị đời.

Tim gan ai cũng kiếp người,

Trong khuôn sinh hóa thợ giời đúc chung.

Hay chi tranh lợi tranh công,

Đem thân an lạc vào vòng bi ai.

Ham chi chung đỉnh của đời,

Đầy thân đất khách quê người bơ vơ.

Cổ kim rối một cuộc cờ,

Mong gì thoát khỏi huyền cơ mà hòng?

Giống nòi riêng một non sông,

Vật ai nấy chủ tranh hùng mà chi.

Dẫu cho thỏa chí nhất thì,

Chiêm bao tỉnh giấc chắc gì hơn ai.

Chẳng qua xương máu tả tơi,

Đổi nơi sinh thú làm nơi sầu thành.

Từ nay nhắn khách tung hoành

Nhân gian cái dữ cái lành theo nhau.

Hay chi ham muốn không đâu,

Kìa trông nắm đất quân Tầu còn gương.

Non sầu trải mấy tang thương,

Nghìn thu để khách qua đường xót gan.

Ví chăng giữ phận an nhàn,

Thì chi đến nỗi xương ngàn máu sông?

Cuộc đời không sắc, sắc không,

Ai ơi kìa máy huyền công chuyển vần.

Đọc những đoạn trên, người ta thấy Hà-Nội có nhiều tên khác nhau là vì trải qua bao cuộc phế hưng Hà-Nội đã nhiều lần thay tên đổi chủ. Lần giở những trang sử ta thấy: Hà-Nội hồi Bắc-thuộc gọi là Long-Biên tức là lỵ-sở Giao-Châu bấy giờ. Năm 791 thứ-sử Tầu là Triệu-Xương đặt lại tên là Đại-La Thành. Cao-Biền tu sửa lại thành ấy năm 867 và làm rộng ra, chu vi đo được 8.000 bộ, dài hơn 1.982 trượng, cao 2 trượng 6 tấc. Một con đường dài 2.125 trượng, rộng 2 trượng rưỡi bao bọc lấy thành. Đến nay những vết tích cũ của thành Đại-La cũng như vị trí, chu vi thành ấy người ta không biết đích xác ở quãng nào mà chỉ đoán phỏng mà thôi. Nguyễn-Can-Mộng trong bài “Đại-La Phỏng Cổ” cũng có những nhận xét ấy:

            Bia Đức-đường xưa mảnh đá chìm,

            Thành La xuyên tạc biết đâu tìm?

            Gốc cây đục rỗng tia hang chuột,

            Khóm cỏ tha tàn rác tổ chim.

            Trải mấy nghìn năm trong cuộc biến,

            Đứt ra từng đoạn giữa đồng chiêm.

            Sự đời nào chắc chi là vững,

            Nước mắt ai thừa khóc cổ kim.

 

Năm 980 Hà-Nội là quận Giao-Chỉ. Bắt đầu năm 1010, vua Lý-Thái-Tổ đóng đô trong vùng thành Đại-La trước và đổi tên là Thăng-Long thành. Một bức tường chu-vi dài khoảng 4.700 mét xây quanh thành. Trong thành có đắp ụ cao như Nùng-Sơn, Tam-Sơn ở phía bắc, Khán-Sơn ở phía tây và Thái-Hòa ở phía đông.

Đời Trần đóng đô ở Thăng-Long và có hồi bị quân Nguyên chiếm đóng mất 5 tháng sau mới chiếm lại được thành.

 Năm 1467, Thăng-Long đổi tên ra là Đông Đô để đối lập với Tây-Đô là kinh đô nhà Hồ ở Thanh-Hóa. Liền thời kỳ này quân Minh sang chiếm đóng nước ta cho đến khi Lê-Lợi đánh đuổi được giặc, đóng đô ở đó và đổi tên là Đông-Kinh.

Đến đời nhà Mạc, Đông-Kinh lại đổi ra là Đông-Đô. Đời vua Quang-Trung Hà-Nội gọi là Bắc-Thành và đời vua Gia-Long, kinh đô ở Phú-Xuân, thì Hà-Nội là Bắc-Thành tổng trấn. Sau khi đắp lại thành theo kiểu Tây, Hà-Nội lại gọi là Thăng-Long.

Cho mãi đến năm 1831, Thăng-Long mới đổi ra là tỉnh lỵ Hà-Nội và tên này còn giữ đến bây giờ. Ngày 1-10-1888 có chỉ dụ nhường Hà-Nội cho Pháp làm thuộc địa và nay thì Hà-Nội là Thủ-đô của Việt-Nam

Xem như vậy thì Hà-Nội đã  trải bao phen nghiêng ngửa, bao lúc đổi chủ thay tên. Rõi theo sử liệu, ta vui mừng hớn hở khi Hà-Nội được rực rỡ huy hoàng, ta lo buồn hồi hộp khi Hà-Nội qua những thời đen tối. Ta ấp ủ một tấm lòng chân thành với Hà-Nội, coi đó là nơi hun đúc các tinh hoa và là chốn tiêu biểu cho những gì đáng quý nhất của đất nước.

Ai có xa cách Hà-Nội lâu mới thấy tình đằm thắm với Hà-Nội đến bực nào. Trong mấy năm ly gián vì khói lửa, người ta thao thức nhớ Hà-Nội như những kẻ chung tình nhớ nhau. Người ta lo âu cho Hà-Nội như những người con chí hiếu lo cho cha mẹ già bị cách biệt mà không có chỗ nương tựa. Người ta bồi hồi phấp phỏng, không biết sông làm sao, núi làm sao, nước hồ Hoàn Kiếm làm sao, có bị khuấy đục hay không?

Chẳng biết Hà-Nội có mãnh lực gì mà giàng buộc người Việt-Nam ta đến thế nếu không phải là do một lòng yêu nước thiết tha, sức quyến rũ của những thắng cảnh Hà-Nội, của những thú thanh tao Hà-Nội, của  những con người Hà-Nội. Cho nên ai đã qua Hà-Nội, ai đã đi sâu vào cuộc đời Hà-Nội không thể không mến yêu Hà-Nội, không nhớ nhung Hà-Nội một khi xa cách. Tâm trạng ấy người ta thấy diễn tả một phần nào trong bài “Thăng-Long Thành” của Đại-An-Am tức Đông-Hồ Lâm Tấn Phác (trích đoạn đầu và đoạn cuối):

          Bão táp tơi bời trời cố quốc,

          Gió mưa ủ rũ đất danh đô.

          Tiêu điều cỏ lấp hoa Long đỗ,

          Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm hồ.

          Bút tháp viết trời xanh chữ hận,

          Nghiễn đài tràn mực đậm mầu thu.

          Cầu Thê-húc thẹn son xưa nhạt,

          Đình Trần-ba khoe phấn mới tô.

          Tháp đảo chơ vơ rùa nhớ kiếm,

          Tượng vườn chót vót đá mong vua.

          ………………………………..

          …………………………………

          Nghìn năm văn vật nghìn hoa lệ,

          Nùng Nhị từ xưa những hẹn hò.

          Cho kẻ qua rồi càng quyến luyến,

          Cho người chưa đến cứ mong chờ.

          Ai quen thuộc nghĩ không ly cách,

          Ai lạ lùng không nghĩ hững hờ.

          Phúc-xá bãi phơi niềm ý biệt,

          Long-Biên  cầu nối đoạn tình đưa.

          Gia-Lâm mấy đoạn đình trường, đoản,

          Ngọn cỏ dầm sương nặng khứ lưu.

          Hoa cúc để gầy thu đất Bắc,

          Tháng ngày vương một mối tương tư.

                             

Viết theo “Thắng Cảnh Việt Nam qua thi ca” của Phan Phong Linh.

 

RA ĐI

Ra đi nhớ độ thu sang,

Hơi sương chớm lạnh, lá vàng vèo bay.

Quán đời nếm vị chua cay,

Say trong tỉnh, tỉnh trong say não nề.

Vơi trông khuất nẻo đường về,

Đinh ninh há một lời thề xuông ư?

Vật vờ giấc mộng Trang-Chu.

Uổng tàn một kiếp phù du sao đành.

Đường gươm những muốn tung hoành,

Hoa mai dưới bóng trăng thanh, tơi bời.

Hãy khoan ngưng lại tiếng cười,

Cuộc cờ chưa chắc ai người được thua.

 

Phan Phi Liêu

(CVA 1966)

* * *

 

 

Rừng Thu Thay Lá …

CVA Nguyễn Đình Phương (Toronto, Canada)

 

Hôm nay là ngày Lễ Tạ Ơn của Ca-Na-Đa và cũng là ngày nghỉ chính thức cuối cùng trong năm trước lễ Giáng Sinh. Nhân dịp anh Vinh, một người bạn thân hồi trung học của tôi vừa từ Việt Nam sang thăm thân nhân và bạn bè ở Toronto, tôi đã đưa anh đi ngắm lá vàng ở công viên High Park ở khu vực phía tây của thành phố. High Park rộng vào khoảng 40 mẩu Anh, có rất nhiều cây cổ thụ lớn và quý, lại nằm trong một khu vực rất yên tĩnh chỉ cách trung tâm thành phố chừng hơn mười phút xe hơi nên vào nhửng ngày cuồi tuần và ngày lễ thường có đông du khách và những người yêu thiên nhiên đến ngoạn cảnh. Chúng tôi đem theo mấy ổ bánh mì thịt và một vài chai nước suối để ăn trưa rồi lững thững đi bộ đến trạm xe điện ngầm ở phía bên kia đường để đáp chuyến xe điện ngầm đến công viên High Park. Chúng tôi đến đó lúc mười giờ sáng và hôm nay tuy trời trở lạnh cũng đã có khá đông người đến thăm công viên. Vì công viên quá rộng không thể đi thăm hết trong một ngày, tôi chỉ có thể đưa  anh Vinh đi thăm cái vườn thú nhỏ ở phía đông bắc rồi khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau đó chúng tôi đi bộ về phía nam tìm một chỗ nghỉ chân để ngồi ngắm lá vàng rơi. Anh Vinh tỏ ý ngạc nhiên khi thấy khung cảnh nơi đây rất êm đềm tĩnh mịch, thật khác hẳn với không khí ồn ào náo nhiệt của khu trung tâm thành phố. Chúng tôi đang rảo bước thì chợt nghe có tiếng gọi từ phía sau. Tôi ngoảnh cổ nhìn lại thì nhận thấy John, một đồng nghiệp dậy cùng trường với tôi, đang cùng cô bạn gái lững thững đi bộ ở phía sau. John cho biết là anh và cô bạn cũng đến công viên High Park để ngắm lá vàng như chúng tôi. Tôi có cho anh Vinh biết là người Ca-Na-Đa rất yêu thích mùa thu và hằng năm cứ vào khoảng trung tuần tháng tám, nhiều gia đình thường dành ra riêng một ngày thứ bẩy hoặc chủ nhật để đi ngắm lá vàng ở vùng ngoại ô hoặc ở các công viên lớn trong thành phố. Nhận thấy ở phía trước có một ghế đá lớn nằm ở một địa điểm khuất gió dưới một cây sồi lớn, chúng tôi quyết định ngồi nghỉ ngay tại đó. Từ băng ghế của chúng tôi, chúng tôi có thể nhìn thấy rất rõ những hàng cây phong lớn ở phiá tây trước mặt. Cảnh sắc mà những cây phong này đem lại thật tuyệt vời vì toàn bộ lá của chúng đã chuyển sang mầu đỏ, mầu đỏ tím, mầu da cam hoặc mầu vàng và nổi bật trên nền trời. Cứ mỗi khi có một trận gió lớn thì những chiếc lá vàng lại thi nhau lìa cành và ào ạt bay xuống phủ đầy thảm cỏ xanh ở phiá trước chúng tôi. Trong số những cây phong đó, có nhiều cây thuộc loại đặc biệt với lá chuyển mầu trên cây nhiều lần trước khi rụng xuống đầt. Nhìn chung quanh, chúng tôi nhận thấy lá vàng ở khắp mọi nơi, trên ghế đá, trên thảm cỏ xanh, trên khắp lối đi trong công viên… Trong khi đó, ở trên những cành cây cao trên đầu chúng tôi, những con chim nhỏ vẫn cất tiếng hót. Cả hai chúng tôi đều đắm đuối trước cảnh trí tuyệt vời của mùa thu Bắc Mỹ và anh Vinh cho tôi biết rằng đây là lần đầu tiên anh được ngắm lá vàng rơi. Tôi có cho anh Vinh biết rằng người Nhật rất yêu thích phong cảnh mùa thu của Ca-Na-Đa và vào thời kỳ hưng thịnh của nền kinh tế Nhật, hàng năm đã có từ nửa triệu đến một triệu du khách Nhật đến thăm đầt nước này vào mùa thu để được ngắm lá phong chuyển mầu trên cây… Và cũng vì cây phong được trồng ở khắp mọi tỉnh bang ở Ca-Na-Đa nên đầt nước này đã được mệnh danh là “xứ lá phong” và người Ca-Na-Đa đã chọn lá cây phong làm biểu tượng cho quốc kỳ của họ.  

Hình ảnh rực rỡ của mùa thu trong công viên nhắc tôi nhớ đến lần cha tôi dắt tôi đi chơi quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội vào một buổi sáng cuối thu năm 1954. Tôi còn nhớ là lúc ấy trời cũng đã trở lạnh vì tôi đã phải mặc áo len và lá trên các hàng cây chung quanh hồ cũng đã chuyển thành mầu vàng. Khung cảnh chung quanh hồ thật là yên tĩnh và tôi vừa đi vừa đưa mắt nhìn những chiếc lá vàng đang đuổi nhau trên lồi đi trong cơn gió lạnh. Tôi cũng không ngờ rằng đó là lần đi chơi hồ cuối cùng của thời thơ ấu và kỷ niệm của lần đi chơi đó đã để lại một ấn tượng rất đậm trong tâm trí tôi. Thế rồi chỉ hai tháng sau đó, gia đình tôi đã phải giã từ Hà Nội vào Nam để tìm tự do. Sống ở thủ đô miền Nam mưa nắng hai mùa, tôi không còn có dịp thưởng thức cảnh vật mùa thu nữa. Trong những năm trung học, tôi và một vài người bạn thỉnh thoảng vẫn rủ nhau đi bộ dọc theo những hàng cây cao vút trên đoạn đường Cường Để dẫn đến bến Bạch Đằng để ngắm cảnh lá rụng trên đường như cố tìm lại hình ảnh của mùa thu Hà Nội thưở nào. Rồi năm 1968, trong dịp ra thăm cố đô Huế, tôi đã được thưởng ngoạn phong cảnh mùa thu ở đất thần kinh với gió heo may và lá vàng nhẹ rơi ngay trên bờ sông Hương. Đến năm 1978, nhân dịp lên Pleiku để thăm một người bạn, tôi lại có dịp ngồi ngắm lá nhẹ rơi bên đường từ một quán cà phê ở gần sân vận động của thành phố cao nguyên này. Nhưng chỉ từ khi sang định cư tại Ca-Na-Đa, tôi mới thực sự có rất nhiều dịp được ngắm cảnh vật mùa thu đầy mầu sắc với những cơn gió lạnh, bầu trời có đám mây bàng bạc và lá vàng rực rỡ ở khắp mọi nơi. Mỗi năm vào những sáng chủ nhật của tháng 10, tôi thường rời nhà rất sớm và đi tản bộ dọc theo những con đường nhỏ gần nhà đề ngắm nhìn những cây phong, cây sồi hoặc cây hồng miên liễu (red osier dogwood) trồng hai bên đường với lá đã chuyển từ mầu xanh sang mầu vàng, cam, đỏ, tím và nâu thật rực rỡ. Rồi vào những ngày cuối tháng 10, thật không có gì thú vị hơn là đuợc lang thang trên những con đuờng ngập lá vàng rơi …. Một vàì người bạn Ca-Na-Đa có cho tôi biết rằng chính gió và nắng là hai yếu tố đã kết hợp với nhau để tạo nên phản ứng hóa học thay mầu kỳ diệu của lá. Vì không phải là một nhà khoa học, tôi cũng không chú ý đến những lý do khiến lá cây phải thay mầu ư chuyển sắc lạ lùng như vậy mặc dù tôi được biết là cảnh đẹp tuyệt vời của mùa thu không những chỉ là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao văn nhân thi sĩ mà cũng còn thôi thúc cả các nhà khoa học cố tìm hiểu nguyên nhân tại sao.

Thời gian trôi qua rất nhanh. Mới hơn 6 giờ chiều mà trời đã bắt đầu tối. Tôi và anh Vinh cùng đi bộ đến trạm xe điện ngầm ở phía bên ngoài công viên để ra về. Anh Vinh rất vui vì đã có một kỷ niệm thật êm đềm về chuyến đi thăm Ca-Na-Đa. Anh tỏ ý mong sẽ có dịp trở lại Ca-Na-Đa một lần nữa để cùng tôi đi ngắm lá vàng mùa thu….. 

CVA Nguyễn Đình Phương (Canada)                           

Toronto, 11 tháng 10, 2004

* * *

 

Sao Chẳng Gặp Nhau

Nguyễn Vũ Văn (CVA59)

 

Sao chẳng gặp nhau được một lần

Kiệu hoa đã sẵn, thảm hồng sân

Rượu thơm trăm tuổi mừng tri kỷ

Ngỡ tối ba mươi tết đón xuân

Ta sẽ ngắm người từ viễn xứ

So xem ký ức khác gì không

Rồi ra khắc lại bia tượng cũ

Cho mới chân dung mới thật lòng

Sao chẳng gặp nhau được một lần

Hẹn xưa đã cũ mấy mùa xuân

Tin đi tin lại, người chưa vội

Nắng sớm mưa chiều vẫn lần khân

Lễ hội đã tàn, rượu đã nhạt

Cũng đành chua chát uống một thân

Tối nay trăng có tròn không nhỉ

Năm tháng phai rồi, đâu cố nhân

                       

                        Sao chẳng gặp nhau được một lần

Ầm vang một tiếng, đất kinh hoàng

Đền đài tan nát, người kêu rú

Kẻ chạy đi đâu, quỷ ríu chân

Ngàn trượng xác rơi, thây chất núi

Khói cao ngất kết tụ oan hồn

Đời người nào biết đâu thân phận

Như gió chợt qua, lũ vượt ngàn

Hôm nay thắp đuốc chờ nhau nữa

Có phải hẹn nhau thêm một lần

Ta cũng biết người đa đoan lắm

Lời hò hẹn như trót đa mang

Sao ta canh cánh trong lòng mãi

Chẳng trách người cũng chẳng trách thân

Ta xem thư cũ, tình chưa cũ

Tiếng hát ngày xưa vẫn còn ngân

           

* * *

 

 

BỐN NGƯỜI KHÁCH LẠ

 Đặng Đức Cường,  GS. Chu Văn An

 

Thiền Vi đầu nghĩ mung lung trong khi rảo bước quanh co để băng rừng lên núi. Nền trời đầy sao. Trăng đã khá tròn. Ánh trăng làm cảnh thung lũng u tịch trở thành thơ mộng.

Thiền Vi mới nhập thiền viện, nhưng lòng đầy thành tín. Anh chăm chỉ học kinh kệ, và không nề hà một công việc gì. Sáng cũng như chiều, anh bỏ khá nhiều thì giờ suy tư. Thường, Thiền Vi hay tìm những nơi yên tĩnh để suy ngẫm các nan đề trong cuộc sống. Một đêm Thiền Vi lạc đường. Anh không biết lối về thiền viện. Anh rảo bước tìm lối ra, nhưng mây đen che khuất ánh trăng.  Ánh sao nhạt mờ không đủ soi sáng lối mòn của rừng sâu. Tiếng gào thét trong đêm khuya, tiếng gió rít trên chòm cây, làm Thiền Vi lo sợ. Anh nhìn quanh tìm chỗ trú. Trên núi, mưa đã đổ rào rào. Thật ngạc nhiên, Thiền Vi thấy lều trú không xa. Anh chạy vội tới, đẩy cửa bước vào. Anh thấy bốn người ăn mặc khác thường. Dường như họ xa lạ với nhau. Để tránh mưa, trú lạnh, họ đã cùng ở trong lều. Một người áo quần rách rưới đậm mầu. Một người y phục sắc tím lộng lẫy. Người thứ ba choàng áo mầu cam. Người thứ tư mặc toàn mầu trắng. Thiền Vi ngồi ngay ở giữa.

Sau một phút yên lặng, Thiền Vi quay nhìn người áo quần đậm mầu. Khuôn mặt ông méo mó. Tay chân ông khù khì. Thấy vậy, Thiền Vi lo ngại. Nén giữ cảm xúc, anh chào hỏi: “Dạ thưa ông, ông là ai và tại sao ông tới đây ạ?”

Người khách lạ trả lời với giọng u uất: “Tôi là Đạt Thông, từ vùng trên tới. Đời tôi đã thất bại. Tôi không nuôi nổi gia đình. Tôi không thích ứng với đời. Tôi thường ác cảm với mọi người.  Tôi phạm quá nhiều tội lỗi. Tôi cướp bóc, giết người. Nay tôi gia nhập thiền môn.”

Người thứ hai không đợi hỏi, đã nói: “Tôi là thương gia ở Bàn Môn. Về vật chất, tôi rất thành công. Tôi có nhiều của cải. Nhưng thân xác tôi ốm đau. Tâm can tôi càng khổ não. Gia đình tôi lộn xộn. Thiên hạ chầu chực tôi, chỉ vì tôi giầu có. Tôi đã hành hương mọi nơi để tìm bậc chân tu. Tôi đã bố thí để Trời, Phật chứng quả. Tôi chỉ muốn tâm thần thanh thản.” Khi ông nói, mặt như cầu khẩn, van lơn.

Người thứ ba nói: “Tôi ghét mọi người. Tôi thấy mọi người đố kỵ vì tài, lợi. Tôi thấy mọi chuyện vui buồn rồi cũng qua.Tôi vào thiền viện chỉ để suy tư. Tôi bỏ thời giờ phục dịch thiền môn, học kinh kệ với sư tổ, và tự suy ngẫm cuộc đời. Đầu óc tôi không gạt bỏ được hoài nghi. Lòng dạ tôi không xóa hết đen tối. Nhưng tôi thấy ánh sáng đương soi đường cho tôi. Tôi tin tinh thần tôi đương đổi thay. Tôi tin lời sư tổ dạy. Không kể đường đi khó khăn ra sao, mục đích đã gần hay còn xa, những đổi thay sẽ đắng cay hay suông sẻ, tôi sẽ hoàn tất. Tôi chắc sẽ đạt được mục tiêu. Đời tôi không có nghĩa gì.”

Hy vọng tràn đầy lộ trong ánh mắt sáng ngời của ông.

Người thứ tư mỉm cười dịu dàng nói: “Tôi đã thấy ánh sáng. Mọi ngờ vực đã tiêu tan. Tôi hiểu được thế nào là Sắc Không. Tôi là cuộc sống dịu êm của bông hoa đương nở. Tôi là dòng suối đương tìm lối ra, qua khe đá gập ghềnh của cuộc đời. Tôi là gió mát trong thung lũng ban mai. Tôi là ánh trăng của đêm tối. Tôi là hào quang mặt trời của  ban ngày. Tôi là Tuyệt Đối. Tôi là Ngã Thể, hiện thân của Cực Lạc. Tôi đã vượt khỏi dòng sinh tử. Tôi đã hủy diệt u mê. Tôi thoát Tục Trần.”

Dụt dè trước hào quang của người thứ tư, Thiền Vi quay nhìn người thứ nhất.

Ông cười với Thiền Vi và nói: “Đừng ghét ta. Ta là quá khứ liệt bại, biến thể, chìm đắm trong u mê của anh. Ta là cái Chính Ngã mà anh bắt gặp và đã để tâm trí quay ngơ. Anh đừng bất chấp nét độc ác trên mặt ta. Anh cũng đừng hối tiếc về những hành động bội phản, và lừa lọc của ta. Đó chỉ là cuộc đời ta biết.”

Nói xong ông biến khuất như bóng hình.

Thiền Vi quay sang người khách lạ thứ hai. Ông này nói: “Đừng riễu cười những điều khoe khoang. Ta cũng là quá khứ của anh. Đó chỉ là thành công của bản ngã anh trong đời. Những thành công vật chất mà con người theo đuổi chỉ là hư không. Tuy nhiên, ta cũng đã đam mê. Ta không thể bỏ hết của cải, và để cả tâm trí vào suy tư. Biết đến bao giờ tâm trí ta mới được thanh thản?” Nói xong ông cũng biến mất.

Thiền Vi hướng mắt về người khách lạ thứ ba. Ông này nói: “Ta là hiện tại của anh. Ta đương cố gắng để hiểu thế nào là Ngã Thể. Ta đã thấy phản ánh qua hư ảo của trần thế. Ta cố bỏ dục vọng. Ta để thời giờ vào việc của thiền môn. Ta quyết tâm trong con đường suy ngẫm…”

Ông dường như hòa đồng với nhân cách của Thiền Vi.

Thiền Vi quay sang người thứ tư. Vẫn mỉm cười và dịu dàng, ông này nói: “Ta là tương lai của anh. Hào quang nơi ta vô tận. Ta là bản cách lý tưởng của Ngã Thể, nơi đó các hiện thân của anh phải trải qua. Ta là vật thể anh tìm kiếm. Ta là ánh sáng giữa vòng trầm luân của thế gian. Ta là nguồn hứng khởi và mục đích của hiện tồn.” Nói rồi, ông biến mất.

Thiền Vi thức tỉnh thấy mình đương ở Tàng Kinh Các. Trăng đã lên cao. Anh nhớ lại những lời của bốn người khách lạ. Anh thấy nét cười của người khách lạ hòa với ánh trăng tràn ngập Tàng Kinh Các. Lời nói dịu dàng như tiếng gió mát trong thung lũng. Anh thấy đã gặp bốn vị khách lạ trong giấc mơ. Anh thấy quá khứ, hiện tại và tương lai, đã hiện thành thân xác trước nhãn giới anh.

Đặng Đức Cường

GS. Chu Văn An

Nhân sinh thất thập cổ lai hi. Chúng tôi hầu như đã quá tuổi này. Khi sức đã yếu, chân đã chồn, ta thường hay nhìn ngược lại thời gian. Mệt mỏi nhiều khi thiếp đi. Thiếp rồi tỉnh hay thiếp rồi không tỉnh, mà thấy nụ cười của người khách lạ, hòa với ánh trăng tràn ngập Tàng Kinh Các thì đã là hạnh ngộ.

* * *

 

 

Lên voi, Xuống... đất ĐÂU CHỪNG

CVA Phạm-Văn-Nhuệ

 

Sau ngày “Oan nghiệt” 30 tháng Tư, năm 1975, để rồi “Nước non ngàn dậm ra đi”, gia đình chúng tôi trôi dạt tới Hoa Kỳ, đến định cư tại Tiểu bang Pennsylvania, trong một Thành phố nhỏ xíu, nhưng có tên dài nhằng: Chambersburg.

Cũng giống như trăm ngàn “tỉnh lẻ” khác của xứ Cờ Hoa, tỉnh này chẳng có gì đặc biệt ngoài những cảnh thường nhật của một thành phố cổ, cũ mèm, dựng lên từ ngày ông Kha-luân-Bố mới tìm ra nước Mỹ, cũng cảnh mùa đông tuyết phủ trắng xóa phố phường, cảnh Nhà Thờ mọc lên nhan nhản khắp chỗ mọi nơi, hình như còn nhiều hơn cả nhu cầu của thị dân sở tại, cảnh các cụ già ngồi sưởi nắng trong công viên những ngày ấm áp, cùng đàn bồ câu tíu tít trên sân, trên vai áo . . . Tỉnh này khác hơn, còn có một kho đạn khổng lồ của Quân đội Mỹ, Kho Letterkenny Army Depot, nằm cách thị xã khoảng chừng 10 dặm, dùng yểm trợ cho  một phần Quân lực Mỹ, trong nội địa cũng như tại ngoại quốc.

Tôi đã tới thành phố này nhiều lần, thực tập tại Kho đạn này nhiều khóa, trong những dịp sang Hoa kỳ tu nghiệp Quân sự trước đây. Ngày tôi tới lần này, phong cảnh thành phố cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, ngoại trừ sự thay đổi lớn và thảm hại trên hình hài của tôi: Ngày xưa mũ áo xênh xang, tôi tới kho đạn Letterkenny với lon lá nặng vai, huy chương đầy ngực, được tiếp đón long trọng như những sứ thần ngoại quốc. Lần này, ngược hẳn lại: thân tôi trong bộ đồ ngắn cũn cỡn, lại rộng thùng thình, mầu sắc lòe loẹt như một anh hề rạp xiếc, vậy mà tôi cũng đã phải bỏ ra nhiều giờ chọn lựa bộ đồ này trong các thùng đồ “Cứu trợ Xã hội” tại trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas. Nó tuy không đẹp, cũng chẳng vừa, nhưng dù sao cũng còn hơn phải mang cái áo chemise cũ nát, lại rách bươm, mặc từ Việt Nam đến với người bảo trợ.

Vợ chồng tôi cùng bầy con nhỏ nhít, từ trại tỵ nạn Fort Chaffee tới tỉnh Chambersburg này với hành trang là những thùng carton trước đây đựng cam táo nhưng đã hết, lớn nhỏ không đều, lượm từ các thùng rác sau phòng ăn trong trại, trong thùng nhét toàn quần áo “cứu trợ” phế thải rẻ tiền, dù có vứt ra đường cũng không ai thèm nhặt. Chúng tôi chẳng được ai đón, mà thực ra chúng tôi cũng không muốn bị ai nhìn thấy trong cảnh huống thảm thương này.

Trong khi chờ đợi người bảo trợ tìm việc làm thích hợp với “khả năng không chuyên môn gì cả” cho vợ chồng tôi, tìm trường học cho các con còn nhỏ, thì cả gia đình 8 mạng tỵ nạn lôi thôi lếch thếch chúng tôi, vào mỗi ngày Chủ nhật lại được “pông sô” tận tình mời đón tới tham dự các buổi lễ của một nhà thờ  Methodist gần đó. Việc đi lễ nhà thờ hàng tuần, tuy họ nói “mời tùy nghi tham dự”, nhưng phải hiểu là “không thể thiếu”, và thực ra chúng tôi cũng chẳng phiền lòng. Chúng tôi tự nghĩ dù Chúa hay Phật, hai “Đấng Cứu Thế” này cũng đều muốn mang lại cho loài người những “Cứu rỗi” cùng “Giải thoát” những khổ đau do chính mình mang đến, và cho chính chúng tôi hôm nay. 

Dù “lạy Chúa con là người ngoại Đạo”, nhưng cũng do các buổi lễ này chúng tôi biết thế nào là “Sunday school”, là “Workship”, là “Holly Bible” v..v.. mà từ trước chỉ nghe nói nhưng chưa bao giờ tham dự. Cũng nhờ Nhà Thờ, chúng tôi có thêm nhiều bạn mới tại cái thị xã nhỏ xíu này, mỗi khi gặp nhau ngoài đường hay trong chợ, chúng tôi ríu rít chào nhau như thể quen biết nhau từ xa xưa rồi vậy. Vợ chồng tôi vì lịch sự, vì “đạo pông sô” nên cố chong mắt lắng nghe, nhưng thực tình không thích, và cũng chẳng hiểu bao nhiêu, nhưng các con chúng tôi thì không “lịch sự” được như vậy, chúng đang tuổi lớn, tuổi chơi, tuổi nghịch ngợm, lại chẳng hiểu Anh Văn cùng Giáo lý, nên chỉ sau vài phút chống tai nghe những bản Thánh ca êm dịu, chúng lăn quay ra ghế, ngáy khò khò.

Để mưu sinh cho gia đình tuy đông người nhưng lại không có lấy một xu dính túi, tôi xin được một việc làm “khiêm tốn” trong một tiệm bán fast food “Kentucky Fried Chicken”, chỉ cách nhà vài dặm để lội bộ đi về cho tiện. Chữ “khiêm tốn” tôi dùng để “Mỹ từ hóa” cho một công việc lao động tôi chưa một lần nghe thấy trong đời: chiên gà.

Tiệm khá lớn, chia hai phần rõ rệt: phía trước là nơi tiếp đón khách hàng, được trang hoàng lộng lẫy, tranh ảnh đủ kiểu đủ mầu sặc sỡ dán khắp mọi nơi. Thêm vào đó là những tiện nghi văn minh tân tiến, giúp cuộc sống con người tránh được thời tiết nóng lạnh bất ưng: nào là máy lạnh chạy ro ro mát rợi suốt mùa hè, máy sưởi mở liên tục suốt mùa đông, cực kỳ ấm áp . . . Nhưng phần “đất thần tiên” này không phải là nơi “trấn nhậm” của tôi, “đơn vị đồn trú” của tôi ở phía sau cơ.

Ở phần sau này, ngược hẳn với khu bán hàng phía trước, không máy lạnh hoặc lò sưởi, không tranh ảnh, bích chương, thậm chí không có lấy một chỗ nhỏ để ngồi nghỉ trong giờ “break”, hoặc ngả cơm nắm mang theo ăn vôi bữa trưa. Thay vào đó là 15 lò gas thực lớn, lửa rừng rực suốt ngày, sức nóng gay gắt dù bên ngoài đang giữa mùa đông, tuyết phủ trắng xóa phố phường. Trên các lò gas rực lửa là những chảo mỡ lớn cả cánh tay ôm, mỡ sôi sục nóng nhiều trăm độ. Những giọt mỡ nóng chết người, dù đã cố tránh, vẫn bắn vào mặt, vào hai cánh tay trần, để lại nhiều “thương tích” nám đen, cả nửa năm sau vẫn còn thấy rõ.

Thêm vào đó lại còn nào máy cắt gà, lưỡi cưa sáng loáng và sắc lẻm còn hơn dao cạo, một con gà lớn đưa qua đứt làm đôi trong nhấp nháy, mà không hề phát ra một tiếng động nhỏ. Nhìn máy cưa gà hoạt động êm ru, rồi nhìn tới đôi cánh tay gầy guộc cùng xương xảu của mình, chỉ cần một giây vô ý đưa qua, là . . . đi đứt! Rồi đã hết đâu, các bồn rửa chén lớn như những hồ bơi, các thùng nhào bột, thùng đựng dầu mỡ nhơ nhớp lỉnh kỉnh đầy nhà. Tôi nhìn những vật dụng này mà ngao ngán, nó to lớn nặng nề, nó luôn suốt ngày phát ra những tiếng động ầm ỹ không mấy êm tai, trái với âm thanh êm dịu “nhạc thính phòng” của gian phía trước. Những vật liệu cùng máy móc dữ dằn này lại như không mấy ưa tôi, nó như cũng có máu “kỳ thị chủng tộc” cao độ như người chủ da trắng rất khinh người của nó, luôn “gầm gừ” giận dữ muốn nuốt sống tôi, thân hình tỵ nạn vỏn vẹn không hơn 40 ký, kể cả quần áo giầy mũ.

Điều hành tiệm fast food này là một mụ manager da trắng tuổi nạ dòng, lười lĩnh, dốt nát nhưng lại rất hách dịch, luôn đi trễ về sớm cùng tìm mọi cách trốn việc đi chơi. Tuy vậy, những công nhân chúng tôi lại bị mụ ghép vào “kỷ luật sắt”, chỉ cần tới trễ vài phút là bị đuổi tức thì, không cần tìm hiểu nguyên nhân. Mụ quản lý này còn có nhiêu tính xấu mà chắc chắn người chủ tiệm không ưa, mụ thường ăn cắp các vật dụng cùng thức ăn của tiệm, mang về nhà cho chồng con, rồi mỗi tuần vài lần mụ đưa chồng và các đứa con tới tiệm “ăn khỏi trả tiền”. Mỗi lần các “con trâu lăn” này tới tiệm, báo hại chúng tôi nấu các món ăn cho chúng không kịp thở. 

Bên cạnh những việc bất như ý vừa kể, may thay tiệm lại có một con nhỏ bán hàng thực đẹp, tên Kimberly. Con nhỏ này da trắng nõn nà, mắt đong đưa ướt rượt, mới khoảng trên dưới 20 mà đã có một đứa con gái nhỏ chừng 1 tuổi, không rõ bố là ai. Môt đôi lần trong những ngày nghỉ việc, Kimberly bế con tới tiệm, nó thường giậy cho đứa con xinh xắn, gọi tôi là “step-father”, dù bị tôi cự nự nhưng nó vẫn không tha.

 “Nhỏ Kim”, tôi gọi thế cho tiện, để không phải uốn lưỡi đọc cái tên Mỹ dài thượt, ngọng nghịu và khó nhớ. Vả lại nó cũng nhỏ nhắn, xinh xắn dễ nhìn, không “vai u, thịt thớt”, ú na ú nần như những mụ Mỹ khác mà tôi thường gặp. “Nhỏ Kim” đa tình “hết sẩy”, lại có vẻ “thích” tôi, nó lân la nắm tay, hích mông, cọ đùi, cùng “đá lông nheo” tới tấp. Một lần chỉ có hai đứa trong một phòng kín chứa vật liệu có khóa bên trong, nó bạo dạn nắm tay và hỏi tôi, dĩ nhiên bằng tiếng Mỹ, nhưng “diễn nôm” ra tiếng Việt, có nghĩa như:

“Anh đã có vợ hay chưa?

Mà Anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.

Mẹ già anh ở nơi nào?

Để em tìm vào hầu hạ thay anh.”

Tôi tuy dốt sinh ngữ, nhất là mấy thứ “tiếng Mỹ, tiếng Miều” của các ông bà “pông sô”, nói vào tai này, lập tức chui qua tai kia và bay đi tuốt luốt, không để lại một dư âm. Nhưng hôm nay nghe “nhỏ” này hỏi, tôi hiểu ngay là nó muốn nói gì. Thì ra tuy ngu ngốc giống loài trâu “sáng tai họ, điếc tai cầy”, nhưng nhiều lúc tôi cũng thông minh ra gì vậy, cũng hiểu những gì cần nên hiểu, ít ra với loại ngôn ngữ Quốc Tế cực kỳ dễ hiểu, mà “nhỏ Kim” đã “dùng tay thay lời” để hỏi tôi. Tôi tuy hiểu, nhưng ú ớ tìm cách nói “vòng vo Tam quốc”: Thì, Mà, Bởi, Tại v.v. . ., mà không dám xác nhận hay phủ nhận, để “nhỏ” này muốn hiểu sao cũng được.

Phần tôi, nói cho ngay, tôi cũng “thích” nó. Tôi không ngu tới cỡ bỏ phí một vưu vật “Trời cho”, khi tuổi đời mới gần 4 “bó”, tuổi sung mãn nhất của cuộc sống. Vả lại tôi tuy chạy giặc tới tỵ nạn xứ này, dù quá nửa vòng trái đất đầy gian truân cùng hiểm nguy, các đức tính có thể rơi mất ít nhiều, nhưng tính xấu “Quả nhân hữu tât” của Tề Tuyên Vương vẫn còn nguyên vẹn, không suy suyển. Nhưng dù sao tôi cũng cố “làm ra vẻ” đứng đắn, giữ đúng tư cách “Quân tử Tầu”, từ chối cái “tình cho không, biếu không” của nó. Tôi bắt chước công tử Lục Vân Tiên, bị cụ Đồ Chiểu bắt “ngôn” những câu lãng nhách, nói vậy mà không . . . nghĩ vậy:

“Khoan khoan ngồì đó chớ ra,

Nàng là phận gái, ta là phận trai”.

Tôi từ chối cảm tình của “nhỏ Kim”, một Kiều-Nguyệt-Nga người Mỹ thời nay đã dành cho tôi, chẳng phải tôi “đứng đắn” hay “chính chuyên” gì, mà chính vì tôi sợ , tôi ý thức rõ hoàn cảnh khắc nghiệt, giở sống giở chết của một người tỵ nạn cộng sản trắng tay là tôi lúc đó.

Trong nhiệm vụ thân phận “cu ly”, dù không có “văn bản” quy định rõ ràng như kiểu “hiệp định ngưng bắn Paris”, để rồi luôn luôn bị vi phạm, tôi và “nhỏ Kim” vẫn tự ý phân chia rõ rệt “quyền làm chủ tập thể” khu vực trách nhiệm của mình: Tôi không được bén mảng lên khu vực bán hàng  sang trọng và thơm tho của nó, nếu không được nó “mời”. Và dĩ nhiên dù không cấm, lại được tôi “dụ dỗ” liên tục, nó cũng không ưa gì khu vực bếp núc của tôi, vừa nóng nực lại dơ dáy, chẳng có gì hấp dẫn một con nhỏ đa tình, trẻ trung, lại ham vui là nó cả.

Một hôm, khoảng 9 giờ sáng, trong lúc tôi đang vất vả vật lộn với công việc lao động hàng ngày, để kiếm đồng lương còn dưới xa mức tối thiểu, quy định rõ ràng trong Luật lao động Hoa kỳ ngày đó. Tôi dùng máy cưa sắc như nước, cắt những con gà đã văt lông trần trụi ra từng miếng nhỏ, tẩm vào một loại bột đặc biệt và “bí truyền” của Công ty K.F.C. rồi thả vào các chảo dầu đang sôi sục, thì “nhỏ Kim” từ khu vực “bất khả hoán đổi” của nó, chạy xuống nhà bếp tìm tôi, mặt nó “khẩn trương” thấy rõ, nói thở chẳng ra hơi, nó bảo tôi: “Có hai ông Đại úy nhà binh tới kiếm “you”, họ không nói việc gì, nhưng đang chờ “you” ở  phía trước kìa, “you” lên ngay gặp họ”.

Tôi cực kỳ ngạc nhiên hỏi lại nó: “You” nói gì? nhắc lại coi, cái gì mà Đại úy nhà binh ? Hay “you” nhìn lộn cảnh sát ra nhà binh? Mà tại sao họ lại kiếm tôi?”.

Nó cong cớn nguýt tôi, ra cái điều chê tôi ngu ngốc, hỏi những câu gì lãng xẹt, nó bảo tôi: “Làm sao tôi biết được, việc “you” liên hệ với nhà binh thì mắc mớ gì tới tôi, muốn biết rõ thì “you” lên đó mà hỏi họ, biết liền hà”. Nói xong nó ưỡn ẹo đi lên “khu vực Thần tiên” với đám khách hàng đang đợi nó.

Tôi cực kỳ bối rối, vì chẳng hiểu Trời Trăng gì cả. Tôi là dân tỵ nạn chính hiệu, mang thẻ tỵ nạn I-94 với dấu ấn “Cho phép làm việc và . . . nộp các sắc thuế” còn mới toanh, nên tuy rất muốn nhưng lại chưa đủ điều kiện tối thiểu làm việc cho nhà binh, dù chỉ là những công việc rất ấm ớ và phụ thuộc, thì Đại úy nhà binh đến kiếm tôi làm gì? Tôi cũng chưa có xe cộ gì cả, cũng chưa có thì giờ đi xin cái “bằng tập lái xe”, dĩ nhiên chưa có cơ hội đụng xe. Hàng ngày tôi đi “chiên gà” bằng xe đạp mượn của ông hàng xóm Mỹ tốt bụng, hôm nào tuyết phủ đầy trời thì tôi lội bộ, dù có té lên té xuống thì cũng chẳng phạm vào quyền lợi riêng tư của bất cứ anh chị Mỹ nào, thì cảnh sát cũng chẳng phí thì giờ truy tầm tôi vì một tội danh chưa phạm. Vậy thì cái gì đây?

Cuối cùng tự nghĩ, dù sao cũng phải biểu lộ “sĩ khí nam nhi” của con dân một nước có  trên bốn ngàn năm văn hiến, đã từng hiển hách “phá Tống, bình Chiêm”, nên tôi phải lên gặp họ, những ông “Đại úy nhà binh”, mà trong lòng cực kỳ hồi hộp.

Những định rằng chỉ lên gặp qua một lần cho biết, lên báo cho mấy anh nhà binh ấm ớ vô duyên này rằng họ đã “đến lầm chỗ” và “kiếm lầm người”, nên tôi không cần rửa qua đôi tay đầy bột, cũng chẳng cần cởi bỏ cái áo choàng dơ dáy, đỏ lòm vì tiết gà, loang lổ dầu mỡ cùng với bụi than. Tôi làm ra vẻ lừng khừng, là bất cần đời, trong bộ vó chẳng giống bất cứ “con” nào, trong “mười hai con giáp”, tôi lên phần đất dành riêng cho “nhỏ Kim”, tìm gặp hai ông “Đại úy chà binh” như họ muốn.

Những người muốn kiếm tôi đúng là 2 anh Đại-úy Lục-quân Hoa-kỳ cực trẻ. Họ đều trong quân phục Tiểu lễ mùa đông: quần áo dạ xám và mũ lưỡi trai cùng màu, cặp dưới cánh tay trái. Họ kiên nhẫn chờ tôi trong điệu bộ bồn chồn sốt ruột

Vừa thấy tôi, do “nhỏ Kim” líu lo giới thiệu, họ có vẻ ngạc nhiên nhìn nhau như thầm dò hỏi, có lẽ họ không tin những gì nhìn thấy. Cả hai tới gần và một người có lẽ đại diện, ngập ngừng hỏi tôi: “Chúng tôi muốn kiếm Thiếu tá Phạm, “you” có phải là Thiếu tá Phạm không ?”

Dù chẳng biết họ muốn gì, tôi cũng trả lời lửng lơ rằng: “Tên họ của tôi là Phạm, Thiếu tá là cấp bậc tôi mang trước kia trong Quân lực Việt Nam của chúng tôi, bây giờ thì hết rồi. Hiện nay tôi là người tỵ nạn cộng sản, được người Mỹ cac ông cho tá túc tại thị xã này, không biết có phải đúng là người các ông muốn tìm?”

Vừa nghe xong câu trả lời của tôi, hai anh Đại úy đổi hẳn thái độ ngập ngừng khi trước, họ lấy vội mũ chụp lên đầu, họ chụm chân lại đánh “cốp”, dơ tay phải ngang mày, chào tôi với cử chỉ thực cung kính, đúng tác phong quân kỷ, đúng “cơ bản thao diễn”, họ nói:

- “Thưa Sir, Thiếu Tướng Braham, chỉ huy trưởng kho đạn Letterkenny Army Depot chúng tôi, cử bọn tôi mang thiệp tới mời Thiếu Tá, vui lòng tới tham dự lễ bàn giao kho đạn sang Thiếu Tướng Howard vào lúc 10 giờ  sáng ngày Thứ Sáu tuần sau. Lễ bàn giao đặt dưới quyền chủ tọa của Trung Tướng Ferguson đến từ Ngũ giác đài. Đây là thiệp mời của kho đạn chúng tôi gửi tới Thiếu Tá”.

 Rồi anh Đại úy vẫn trong tư thế “đứng nghiêm” của nhà binh, tay phải vẫn ngang mày, tay trái đưa ra trước mặt tôi một phong bì mầu trắng, tiêu đề in chữ đen tuyệt đẹp.

Tôi như từ cung trăng rơi xuống, vì dù suy đoán đã nhiều, tưởng tượng ra đủ những chuyện từ tệ hại cho tới may mắn nhất, sẽ xẩy ra trong đời sống tỵ nạn của tôi, do các ông Đại úy nhà binh này mang tới, tôi cũng không thể ngờ được trường hợp này. Tôi cũng chưa từng bao giờ nghĩ mình sẽ là một trong những diễn viên của màn Hài kịch bất đắc dĩ này. Tôi nói “Hài kịch”, vì dù bất cứ ai có đầy máu tiếu lâm trong huyết quản, có là đạo diễn tài ba cho những vở kịch hài, tôi vẫn cam đoan rằng người đạo diễn đó không thể nào xếp đặt được hoạt cảnh “cười ra nước mắt” hôm nay: cảnh hai ông Đại úy cực trẻ của một quân đội lừng lẫy Hoa kỳ, trong nhung phục tuyệt đẹp với lon lá nặng vai, huy chương đầy ngực, đứng nghiêm trang với nét mặt cực kỳ cung kính, trước một anh già người ngoại quốc, quần áo tả tơi, dơ dáy và hôi hám, là tôi lúc đó.

 “Nhỏ Kim” cũng ngạc nhiên không kém, miệng nó thường nhật vẫn tía lia, nói cười không ngưng nghỉ, nhất là khi đứng trước “đối tượng” mà nó không thể bỏ qua là các chàng thanh niên da trắng, đẹp trai. Hôm nay trước mặt nó là hai anh Đại úy cực kỳ lịch sự, thì có Trời cản được việc nó cười nói đưa duyên, vậy mà lúc này nó đứng như tượng gỗ, miệng há hốc khi nghe chúng tôi đối đáp, nó hoàn toàn “tê liệt” trước câu chuyện ly kỳ, mà chính nó cũng có phần tham dự. Từ trước tới giờ, “nhỏ Kim” dù luôn trêu chọc tôi, chỉ vì bản tính đa tình và ham vui, nhưng tôi hiểu là nó vẫn chỉ nghĩ tôi là một anh già lẩm cẩm, lại “mát giây”, thường bỏ lỡ cơ hội “ngàn năm một thuở” do nó tự ý mang đến. Nó ngạc nhiên vì không ngờ tôi “quan trọng” như vậy.

Sự ngạc nhiên của “nhỏ Kim” cũng có lý do, vì nó còn quá nhỏ nên không thể biết được sự liên hệ giữa tôi và kho đạn Letterkenny Army Depot trong quá khứ xa xưa, lúc tôi còn trong quân ngũ, đã nhiều lần tới thăm kho đạn này trong cương vị “yếu nhân”, tới để học hỏi, rút kinh nghiệm trong việc điều hành kho đạn. Những ngày vàng son đó, tôi ăn uống trong Câu lạc bộ kho đạn, đêm về ngủ hotel, di chuyển bằng military cab do kho đạn biệt phái, có tài xế là những anh quân cảnh to lớn như voi nan, nhưng cực kỳ lễ độ và lịch sự.  Tôi không thèm ăn Kentucky Fried Chicken, nên đâu biết “chiên gà” như hôm nay, lúc tôi đang từ lưng voi tụt dần xuống . . .đất.

Dù muốn hay không, tôi cũng cực kỳ phân vân trong chọn lựa, có nên đi dự lễ bàn giao giữa hai ông Tướng hay không? Nỗi phân vân này có nhiều lý do, mà chính là hoàn cảnh, là hình hài và công việc của tôi lúc này, không còn tương xứng với những gì người ta lầm tưởng. 

Mang nỗi phân vân này “vấn kế” những người bảo trợ chúng tôi, đầu tiên là ông Chauncey L. Depuy, nguyên Chánh án kiêm Quận trưởng quận hạt Franklin, nơi gia đình tôi đang cư ngụ. Sau đó tới người bạn vong niên, cựu Trung tướng Durward E. Breakefield. Khoảng cuối thập niên 1950, ông Tướng 3 sao này làm Chỉ huy trưởng phái bộ Cố Vấn Quân sự “CATO” tại Saigon trong 2 năm liên tiếp, nên hiểu biết rất nhiều về đất nước, cũng như phong tục Việt Nam. Ông Tướng này hiện đã về hưu, có nông trại rộng lớn nằm ngay ngoại ô Chambersburg. Ông tự lái máy cày, xe cắt cỏ cùng những nông cụ to lớn kềnh cang, đặc biệt ông cực kỳ bình dân trong mọi xử thế và giao thiệp, một đức tính quý hiếm, khó thấy trong xã hội Việt Nam, nơi tôi được sinh ra, lớn lên rồi tham gia vào nghiệp lính, đã quá nửa đời người. Tôi quen ông, dần dà tới chỗ thân tình, cũng do xử thế của ông.

Tưởng cũng cần nói thêm cho rõ, gia đình chúng tôi đông người, các con lại còn nhỏ nhít, nên lúc rời trại tỵ nạn đi định cư phải cần nhiều người bảo trợ. Người Mỹ có cùng một thói quen tai hại như nhau, làm việc rất chăm chỉ, lương cao dù tới bao nhiêu, nhưng “hết tháng hết tiền”, nên việc bảo lãnh cho một gia đình đông người như chúng tôi, ra ngoài khả năng tài chính của bất cứ ai, họ không tự làm nổi một mình, mà cần nhiều người giúp sức. Ngoài ra, tôi đã nhiều lần tới nơi này trước đây, bạn bè người Mỹ không hiếm, lúc này họ có cơ hội biểu lộ lòng vị tha như bất cứ ai, giúp đỡ chúng tôi khi hoạn nạn. Gia đình tôi có nhiều “pông sô” cũng vì lẽ đó.

Tôi hỏi “ông Tòa” Chauncey L. Depuy trước, sau đó tới “ông Tướng” Durward E. Breakefield, cả hai người đều có thái độ tỉnh queo, coi như họ đã biết trước việc này từ lâu rồi vậy. Cả hai “ông Bảo Trợ” đều khuyên tôi nên đi dự, họ lý luận rằng đây là dịp may hiếm có, tôi nên bắt lấy để có dịp cho những người Ngoại quốc biết rằng dù qua bao đổi thay nghiêng ngả, nước Việt Nam Cộng Hòa của tôi vẫn còn đó, vẫn có “sứ thần” đại diện.

Cũng do cả hai người cùng có thái độ và lý luận như nhau, tôi khám phá ra chính hai ông này đã dùng uy tín sẵn có, vận động với kho đạn Letterkenny gửi hai “Đại úy nhà binh” mang thiệp tới mời tôi. Nếu không vậy, không cách nào kho đạn lại biết một người tỵ nạn vô danh là tôi, đang có mặt tại thành phố Chambersburg, ngoài ra họ cũng không thể nào biết cấp bậc cuối cùng Thiếu tá của tôi, vì có tới trên cả chục năm tôi không có dịp trở lại kho đạn này thăm họ.

Nguời bảo trợ, cựu Chánh án cũng là cựu Quận trưởng Chauncey L. Depuy lái xe cùng tôi đi dự lễ bàn giao. Với tấm thiệp mời đặc biệt, chúng tôi được tiếp đón vô cùng nồng hậu, được các nàng nữ quân nhân xinh xắn đưa tới tận ghế ngồi trên khán đài danh dự, nơi dành riêng cho “quan khách ngoại giao đoàn”, cho “sĩ quan quân đội đồng minh”. Bên cạnh tôi, ông “pông sô” Depuy cũng vui lây với những gì chúng tôi đang chứng kiến.

Trong diễn văn đọc trước cả ngàn quan khách hiện diện, lúc nói về tiểu sử cùng thành tích hoạt động của kho đạn Letterkenny Army Depot, tên một vài quốc gia liên hệ, cùng một số nhân vật tiêu biểu cũng được nhắc tới như những chứng tích lịch sử liên quan. Tên tôi cùng tên nước tôi, cũng được xướng ngôn viên đọc lên trong lúc này, tên của một sĩ quan đồng minh, đã tới với kho đạn trong thời gian hoạt động nhộn nhịp nhât, thời gian chiến tranh Việt Nam. Tôi, trong bộ complet khá đẹp và sang, mới chạy đôn đáo mượn được của một người bạn Mỹ có size nhỏ như mình, đã đứng dậy nhận những tràng vỗ tay chào mừng của cả ngàn người tham dự.

Cùng tất cả các bạn thân mến của tôi, trong quân đội cũng như ngoài dân sự. Lúc rời ghế nhà trường để tham dự vào cuộc sống bon chen này, chúng ta hầu hết ngang nhau trong các cấp bậc quân sự cũng như chức vụ ngoài hành chánh. Nhưng sau nhiều năm làm “công bộc” nhân dân, rồi do các chiến công hiển hách, hoặc các cơ may, hoặc do “tài riêng” thiên phú, nhiều bạn đã có những chức vụ cao chót vót cả trong quân đội lẫn ngoài dân sự, các bạn có thể được “hoan hô nồng nhiệt” bởi số đông khán thính giả, tự nguyện hoặc bị . . . bắt buộc phải làm.

Nhưng riêng tôi thì không có những “cơ may” như vậy, tôi lẹt đẹt thua xa các bạn ở mãi phía sau. Mỗi khi được thăng cấp hay thay đổi ngạch trật, cũng chỉ vì tôi quá thâm niên, chứ chẳng do một ân huệ hoặc tài năng nào khác. Tôi chẳng bao giờ có dịp xuất hiện trước đám đông để được hoan hô, dù chỉ hạn hẹp trong số cử tọa . . . vài người, tôi và các bạn khác nhau là vậy.

Nhưng sau ngày oan khiên 30 tháng tư, năm 1975, từ cao xa thăm thẳm, chúng ta cùng bị sa xuống đất đen để lại bằng nhau, cùng điêu đứng như nhau trước sự trả thù dã man độc địa của loài thú cộng sản không nhân tính đội lốt người. Từ chỗ tận cùng này, chúng ta lại bắt đầu những cuộc sống “khác nhau”, lần này do chính tài năng của mỗi người, do phúc đức của tổ tiên dòng họ, mà không ai có thể “vận động” hoặc dựa vào một “thế lực” bên ngoài. Một số nhỏ trong chúng ta thoát ra Ngoại quốc, sống nốt quãng đời còn lại ở xứ người, một số khác lớn hơn xui xẻo, kẹt lại trong “địa ngục trần gian”, đọa đầy thân xác trong lao tù cộng sản.

Dù cư trú tại bất cứ nơi nào sau ngày oan khiên không bao giờ quên đó, đã mấy bạn trong chúng ta có cơ may, sống lại những “phút huy hoàng, rồi . . . chợt tắt”, như tôi đã gặp một lần vào năm 1975 tại kho đạn Letterkenny Army Depot, thuộc tỉnh Chambersburg, miền Pennsylvania băng giá, Hoa Kỳ.

CVA Phạm-văn-Nhuệ

* * *

 

Nén Hương Cho Mẹ

 

Cớ sao đêm vắng tôi buồn,

Vào phòng, ra bếp, luôn luôn một mình.

Đời tôi nín lặng, làm thinh,

Một mình, một bóng hy sinh cuộc đời.

Người ta nói nói, cười cười,

Riêng tôi chết lặng, chín mười phần đau.

Những ngày thơ ấu qua mau,

Năm mười ba tuổi, biết mầu khăn tang.

Mẹ đi, hoang phế mọi đàng,

Gia đình khóc mẹ bên hàng phi lao.

Mẹ đi, thân bố lao đao,

Con hay gặp mẹ, chiêm bao mộng thường.

Tôi đi tìm kiếm tình thương,

Em đi, em đến, vô thường đời ai!

Công danh, sự nghiệp còn dài,

Đâu người tri kỷ, có ai chung đường?

Tôi về thắp một nén hương,

Cho cha, cho mẹ, sầu thương tan nhoà.

                  

CVA Phan Tôn Sơn

* * *

 

Quan niệm về hai chữ: TRUNG và HIẾU

Lê Duy (CVA 55-59)


Ở cái tuổi 65 mà vẫn phải đi cầy thì còn hơi sức đâu mà bàn về TRUNG với HIẾU, TAM CƯƠNG với NGŨ THƯỜNG. Nhưng vì một hôm rảnh rang, cầm tờ báo Việt Mercury, thấy ông Luật Sư Nguyễn Hoàng Duyên nhắc lại câu: "Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu" của người xưa và đã hiểu theo nghiã đen của từng chữ như sau: "Vua xử chết, mà (bầy tôi) kháng cự là bất trung. Cha bảo chết, mà (con) còn luyến tiếc cuộc đời là bất hiếu, không xứng đáng là đại trượng phu, là nam tử hán". Ông cho rằng "Hai câu giáo điều này của Nho Giáo đã ngự trị ở Việt Nam cũng như Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước và ngày nay lại được bọn Cộng Sản Việt Nam sửa đổi một chút cho phù hợp với nhu cầu của chế độ là TRUNG với ĐẢNG, HIẾU với DÂN". Thực ra thì bọn chúng (bọn Cộng Sản Việt Nam) chỉ bắt DÂN phải TRUNG với ĐẢNG mà thôi, chứ làm gì có chuyện bọn chúng HIẾU với DÂN? Nếu bọn chúng biết HIẾU với DÂN  thì đâu có chuyện hàng triệu người phải bỏ nước ra đi để hàng vạn người đã phải bỏ xác ngoài biển cả?

Trước khi bàn về hai chữ TRUNG và HIẾU, thiết tưởng chúng ta cũng cần phải tìm hiểu rõ ràng quan niệm của Khổng Giáo về giáo dục con người.

Giáo dục con người theo quan niệm của Khổng Giáo là giáo dục toàn diện vì nếu không toàn diện, không thể nào trở thành một con người hoàn toàn để có thể xứng đáng là Đ_I TRƯỢNG PHU, là NAM TỬ HÁN. Tuy nhiên sự giáo dục này vẫn nặng về ĐỨC DỤC hơn TRÍ DỤC và THỂ DỤC vì thế mới có câu: "Tiên học L•, hậu học VĂN" và phải qua từng giai đoạn một: TU, TỀ, TRỊ và BÌNH. Có TU được THÂN mới có thể nói tới chuyện TỀ GIA. Có TỀ được GIA thì mới có thể nói tới chuyện TRỊ QU–C. Và có TRỊ được  QU–C thì mới có thể nói tới chuyện BÌNH THIÊN H_. Vì thế người xưa mới có câu: "Tự Thiên Tử, dĩ chí ư thứ dân, giai dĩ Tu Thân vi bản" (Từ Vua dến Dân, ai cũng phải lấy việc sửa mình (Tu Thân) làm gốc. Muốn TU THÂN, thì phải biết thế nào là NHÂN, NGHĨA, L•, TRÍ và TÍN và phải biết tuân giữ năm điều này. Mà trong năm điều này, thì điều NHÂN không những đứng đầu mà còn là nguồn gốc của các đức trính khác. Người đã có đức nhân, không thể bất nhân hay độc ác. Do đó một khi đã TU được THÂN, thì dĩ nhiên người ấy không những có TầI mà còn có cả ĐỨC nữa.  Như vậy, khi TỀ GIA, tức khi quản trị gia đình, khi làm cha tức làm chủ gia đình, người ấy không thể nào lại BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA, bắt con phải chết một cách vô cớ hay chỉ vì lỡ dại mà làm điều sằng bậy, mà phải tìm cách khuyên răn, dậy dỗ chứ không thể nhắm mắt, lấy quyền làm cha mà bắt con phải chết, cùng lắm là để cho luật pháp xét xử. Cũng vậy, khi một người đã ở vị trí TRỊ QU–C, người lãnh đạo quốc gia, tức người đại diện cho cả nước cũng không thể ỷ thế là VUA hay TỔNG TH–NG hay ĐẢNG (như bọn Cổng Sản chủ trương), mà bắt bầy tôi phải chết một cách oan uổng, không được xét xử công minh.

Mặc dù quan niệm Vua là Thiên Tử, nhưng theo Khổng Tử, DÂN cũng là con TRỜI, chỉ khác là VUA là con TRƯỞNG mà thôi (Phàm nhân giai vân Thiên chi tử Thiên tử vi chi thủ nhĩ). Không những thế, DÂN mới là người đáng qúy nhất (Dân vi qúy, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh). Thực vậy, không có DÂN thì làm gì có nước? Không có nước thì làm gì có vua? Bởi vậy, dù là Thiên Tử, làm gì cũng phải theo ý trời. Thuận theo ý TRỜI thì S–NG, nghịch ý TRỜI thì phải CHẾT (Thuận Thiên gỉa tồn, nghịch Thiên giả vong). Ngược lại, người làm CON cũng như người là BẦY TÔI, nếu đã TU THÂN, tức đã hiểu thế nào là NHÂN, NGHĨA, L•, TRÍ và TÍN không lẽ không hiểu thế nào là TRUNG, là HIẾU? Chẳng lẽ một người đã được giáo dục như vây mà lại hiểu TRUNG, chữ HIẾU ở đây là không được thay lòng đổi dạ, lúc nào cũng phải tuân theo một cách tuyệt đối dù ông vua ấy tốt xấu thế nào? Vua bảo chết là nhắm mắt chịu chết? Cha bảo chết là nhắm mắt tuân theo?

Hơn nữa PHỤ ở đây là PHỤ nào? Và QUÂN ở đây là QUÂN nào?  Chữ PHỤ ở đây phải hiểu là cha HIỀN chứ không phải là những người cha độc ác, những người cha không biết Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là gì. Cũng như chữ QUÂN ở đây phải hiểu là MINH QUÂN, ANH QUÂN chứ không phải là HÔN QUÂN hay B_O CHÚA. Bởi vậy chữ TRUNG, chữ HIẾU ở đây, chỉ áp dụng với những người cha hiền, những ông vua tài giỏi, đạo đức, nhân từ. Còn đối với những người cha không xứng đáng, những người cha độc ác, cũng như đối với những ông vua độc ác, tàn bạo, hoang dâm hay đối những đảng độc tài (như đảng Cộng Sản Việt Nam) chỉ làm hại dân, hại nước, cắt đất cho ngoại bang như bọn Cộng Sản Việt Nam, thì dù có cưỡng lại cũng không phải là bất trung, bất hiếu. Người con có hiếu, người bầy tôi trung có nhiệm vụ phải khuyên can hay phản đối, nếu không được thì bỏ đi, treo áo từ quan hoặc tích cực hơn, phế bỏ đi. Có như vậy mới là người con có hiếu (hiếu với gia đình), mới là  người bầy tôi trung (trung với nước).

   Thực vậy, giả thử, có người cha tàn ác, bắt mình phải chết một cách một cách phi lý, oan ức, mà mình chịu chết. Sau này người cảm thấy mình có lỗi, hồi tâm lại thì mọi sự đã muộn nên ân hận và đau khổ, như vây sự chịu chết của mình đâu phải là hiếu, mà là bất hiếu vì đã làm cho cha đau khổ. Trái lại, nếu mình bỏ đi, sau này người cha biếi lỗi  mình trở về phụng dưỡng cha. Như vậy mình mới là người con có hiếu. Đối với người bầy tôi cũng vậy. Nếu gặp phải ông vua tàn ác, bạo ngược, mà cứ chiụ nhục, chịu chết thì không những sự chết của mình chẳng có ích gì cho dân, cho nước, mà còn khuyến khích ông vua thêm tàn bạo, thì thử hỏi đến lúc đất nước nguy biến, còn đâu người tài giỏi để đứng ra lo việc triều chính, để bảo vệ giang sơn? Chính vì không hiểu rõ được thế nào là TRUNG, là HIẾU, là QUÂN, là PHỤ nên nhiếu người đã không thể giải quyết được khi  phải chọn một trong hai chữ TRUNG và HIẾU.

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy có rất nhiều bầy tôi đã hiểu chữ TRUNG, chữ QUÂN một cách tích cực như vậy mà cụ Chu Văn An, cụ Nguyễn Trãi là những điển hình. Chính Đức Khổng Tử  cũng đã từng hành xử như vậy. Chỉ có điều vì ngài chủ trương NHÂN TRỊ CHỦ NGHĨA, lại sống dưới chế quân chủ chuyên chế nên cách giải quyết của ngài để phế bỏ những ông vua tàn ác, bạo ngược không thể thuyết giảng công khai mà chỉ âm thầm nhưng vẫn không thiếu phần tích cực và dũng cảm đó là sự ra đi (treo áo từ quan) và tìm người khác xứng đáng hơn để phù trợ mà vẫn không mang tiếng là bất trung, là phản nghịch. Một khi những người tài giỏi đã bỏ ra đi hết thì chẳng sớm thì muộn, ông vua tàn ác bạo ngược kia cũng bị mất ngôi, mất nước Đọc chuyện Đức Khổng Tử bỏ nước Lỗ trong cuốn Ôn Cố Tri Tân, Tập 2 trang 657 của Mộng Bình Sơn, chúng ta thấy Ngài đã được vua nước Lỗ là Lỗ Định Công mời về và phong cho làm Tướng Quốc và ngài đã giúp cho vua nước Lỗ chỉnh đốn lại được kỷ cương trong nước khiến nước Lỗ mỗi ngày một cường thịnh. Nhưng khi ngài thấy Lỗ Định Công không còn xứng đáng là một vị vua nữa, và cũng không còn thể nào cải sửa được nữa vì đã bỏ mất điều L• nên ngài đã bỏ nước Lỗ ra đi dể sang nước Vệ rồi nước Tống để tìm minh chủ để phò trợ. Ai dám bảo Đức Khổng Tử, một người đã đề ra thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa, lấy Tam Cương Ngũ Thường làm giường cột, là bất trung? 

Tóm lại, quan niệm của Đức Khổng Tử về Trung và Hiếu cũng như Quân, Sư và Phụ, lúc nào cũng phải dựa vào NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ và TÍN. Bởi vậy, không phải lúc nào cũng "Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu". Câu này sở dĩ được luôn luôn nói tới trong thời phong kiến bởi vì thời nào cũng vậy, hôn quân, bạo chúa, gian thần, nịnh thần thì nhiều mà minh quân, anh quân, trung thần thì ít, nên bọn gian thần, nịnh thần luôn luôn nêu câu này lên để hãm hại trung thần. Ngày nay, bọn Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam tuy bề ngoài thì đả phá chế độ quân chủ, phong kiến, nhưng cũng bấu víu vào hai chữ TRUNG và HIẾU của Khổng Tử để đàn áp dân chúng cũng như những người bất đồng chính kiến. Là bầy tôi trung, phải hiểu là trung với nước, Vua hay Tổng Thống chỉ là người đại diện. Nếu không xứng đáng, người bầy tôi trung, nói riêng, công dân tốt, nói chung, không những có quyền mà còn có bổn phận đứng lên tìm cách phế bỏ hay đạp đổ. Liệu bọn chúng, Cộng Sản Việt Nam còn có thể tồn tại được đến bao giờ nếu chúng không thay đổi cách cư xử đối với dân và cách phụng sự đối với đất nước? Người xưa thường nói: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong". Thiên ở đây chính là lòng dân.

CVA  Lê Duy 

* * *

 

 

LTS:  Hội CVA Bắc California hân hạnh nhận được tập thơ song ngữ “Tình Yêu Như Lửa Ấm” (The fire of Love) của CVA Minh Viên gởi tặng.  Chúng tôi xin trích đăng một bài sau đây để quý vị độc giả thưởng thức:

 

ĐÓA HỒNG

CVA Minh Viên

 

Em giờ hồng thắm khoe tươi

Ngát hương tình ái hơn thời mới yêu

Anh say nhan sắc diễm kiều

Hóa thành cánh bướm sớm chiều ngẩn ngơ

 

THE ROSE

 

You are a fresh sweet-scented crimson rose

That’s more charming than in its tender youth

I go into ecstasy over your love’s fiery light

And become a romantic butterfly day and night

* * *


Nay hoàng hôn đã...

 

CVA Nguyễn Gia Bình

 

“...Song sa vò võ phương trời,

“Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng...

 (Kiều)

Mến tặng Cô Diệu-Hương                                                                                                                                                                                                    

 

Một

Nằm vắt tay lên trán tôi bâng khuâng nghĩ loanh quanh về “Những Bài Văn Làm Rợn Tóc Gáy” vừa tình cờ liếc qua.  Thế là hết chuyện rồi ư?  Không nhẽ một mai con cháu ta chỉ còn mỗi trông vào chồng sách vàng ố từ thuở Tự- Lực-Văn-Đoàn, hay là bám vào mớ chữ nghĩa từ đời ta đổ về trước để trau dồi Quốc-ngữ hay sao?  Hoang mang về trình độ văn chương cập nhật của các mầm non trong bài viết, tôi nóng lòng mong bói ra được thật nhiều tác giả hiện đại xuất chúng khả dĩ làm tiêu chuẩn cho đàn trẻ sau này dựa dẫm.  Nhưng sao mà lạ, chỉ thấy nhởn nhơ toàn những nhân vật thành danh nói thẳng nói thật về vú dái trôn đít cỡ nhà học giả trẻ họ Nguyễn ngụ tại Úc, hoặc nữ sĩ họ Phạm phiêu bạt bên trời Âu... chờn vờn trước mắt mình thôi!   Sự hài hước vô tình của các em thí sinh đã lôi tôi ngồi dậy ngó lại những lời văn trong mùa thi làm mình bật cười.  Bất đồ từ đấy tôi phát giác ra một điều an ủi vớt vát, là tình trạng làm văn thất bại của học trò trong suốt bài đăng hầu như được thu thập cóc nhảy từ nhiều vùng kém phát triển trong nước.  Chừng như người viết sưu tầm những thí dụ nổi bật này để chọc cười hay trêu ngươi độc giả khó tính...

         Tiếng nói phổ thông ở mỗi thủ đô thường là thứ tiếng tiêu biểu cho cả một dân tộc.  Sự xâm nhập của thể chế Xã-Hội-Chủ-Nghĩa đã kéo theo những thay đổi gì trong ngôn ngữ truyền thống VN khởi từ đất Hà-Nội nhân văn? 

        Trong mọi tiến trình di dân hoặc pha trộn dân cư tự cổ chí kim, cách phát âm của một tập thể quần chúng tự nhiên được uốn lại sau thời gian dài bắt bén thuỷ thổ và va chạm với thổ ngữ địa phương hay ngôn ngữ của tập thể khác.  Ngót sáu thế kỷ trước, dân chúng tỉnh Thanh-Hoá dây mơ rễ má với các khai quốc công thần nhà Hậu Lê đã từng túa ngược vào Thăng-Long thành sau ngày Lam-Sơn khởi nghĩa hát khúc khải hoàn.  Người ta có thể hình dung ra sự phân biệt giữa giọng dân Thăng-Long trước và nhiều năm sau thời điểm ấy y như thể trường hợp tiếng Kinh VN ta đã biến thiên từng miền xuôi theo bức bản đồ Nam tiến cong queo dài ngoằng. 

          Cách phát âm tổng hợp sau năm 1954 giữa đa số người Hà nội còn ở lại hoà cùng chúng nhân tứ xứ, đặc biệt từ mạn bắc Trung Việt theo Cộng quân vào tiếp quản thủ đô cũng đại để mô phỏng theo các bước chân lịch sử nêu trên.  Nói tóm lại, sự biến đổi ngôn ngữ tại Hà-Nội đã được đúc kết sau vài thế hệ kể từ hiệp định Genève.  Không cần bận tâm thâm cứu lôi thôi về nguyên ngữ học người ta vẫn dễ nhận ra lối phát âm ấy, nhất là qua giọng thanh thiếu niên, ở đặc điểm dấu hỏi thường được nhấn vào âm có dấu sắc (tỷ như, “Chủng chảu chào cô ạ!”). 

           Đặc biệt hơn nữa là cung cách dùng chữ.  Ngôn ngữ là điều năng nói năng quen cho dù thoạt kỳ thủy có lạ lùng mấy đi nữa.  Để thể hiện khuynh hướng thay đổi cho khác đi những giá trị cũ, đã có biết bao nhiêu từ Hán-Việt (như là “Ngoan-cường”...) chen ngang xương vào giữa những tiếng thật nôm na (như “Bộ đội gái...) trong các câu nói.  Vô số tiếng vừa thơ mộng hoá (ví dụ “Lê thị Hồng-Lúa” --tự Lê thị Lúa--...), vừa dở Ta dở Tầu (“Cụm từ”...), vừa chơi chữ Tây (“Sô-vanh nước lớn” --chauvinisme--...), vừa nói tắt (“Sĩ” --sĩ-diện--...), vừa ám ảnh (“Báo-cáo”...), vừa dao to búa lớn (“Đại-trà”...), vừa nghịch đảo (“Giản-đơn”...), vừa mới đẻ ra (“Bức-xúc”...), v.v... cũng đã ăn chặt vào quan hệ sống hàng ngày.  Nhờ vậy người ít chữ được dôi thêm ra ít vốn ngữ vựng thuộc lòng có thể áp dụng thuần thục vào bất kỳ đối đáp nào; kẻ nhiều chữ dĩ nhiên càng uyên bác hơn trong lời ăn tiếng nói.  Lại còn thêm nghệ thuật trao đổi tiếng lóng khá phong phú khiến bề mặt sinh hoạt bên lề luật lệ tăng phần bí hiểm...  Toàn bộ thay đổi này đã khiến ngôn ngữ mới hoá thân không bao giờ còn nguyên si là giọng Hà thành, mà dân Bắc Kỳ di cư vẫn tiếp tục duy trì cho đến ngày hôm nay. 

         Sau những đợt di cư của thiểu số người Bắc vào phía Nam, giọng nói người lớn thường vẫn giữ nguyên, nhưng giọng trẻ em luôn luôn bị thay đổi ít nhiều do tiếp xúc với ngôn ngữ phía Nam.  Trong vài ba thập niên gần đây tại Nam Việt và hải ngoại, trẻ gốc Bắc đến tuổi trưởng thành thường khó lòng nói thuần tiếng Hà-Nội --Bắc Kỳ rốn-- nếu không sống sát với gia đình vốn là dân di cư từ 54.  Thậm chí ngay ở những xướng ngôn viên radio trẻ nói thạo nhất, giọng Hà-Nội vẫn được pha trộn với nhiều tiếng Nam vì khó khăn lớn trong việc phân biệt âm có dấu hỏi và dấu ngã, cũng như phụ âm kép “nh” cuối chữ (như “Ăn Bừn” --anh Bình--), v.v...  Thêm một điều nữa là lớp người Nam tập kết ra Bắc sau này cũng dần dà nói năng rập theo lối phát biểu của cánh bộ đội VC chính quy; hết còn là tiếng Nam rặc ròng như ngày nào ở dưới xứ. 

         Tất cả sự kiện vừa kể đã nói lên biến đổi khôn lường của ngôn ngữ dân tộc theo diễn tiến thời cuộc từ ban sơ.  Tiếng nói luôn có một tiêu chuẩn thực tế thích nghi với đời sống hiện tại mà toàn dân đương thời cùng xử dụng.  Lẽ dĩ nhiên tiêu chuẩn này hoàn toàn không chấp nhận loại ngôn ngữ của học trò trong “Bài Văn Rợn Tóc Gáy” được trích đoạn sau bài viết này.  Tầm mức tối quan trọng trong việc đầu tư vào Sự Nghiệp giáo dục của nhà cầm quyền gắn bó mật thiết với hưng vong của dân tộc.  Ý thức được điều này nghe ra hay hơn là chê trách hoặc xem trình độ kém phát triển của giới học sinh đang chịu nhiều thiệt thòi như trò cười năm phút!

         Trong cuộc chiến tại miền Nam, lực lượng VC nòng cốt hầu như nằm trong số những người không may lớn lên trong cảnh nhà không khá và kém học. Kịp đến thời hậu chiến, thành phần chiến thắng này được bố trí công tác kết hợp với tiếp thu văn hóa đốt giai đoạn, ngõ hầu đạt cực nhanh trình độ tri thức thích nghi với sự nghiệp lãnh đạo.  Trí thức được cải thiện đến đâu, thì từ ngữ thể hiện tính quần chúng từ Bắc Việt Xã-Hội-Chủ-Nghĩa được lặp đi lặp lại rộng khắp miền Nam đến đấy.

          Một anh bác sĩ mổ bản thân dân cầy học lực lớp Hai, có nghề leo dừa nhìn thấu trái nào nước trong không vữa cơm thì bẻ xuống chọc truyền tĩnh mạch cấp cứu chiến sĩ ngắc ngoải.  Anh lại còn khả năng tiến hành đục hộp sọ giải phóng máu bầm một cách sáng tạo bằng những y cụ thô sơ tự cải thiện lấy; chưa kể trình độ dám nghĩ dám làm như mổ sống thương binh, lắt bỏ chỗ nào nát bét không nhất thiết gây tê mê với tỉ lệ sống rất đạt... 

         Dưới ánh sáng của những nghị quyết đãi ngộ người có công, bác sĩ phẫu thuật kia được trên chiếu cố nâng cấp cho lên chức bệnh viện trưởng kiêm chủ nhiệm chuyên khoa ngoại thay giám đốc nhà thương cũ đi cải tạo.  Trong thời gian ấy, anh được chỉ đạo phải hạ quyết tâm khắc phục hai tồn tại mấu chốt.  Cụ thể một là, ra sức đảm bảo chất lượng thao tác phẫu thuật nhuần nhuyễn hơn nữa tại viện.  Hai là, triệt để tham gia các khóa bồi dưỡng vừa hồng vừa chuyên, bao gồm lí thuyết chính trị kèm văn hoá phổ thông và y khoa cơ bản.  Do quá trình nghiệp vụ chuyên môn khá cứng trong chiến tranh, mấy niên đại học Y được duyệt coi như là đã kinh qua.  Như vậy người lương y như từ mẫu này chỉ cần khẩn trương tiếp thu thật tốt khâu bổ túc phổ thông, sơ bộ từ lớp ba cho đến lớp mười theo giáo án chính quy từ miền Bắc XHCN.  Bởi có công sâu sắc với cách mạng cho nên thực tiễn trong quá trình văn hoá tại chức, mỗi năm anh có thể tranh thủ vượt cấp vài ba lớp.

         Khi đổi mới, người ta thường có chiều hướng đi chệch ra ngoài tư duy và khẩu hiệu.  Quan điểm “Vì lợi ích một trăm năm trồng người” của cụ Lão Tử thật ra đã không được triển khai đúng đắn tại nhiều vùng xa xôi.  Song song với đà phát triển văn minh tư sản về sau này, tinh thần học lấy bằng tại các tỉnh lẻ hầu như vẫn tà tà noi theo truyền thống đại khái chủ nghĩa, được phản ánh qua thí dụ “một niên khoá lên ba lớp” vừa nêu bật bên trên.  Nền giáo dục tại những nơi đó nói chung là không được tập trung tốt.  Sự kiện này đã dễ dàng giải thích vì sao có những lối hành văn buồn cười nơi quý em tú tài nho nhỏ.

         Tinh hoa của một quốc gia vốn dĩ tập trung vào những chốn đô hội.  Tại đó văn học nghệ thuật thường có cơ phát triển rộng rãi và chương trình giáo dục được quan tâm nhiều hơn.  Không thiếu gì kẻ ý thức được tầm quan trọng về việc làm sao cho trẻ khỏi bị dốt nát; cho nên đã có biết bao con nhà Việt-Nam từ các thành phố lớn tự túc du học sang Âu Mỹ.  Dân Tây thường cho rằng, “Đời là chuỗi nuối tiếc và hy vọng”.  Đúng vậy.  Hy vọng rằng nền văn chương của ngày mai vẫn có chỗ đứng nghiêm túc trong đầu óc học sinh tại những thành phố không có tên trong bài văn trích đăng.

 

Hai

Đối với người Hán có đời sống phát triển hơn đang chiếm ưu thế trên phần đất đương thời, thì tập chủng Bách Việt tại nam bộ Hoa lục là những sắc dân thiểu số phiêu bạt.  Giòng Lạc-Việt từ đời Hồng-Bàng theo sử liệu đã có hồi hùng cứ tại một vùng địa dư rộng thấu xuống các tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây và Bắc Việt-Nam.  Cũng chỉ vì thưa thớt so với thành phần Hán tộc mà sau đó ông cha ta đành xuôi chiều lịch sử, trôi dạt về thu mình ở vài quận trong Giao-Chỉ-Bộ tức Bắc phần ngày nay.  Tiếng Nôm sơ khai từ thời bộ lạc Lạc-Việt đã dần dần được làm giầu bằng ngôn ngữ của dân Hán vây quanh.  Sự pha trộn tiếng nói kể ra cũng là thường tình trong mọi lẽ sống còn.

Có thử ghé mắt qua bộ tộc Mân-Việt, vốn là tiền thân của giống người Phúc-Kiến tại cực Đông Nam Hoa lục và của một giống dân thường trú tại Đài-Loan đảo, mới thấy tính cách độc lập của ta vượt bực hơn người.  Nòi Mân-Việt bấy lâu hầu như đã bị Hán hóa hoàn toàn từ văn hóa cho đến đời sống; chỉ trừ mỗi cách phát âm là còn khác biệt tùy vùng.  Trong khi đó, nhờ căn bản địa hình sơn xuyên hiểm trở hợp cùng cá tính bất khuất, giống Lạc-Việt sau già nghìn năm dưới ách đô hộ của các triều đại Tầu đã giành lại được chủ quyền.  Ta đã duy trì được trọn vẹn nền văn hiến cá biệt dài lâu trong cố thổ có biên cương riêng biệt.  Nếu xem những điều này là tuyệt vời thì cái giá phải chịu đựng về Hán hóa Việt ngữ cũng không đến nỗi ê chề cho lắm.

Tiếng Hán-Việt hỗn hợp đã dần dà "hóa đá" theo thời gian.  Kho văn hóa hóa đá này dù muốn dù không đương nhiên là của hương hỏa dành cho Việt tộc.  Những người có tâm huyết trong cũng như ngoài nước hôm nay có thể nghĩ rằng, một trong những điều nên làm trước khi đi tầu suốt là cố giữ cho các thế hệ mai sau khỏi bị vong bản.  Việc này rõ ràng gắn bó với sự thông hiểu từ ngữ Hán-Việt, vốn chiếm quá nửa toàn bộ Việt ngữ tự nghìn xưa.

Tại hải ngoại, nghề chính của con em ta là đi học theo chương trình cưỡng bách giáo dục của từng nước chủ nhà.  Thế cho nên một cách thông cảm nhất để giữ cho trẻ mỏ khỏi bị mất gốc, là cố gắng trau dồi tiếng ta cho các em tại gia.  Ai cũng thấy rõ chính quyền sở tại luôn vỗ tay cổ võ sự phát triển đa văn hóa từ mọi sắc tộc trong xã hội hợp chủng.  Tuy nhiên trên thực tế, ngay điều giản dị nhất cũng không hẳn là dễ áp dụng.  Thành phần cá nhân càng thành công trong các xã hội bao dung bao nhiêu, thường càng hay dùng chính thứ tiếng của xã hội ấy để sinh hoạt với con cháu mình bấy nhiêu.  Ví như bố mẹ là người Mỹ gốc Việt thì họ thường nói tiếng Mỹ với bầy trẻ nhà.  Họ không khoe tiếng với con mình làm gì, cũng không cốt ‎để cho con khỏi ngu tiếng Mỹ, mà hầu như đó là nếp sinh hoạt theo thói quen vô thức đôi khi khó giải thích.  Hoặc giả thâm tâm người ta không nỡ để trẻ thêm vất vả, vì học trình Anh ngữ nặng nề hiện đang làm chúng quá bận rồi.

Cuộc chiến cam go dài ngày tại VN đã “thắt lưng buộc bụng” tối đa sự phát triển tự nhiên của con dân về phía Xã-Hội-Chủ-Nghĩa.  Thể chế kém hiệu lực trong thời hậu chiến càng lúng túng hơn.  Trong sự tắt lịm hoa đăng chiến thắng, quyền bính đã biến vinh quang thành trường chiến bại.  Nền giáo dục suy thoái càng khiến “mặt trận văn hóa” thua buồn!  Thế nhưng niềm kiêu hãnh vẫn còn đó.  Giai cấp có ưu thế mới trong nước cố chấp lái sự phát triển văn hóa thành ra những khai phá khác thường để bù lấp vào mọi chỗ khuyết.  Khai phá mà thiếu hiểu biết thường đi đến chỗ hủy hoại đáng tiếc.

Những thế hệ giao thời giữa các nền văn hóa thuộc địa tại VN nay đà khuất núi gần hết, để trơ ra bao nhiêu là kẻ ấm ớ Tây chẳng ra Tây, Tầu chẳng ra Tầu, đứng ra làm cái việc hay chữ lỏng.  Rút lại quần manh dẫn quần manh, mạnh thầy, mạnh trò, rồi thì Bắc Trung Nam cả nước thi nhau chế vong mạng ra những thứ chữ mới để rồi thi nhau áp dụng một cách thời thượng.  Nguyên tắc chung để hình thành kiểu văn tự sáng tạo ấy, là cứ việc bẻ đôi hai chữ nho kép khác nhau, rồi chắp nửa nọ nửa kia của từng chữ vừa bẻ thành ra một chữ kép mới, vẻ như từ ngữ Hán-Việt, nhưng ‎nghĩa chữ thì phải đoán tùy cảm quan cá nhân.  Nếu “đối-tượng” nghĩa là vật thể được nhắm vào, cũng như “tác-động” là việc làm ảnh hưởng đến sự gì, thì “đối-tác” có thể được đoán toé loe ra là “các kẻ có liên hệ với nhau về công việc gì”, v.v...  Phải chăng khi dùng từ ngữ mới, con người chất phác sẽ chuốc thêm được đôi chút hãnh diện, vì tự ti mặc cảm thấp kém của cả một tổ quốc trong lòng họ qua đó vợi đi phần nào trong muôn một?

Hẵng về với việc duy trì nền văn hóa Việt.  Ngày xưa bên cạnh nền nông tang lạc hậu, tổ tiên ta giang tay đón nhận mọi phương thuật và học thuật của người Trung-quốc như là kim chỉ nam.  Ấy vậy mà chỉ vì thói dấu nghề truyền thống của chế độ cai trị tai hại này, bô lão nhà mình hầu như chỉ còn cầm được vỏn vẹn mỗi bốn chữ “tứ thư-ngũ kinh” vào phút cuối.  Giá trị sát sườn của mớ kiến thức từ chương lúc bấy giờ tập trung cả vào hoạn lộ, hoặc nhỡ nhàng ra thì cũng thể ông đồ, "tiến vi quan, thoái vi sư"...  Thời gian dần trôi, những người muôn năm cũ đã hờ hững ra đi quên cả dặn dò, khiến cho bóng dáng Nho học mờ dần quanh những người Việt già nhất còn sống sót có thể đóng vai thầy.  Lũ hậu duệ rồi ra đành chịu loi ngoi mò mẫm trong biển chữ tối nghĩa quá sức!

Cho dù ngôn ngữ Hán-Việt ngày nay đã hoàn toàn phổ thông theo cách viết quốc ngữ alphabet và lối phát âm Việt-Nam; nhưng không học thì vẫn khó lòng thông hiểu được nghĩa chữ.  Khổ thêm nữa là nỗi trẻ thiếu cơ hội nói tiếng Việt trong số lớn gia đình tại hải ngoại; cũng như lối dậy dỗ và xử dụng chữ nghĩa lập lòe mới lạ trong nhà trường tại VN vừa bàn.  Tất cả thí dụ bất lợi đã dự phần vào trở ngại đáng quan tâm trên con đường bảo tồn những gì còn lại của giòng giống Lạc-Hồng.

Công cuộc giáo dục Việt văn ngày nay thực cả là một công trình cao thượng trông vào những người giàu kiến văn cũng như hằng tâm hằng sản đi trước.  Nói, đọc và viết gẫy gọn vẫn là kỳ vọng trong việc giáo dục về nguồn cho các thế hệ mai sau.  Để thu hẹp thêm phạm vi mong đợi này, dường như điều thực dụng hơn cả là chỉ việc nói toàn tiếng ta với con cháu ở nhà ngay từ thuở em bé mới bập bẹ đôi tiếng đầu đời, cho dù việc ấy ngó bộ không mấy tân thời thì phải.  Dẫu sao mặc lòng, khi lớn lên trẻ sẽ sung sướng được ta ban cho thêm một sinh ngữ mà con nhà nước khác làm sao có được!

                        Tiếng còn đó thì nước sẽ còn đó. 

                                                                                          

Những bài văn làm rợn tóc gáy:

(Trích đoạn)

Tuesday, June 22,
Hoang Khoi Phong
(Theo Báo Thanh niên số 129 ra ngày 30/05/2001)

LTS: Để có thể biết được trình độ thưởng ngoạn văn học của những thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay ở trong nước, không gì bằng đem các bài luận của các em bé tiểu học và các bài bình luận thơ văn của các học sinh trung học ra làm bằng cớ. Dưới đây là những tiết lộ của các tờ báo ở trong nước, về cảm nhận đối với văn học Việt Nam của các thế hệ học sinh ở trong nước.

Em hãy tả hình dáng và tính tình một cụ già mà em rất kính yêu” - Ðó là đề tập làm văn trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học vừa diễn ra ở tỉnh nọ. Xin trích nguyên văn từ 10 bài làm của học sinh :


         1. Hình dáng của bà nội rất là thấp được hai mét rưỡi dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít thấy gì nữa… Tính tình cụ già rất là bực bội… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi.

         2. Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lỗ, miệng cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, có hai cái chân.

         3. Bà cụ ngoài 40 tuổi.

         4. Hình dáng bình thường, chiều rộng ba mươi, chiều cao một mét sáu.
         5. Khi cười miệng bà em móm mém như miệng cá hố.
         6. Hình dáng của ông ấy rất bình thường chiều rộng một mét, chiều cao hai mét.
         7. Mỗi khi ông cười hàm răng của ông không còn trắng và chắc như trước nữa mà đã gãy bốn cái răng. Khuôn mặt của ông không còn đẹp trai như trước nữa mà rất nhăn nhó, ông cười cũng như là ông giận.
         8. Khuôn mặt ông bầu bĩnh; đôi mắt ông như mắt bồ câu trắng; dáng đi của ông rất hoang thai và cái miệng của ông như trái tim rất mảnh liệt.

         9. Ông của em dài thì bằng mười mét và không mập.

         10. Ông em cao khoảng 1m, khung mặt của ông như trái song.


---

Các HS lớp 4B (năm học 2000- 2001) Trường N.T.C, Hà Nội vẫn còn nhớ như in:

"Trong tiết kể chuyện, cô giáo D.T.H (GV dạy giỏi cấp thành phố) kể theo lịch sử, Triệu Ðà lãnh đạo quân Tần sang xâm lược nước ta. Quân Tần chính là Tần Thuỷ Hoàng và Tần Thuỷ Hoàng là con Triệu Ðà. Tần Thuỷ Hoàng tên thật là Trọng Thuỷ".

(Báo Lao Ðộng, 22.05.2002)

---

Ðề 1: (không rõ đề). Một bạn học sinh lớp 9 PTCS T.A., Huế đã viết như sau:

 “Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, song nàng đã bị chế độ phong kiến vùi vào đống bùn nhơ. Ðến nỗi chịu không nổi, nàng đã nhảy xuống sông Tiền Giang tự vẫn. May thay lúc đó có một bà Ðảng viên đi công tác về, bà liền nhảy xuống sông cứu nàng. Sau đó, Kiều giác ngộ và đi theo con đường Cách Mạng…”

Ðề 2: Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về việc Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta tác phẩm Kiều. Một bạn lớp 11 PTTH Cái Bè đã viết:

“…Nguyễn Du là lão tiền bối của chúng ta, mặc dù tiền bối đã sớm ra đi vào một chiều gió lạnh, nhưng vẫn làm chấn động cả giới hậu bối của chúng ta, qua bí kíp võ công “Vương Thuý Kiều” hay còn gọi là “Đoạn Trường Thất Thanh”. Bằng chứng là qua các kỳ thi, pho bí kíp này lại xuất hiện và làm “thất điên bát đảo” cả giới “hậu bối” chúng ta…”

Ðề 3: Em hãy tường thuật lại diễn biến chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Bài làm của một học sinh lớp 9:

“… Quân địch đánh ra, quân ta đánh vào ào ào như lá tre rụng, đồng chí phe ta đánh thắng cha phe nó ghê hết sức… Kết quả: sau 55 ngày đêm chiến đấu oai hùng, ngày 7-1-1991, phe ta thắng phe nó, chúng ta đã giết sống được 16,200 chúng nó, phanh thây 62 máy bay (em quên mất tên của máy bay, xin cô thông cảm)…”

Ðề 4: Trong các tác phẩm đã học và đọc thêm, em thích tác phẩm nào nhất? Vì sao, hãy chứng minh. Bài làm của bạn NAT, lớp 10B một trường PTTH:

“Trong kho tàng văn học Việt Nam, ca dao dân ca rất giàu tình nghĩa… Trong các tác phẩm đó em thích nhất tác phẩm “Tắt đèn” của chị Dậu. Vì nó đã thể hiện tinh thần chống lại sự bóc lột phụ nữ của chế độ phong kiến. Chứng tỏ chị đã bán con và chó để thể hiện tinh thần kiên quyết đó…”

Ðề 5: Em hãy phân tích trình tự diễn biến tâm trạng nàng Kiều trong đoạn trích “Những nỗi lòng tê tái”. Bài làm của bạn NCT, lớp 10A PTTH Phú Nhuận, có đoạn đã viết:

“…”Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”. Qua đó, ta thấy tên khách họ Hoàng thật là tàn nhẫn, hắn hôn Thuý Kiều đã rồi lại bắt Kiều hôn lại, làm cho Kiều ngày càng biến thành gái lầu xanh chuyên nghiệp, muốn ngóc đầu lên cũng không nổi…”

Ðề 6: Trong “Bình Ngô Ðại cáo” của Nguyễn Trãi, đoạn thơ nào đã nói lên sức mạnh và khí thế dũng mãnh của quân ta trong cuộc kháng chiến? Một bạn nam đã viết:

“Đoạn thơ sau nói lên sức mạnh và khí thế dũng mãnh của cha ông ta: “Đánh một trận giặc không kinh ngạc, đánh hai trận tan tác quân ta”…”

Ðề 7: Anh chị hãy phân tích hình ảnh người lính Việt Nam qua thơ ca kháng chiến chống Mỹ, điển hình như bài “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân. Bài làm của một bạn lớp 12 ở Bến Tre, viết:

“… Trên đường băng Tân Sơn Nhất, một anh giải phóng tự nhiên nằm đó. Một chị đi ngang thấy anh tự nhiên nằm lại rờ vào mình anh và lắc lắc mấy cái, chị thấy anh nằm im nên nghĩ anh đã chết… Anh giải phóng quân mất đi trong mình không có một thứ giấy tờ, một tấm ảnh nào, kể cả giấy chứng minh nhân dân cũng không có…”

---

HỌC VĂN BÂY GIỜ

Hàm Luông (SGGP) ghi lại.

Nhiều giáo viên chấm thi đại học năm nay nhận xét, mỗi năm bài thi văn lại kém hơn một chút. Có những lỗi sai không thể chấp nhận được, có những câu văn mà giám khảo phải ôm bụng cười tới năm phút sau mới có thể chấm tiếp. Nếu nói đọc văn biết người thì chúng ta đang đọc được một lớp người như thế này đây...

---

Ở đây chúng tôi không đề cập đến những trường hợp khó viết đúng chính tả như : truyện ngắn, câu chuyện ...(những lỗi này thì nhiều vô kể), nhưng những lỗi sau đây, theo chúng tôi, là không thể tha thứ được.

- Xuống dòng, chữ đầu dòng không viết hoa.

- Tên riêng của người không viết hoa. Ví du: huy cận, nguyễn tuân...

- Cả bài viết không có dấu câu nào.

- Những từ đơn giản thông thường không viết đúng chính tả: lo nắng, í tưởng, Việt lam, đoạn quối truyện...

Chúng tôi cũng không cần bàn tới chuyện học sinh phải dùng từ cho đúng phong cách, dùng những từ thật "đắt" mà chỉ dùng từ cho đúng nghĩa. Học sinh rất hay nhầm lẫn những từ có âm gần giống nhau. Ví dụ:


         - Thân thể ông lái đò rất tráng lệ (phải chăng học sinh định viết là cường tráng?).

         - Cách dùng từ của Huy Cận rất thuần tuý (phải viết là tinh tuý).

         - Những cánh đồng được phù sa bồi đắp trở nên rất phù du, màu mỡ (phải viết là phì nhiêu).

         - Ở giai đoạn này ý chí của người dân đang ở mức tuột đỉnh (tột đỉnh).

         - Ðoạn thơ thể hiện sự vui sướng, hí hửng của tác giả (hớn hở).

         - Qua tác phẩm người lái đò sông Ðà em rất ngưỡng mộ những cuộc giao hữu của ông lái đò với sông Ðà (giao chiến chăng?).

         - Nhan đề bài thơ tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên có ý nghĩa rất sâu cay (sâu sắc).

Rất nhiều trường hợp học sinh dùng từ sai, song chúng tôi cũng không biết học sinh định diễn đạt cái gì và thay thế bằng từ gì:

            - Đó là một cụm từ gợi cho ta nỗi buồn, nó bê tha đến nhường nào.

         - Nguyễn Tuân là một nhà văn cổ kính.

         -“ Nguyễn Tuân rất hung bạo”?!

Có thể kể ra vô vàn những câu văn của học sinh mà người đọc không thể hiểu nổi học sinh đó muốn viết gì. Ðiều này chứng tỏ học sinh rất lơ mơ về kiến thức ngữ pháp tiếng Việt, đồng thời cũng chứng tỏ tư duy cũng hết sức rối rắm. Có những giáo viên khi chấm bài đã không thể chịu đựng được đã phê: "Thần kinh không bình thường". Xin kể vài trường hợp:

         - Từ lâu đến nay nói tới con sông Ðà nhớ ngay tới Nguyễn Tuân vì Nguyễn Tuân có lúc rất hung bạo, một mình ông cũng ngồi trên một chuyến để lái đò và ông cứ xoáy sâu vào hình tượng sông Ðà.

         - Trong nền văn học Việt Nam thì có rất nhiều nhà văn mà chúng ta được biết thì chúng ta không thể nói hết về nhà văn nhà thơ được mà Nguyễn Tuân là một nhà văn rất quen thuộc với bao cô cậu học trò cũng đang in rõ sâu trong lòng nhà thơ.

         - Chế Lan Viên là một nhà thơ xuyên suốt cuộc đời trong lãnh tụ của Ðảng và nhân dân cũng như tất cả các cán bộ.

Cần phải nhìn nhận một thực tế bây giờ là rất ít học sinh viết rung động đối với bài thơ hay, câu văn đẹp. Vì vậy khi viết văn các em toàn diễn xuôi hoặc "thô thiển hoá" văn chương. Một bài thơ hay, sau khi được các em phân tích, bình giảng bỗng trở nên một thứ ngớ ngẩn, không thể nào chấp nhận được, đọc mà nhiều lúc phát tức.

            Chúng ta hãy nghe thử một số lời bình sau đây:

- Lời bình câu thơ: Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy:

Cảnh đông tàn rét mướt khiến cho con người không muốn quét tước gì nữa, để rồi sau khi nắng lên, sau lưng thềm lá đã rụng đầy như một bãi rác.


- Lời bình câu thơ: Mùa thu nay khác rồi:

Ðấy mới hôm nào đấy quay về thì phong cảnh ở đây đã khác rồi, không ai đoán trước được chữ ngờ.


- Lời bình câu thơ:  Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu:

Mở đầu bài thơ tác giả đưa ngay ra một cái cồn nhỏ. Cồn của người khác thì rậm rạp còn cồn của Huy Cận thì lơ thơ vài loại cây. Cây cối của Huy Cận chỉ đủ dùng cho một luồng gió.

- Lời bình câu thơ: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu:

"Bến cô liêu" thì có nghĩa cô liêu là tên của một bến đò. Và "Cô" ở đây chỉ cô gái đứng cô đơn một mình.

Còn đây là một cách mở bài rất điệu đàng và hoa mỹ:

Mỗi khi nghe tiếng sóng dữ dội đập vào bờ biển đầy rẫy những hòn đá là em lại chợt rùng mình trong lòng như tê tái có một điều gì đó làm em lo sợ. Ðúng rồi, đó là tiếng sóng dữ dội mà ông lái đò từng trải qua mà em đã từng được học trên lớp.

Nếu nói văn là người thì qua những câu văn vừa rồi, bạn sẽ hình dung một lớp người như thế nào? Thật là lạ, lớp người ấy vừa đậu tú tài xong!

   

Nguyễn Gia Bình (CVA 1968)

* * *

Bao Giờ Đầy


Ban sáng tôi đứng lên thì trời mọc
Ba bề bốn bên thật thà là trơ trẽn
Nhưng em đã đến đầu tiên
Dáng em ấm mặt trời hồng
Bóng em lần tận biển sâu
Ngẩn ngơ ngần mây núi...


Ô hay thoáng đấy rồi đâu
Em tôi ơi, sao vội vàng trở gót?
Dấu chân hoang còn đây

Vang vang khua xao xác lá vườn khô
Ngổn ngang đây

Còn lại mấy đường tơ
Giăng giăng ngõ xưa đường tơ con nhện dệt

Khắc giây nào mải u ơ lời trò chuyện

Mải lời yêu?   

Hồn phiêu diêu hôm nao vừa thấm

Mộng vừa mềm

Mạng yêu đương ngập lối êm đềm  

Đành đoạn loãng tan...
Thiên đường tôi năm tháng mù khơi

Hương tàn khói lạnh

 

Tình buông lơi

Xanh xao trời diệu vợi
Nhớ thương hời,
Đong bao giờ đầy chuỗi ngày nhân ảnh vời xa!

 

CVA Nguyễn Gia Bình

* * *

 

Hoài niệm ấu thơ

CVA Vũ Đức Nghiêm

 

Tôi ra đời năm 1930 tại làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam định. Ngay từ lúc mới lẫm chẫm biết đi, những hình ảnh thân quen nhất là ông bà nội và mẹ tôi. Bố tôi làm việc ở tỉnh Quảng Yên, lâu lâu về thăm ông  bà nội và gia đình. Đại gia đình quần tụ trong một khu dinh cơ rộng rãi, có nhiều nhà ngói và sân gạch để phơi thóc lúa khi mùa gặt về; ở trước mỗi nhà có một ao nhỏ. Ông nội ở một căn phòng nhỏ, trong khu nhà bác tôi, ông Vũ đức Phúc, thường gọi  là ông Lục Phúc vì bác là lục sự (secrétaire greffier), một chức vụ tương tự thư ký toà án. Cũng như bố tôi, bác thường  vắng nhà vì làm việc trên tỉnh, huyện. Bà nội ở cùng nhà với bố mẹ tôi, và tôi gần gụi ông bà nội nhiều nhất, sau mẹ tôi. Kỷ niệm rõ rệt nhất là bà nội thường ngồi ru tôi ngủ trên võng. Những buổi chiều mùa đông giá lạnh, bà nội bế tôi trong lòng hát ru tôi.  Bà nội mặc áo lót bông nhiều lớp, gọi là áo kép; bà kéo vạt áo đắp lên chân tôi tím ngắt vì trời tháng 10 đất Bắc thật lạnh. Trước khi chìm vào giấc ngủ chập chờn, tôi còn mở mắt nhìn chiếc xe đạp ba bánh mẹ mới mua cho tôi nằm đâu đó gần đống lúa cao ngất đến tận nóc nhà bổi, gọi là nhà bổi vì mái lợp bằng cói, tạm thời dùng để chứa thóc lúa khi mùa gặt lúa về.

Bố tôi làm việc ở tỉnh, nên mẹ tôi ở nhà quán xuyến ruộng vườn. Mỗi năm hai lần, đến vụ gặt, mẹ tôi thường đi thuyền đến các làng kế cận như Duy Tắc, Địch Giáo, hoặc xa hơn như Hà Cát để thu thóc do những tá điền cấy lúa nộp cho mẹ tôi, hình như theo tỷ lệ tứ lục nếu tôi nhớ không lầm. Sau này, khi lớn lên, những ngày nghỉ hè về quê, mẹ thường cho tôi  theo mẹ đi thuyền đến các làng thu thóc. Đó là những ngày thật vui vẻ, sung sướng, vì tôi được theo mẹ đi thuyền trên những con sông đào chảy qua những ruộng đồng chĩu nặng lúa chín vàng dưới ánh nắng rực rỡ; những tá điền thường mang biếu mẹ tôi những món ăn ngon, các loại trái cây và nhất là các anh thợ gặt mỗi khi bắt được mấy con bọ muỗm thường để dành cho tôi nướng lửa rơm ăn rất thơm và bùi béo.

Khi tôi lên năm tuổi, mẹ cho tôi đi học ở trường làng; trường  ở ngay ngôi đình quán giữa, cách nhà cha mẹ tôi chừng 300m, giữa đường có lót những viên đá tảng dày chừng gần một gang tay, dài rộng chừng 40/70cm. Tôi nhớ  rõ là có tất cả 108 viên đá, từ ngôi đình làng về đến cổng nhà cha mẹ tôi và nhà bác Lục thì có 2 hòn đá rẽ về hai cổng đối nhau. (Điều đáng buồn là sau hơn 1/2 thế kỷ, khi trở về thăm quê hương thì 108 viên đá lót đường đã bị tháo gỡ đi, ngay cả cái cổng xây trước ngõ vào nhà cha mẹ tôi với hàng chữ La mã MCMXXX (1930) đã không còn dấu vết nào nữa.)

Những ngày đi học đầu tiên là một thử thách lớn cho tôi. Tôi phải làm quen với nhiều điều mới mẻ, mà chú bé lên 5 tuổi cảm thấy xa lạ và bỡ ngỡ vô cùng. Tôi phải đến trường hằng ngày, không còn được quanh quẩn ở gần mẹ nữa, và đó là điều mất mát lớn nhất đối với tôi. Hình như tôi không còn ghi nhớ được một ấn tượng nào về ông thầy dạy vỡ lòng, vì thầy ngồi ở trên bàn rất xa chỗ tôi ngồi cuối lớp, có mấy anh học trò lớp trên kèm cho tôi học vỡ lòng, có lẽ theo lệnh thầy giáo; thầy dạy từ lớp vỡ lòng lên đến lớp ba, nên hầu như ít chú ý tới các học trò lớp nhỏ! Tôi dường như vẫn còn nghe đâu đây tiếng ồn ào trong lóp như cái chợ vỡ, và tiếng roi mây của thầy giáo vụt đen đét trên bàn để giữ trật tự.  Lớp học hơi tối vì không có cửa sổ; mấy anh học trò cuối lớp thường ngồi hút trộm thuốc lào bằng chiếc điếu nhỏ cuộn bằng lá chuối thở khói um cả góc lớp. Một mùi đặc biệt của lớp học nhà quê làm tôi khó thở: mùi khói thuốc, mùi ẩm mốc của nền đất ngôi đình, mùi mực đánh đổ trên bàn học, mùi khét mồ hôi của quần áo nâu không được giặt xà phòng, v..v.

Chính từ lớp học nhỏ bé đó tôi đã học bài vỡ lòng đàu tiên: i, đi học; u, đánh đu; a quả na, ă, cái khăn ,v..v...và bài tập đọc: Năm nay tôi lên bẩy, tôi đã lớn, tôi không chơi đùa lêu lổng như những năm còn bé (Quốc văn Giáo Khoa Thư, Lớp Đồng Ấu).

Năm 1936, một biến cố lớn của đời tôi: mẹ tôi cho tôi lên Thái Bình ở với bố; hồi đó bố tôi làm ở Toà Sứ tỉnh Thái Bình. Căn nhà bố thuê ở số 25 phố Miribel, có ngôi nhà thờ ở cuối phố. Cách nhà chừng vài căn có nhà Ông đốc Phạm văn Năm, (ông là Đốc Học?) nên được gọi một cách trân trong như vậy. Nhà ông Đốc Năm có sân rộng, nơi các sói con của đoàn Hướng đạo thường đến tập hát. Tôi đến xem các sói con (louveteaux) học hát múa, trong số đó có anh tôi mà ngưỡng mộ vô cùng.

Bố tôi sống rất gương mẫu và khắc khổ. Mỗi sáng, bố dậy sớm, đánh thức tụi tôi dậy và dẫn đầu tất cả nhà (chừng 1/2 tiểu đội) chạy dọc theo hè phố Jules Piquet đến tận chân cầu Bo tập thể dục. Tất cả mọi người gồm có hai cậu Thiệu, cậu Thuật, em mẹ tôi, và chú Ba, em trai út của bố, hai anh Lý, Khánh, con bác Lục, anh Chang và tôi. Chạy đến nửa đường, chúng tôi lười biếng bảo nhau núp vào mái hiên tránh lạnh. Bố tôi dẫn đầu, ngoảnh lại, không thấy ai liền trở lại tìm, tất cả sợ quá bỏ chạy ùa ra như đàn vịt. Vì bố tôi áp dụng kỷ luật rất chặt chẽ nên tất cả rất sợ bố tôi. Chỉ trừ hai cậu tôi là chưa bao giờ bị kỷ luật, còn từ chú Ba trở xuống, tất cả đều đã bị bố tôi đánh đòn theo đúng lời dạy trong Châm Ngôn :''Người nào kiêng roi vọt, ghét con trai mình. Song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó.'' Chế độ ăn uống trong nhà cũng rất thanh đạm, chỉ lấy rau, đậu làm chuẩn, nên chỉ những ngày mẹ tôi ở quê nhà lên thăm là những ngày ăn uống rất ngon lành và thừa thãi. Mẹ tôi ở lại Thái Bình ít hôm rồi về quê. Đó là những ngày thật u ám trong thời thơ ấu của tôi. Những buổi tối nhớ mẹ, tôi thường ra cửa, nhìn về phía xa mà khóc thầm. Mắt tôi nhoè lệ, khi nhìn thấy ngọn đèn đường vàng vọt cũng nhạt nhoà, tôi có cảm tưởng những ngọn đèn cũng khóc như tôi.

Năm đầu tiên, tôi học lớp Năm, (Cours Enfantin, lớp 1 sau này) trường Cao Phong, trên đường Jules Piquet. Thầy giáo  tôi mặc áo dài đen, quần trắng, đi guốc, trên vai thầy vắt một chiếc khăn mặt đỏ. Một lần ngồi viết bài, vì không mang lọ mực theo, tôi quay xuống chấm nhờ mực của thằng Tính ở bàn sau; thằng Tính đấm vào giữa mặt tôi. Máu mũi tuôn ra, rỏ xuống trang giấy. Tôi khóc ré lên. Thầy giáo vội dìu tôi ra sân, đến cạnh lu nước đã cạn gần đáy, có mấy con lăng quăng ngọ nguậy ở dưới đáy lu. Thầy lấy khăn mặt đỏ nhúng nước lau mặt mũi tôi và dỗ tôi nín khóc.

Năm sau, tôi học lớp Tư (Cours Préparatoire) trường Monguillot, cách xa nhà chừng 1 cây số. Cô giáo tôi, vợ thầy Đốc Quýnh, hãy còn rất trẻ. Cô mặc quần áo đẹp, vấn tóc trần, môi đỏ chót. Cô đi làm có xe kéo (thời ấy gọi là pousse-pousse). Ngồi trong lớp, cô thường lôi trong cặp ra một ổ bánh mì vàng rụm có kẹp chả, những miếng chả thơm phức; cô ăn thản nhiên, nhai rau ráu trước những cặp mắt thèm khát của đám học trò lên 6,7 tuổi. Mỗi khi học trò phạm lỗi, cô bắt chụm năm ngón tay lại và dùng thước kẻ bọc đồng đánh vào đầu ngón tay chụm lại. (Xin cô giáo Quýnh vui lòng tha lỗi cho con viết chuyện này, nếu năm nay còn sống thì cô cũng đã 90 tuổi hay hơn nữa).

Khoảng 1937, bố đổi về toà Sứ Hà Nội. Gia đình thuê căn gác nhỏ nhà số 192,  phố Hàng Bông, xế vườn hoa Cửa Nam. Tôi học lớp Préparatoire (lớp Tư, tức lớp hai sau này) trường Thăng Long, đường Ngõ Trạm (rue Bourret). Ngồi cạnh tôi là Báu, một cậu bé tinh khôn quá sớm; suốt ngày Báu hát bài ca thời thượng bằng tiếng Pháp:

 

O ma Rose Marie,

Les fleurs de la prairie

Se penchent devant toi lorsque tu passes,

Comme pour s'incliner devant ta grâce.

 

Tạm chuyển ngữ:

 

Ôi Nàng Hoa Hồng Marie của tôi!

Những cánh hoa trên thảo nguyên

Nghiêng mình khi em đi qua,

Dường như chiêm ngưỡng vẻ duyên dáng của em!

Báu thú nhận với tôi rằng Báu thầm yêu cô bé Chi cùng lớp, nhà ở 51 đường Hà Trung, gần phố Ngõ Trạm. Báu rủ tôi đi theo Chi khi tan trường về, nhưng tôi nhút nhát không đi với Báu. Chẳng biết về sau câu chuyện tình con nít ấy đi đến đâu và tôi cũng chẳng bao giờ gặp lại Báu nữa, bởi vì, ít lâu sau, bố xin cho tôi học lớp Ba trường Sinh Từ (Cours Élémentaire, École Pierre Pasquier)

Thầy giáo Trần văn Chấn là người rất nghiêm nghị, dạy học tận tâm và hay nói chuyện vui cho học trò cười thoải mái. Sau đó ít lâu thầy qua đời khi còn rất trẻ. Bây giờ, tôi vẫn nhớ hình ảnh thầy Chấn, một nhà giáo mẫu mực, đáng kính và rất nhân hậu, dù đã hơn 60 năm qua đi rồi.

Năm 1940, sau khi tôi đậu bằng Sơ học yếu lược, bố cho tôi về Nam Định, ở nhà bác Lục. (Thời đó, chương trình bậc Tiểu học là 6 năm, từ lớp Năm đến lớp Nhất, học sinh phải qua 2 kỳ thi: 1/ Sơ học Yếu lược khi học xong lớp Ba, 2/ thi Cao đẳng Tiểu học (thường gọi là bằng Xéc ti phi ca (Certificat), sau khi học hết lớp Nhất). Bác Lục xin cho tôi học trường Jules Ferry, cours Moyen 1ère année (lớp nhì năm 1); Bố mua cho tôi một xe đạp, hằng ngày tôi đạp xe đến trường, chừng hơn một cây số. Thời gian này tôi được tự do như chim sổ lồng, không bị ai kiềm chế. Bác Lục thương tôi như con, hay cho tôi tiền ăn quà. Tính bác dịu dàng, hầu như chưa bao giờ bác la mắng tôi một lần. Có lần bị anh Khánh, con trai bác ăn hiếp, tôi mách bác, bác mắng anh: Đồ Cochon, sao bắt nạt em! (cochon là con heo). Bị  bác mắng, anh Khánh khóc và tôi cứ ân hận mãi.

Có lần chú Thược (làm sở hỏa xa) đi về Hà Nội, bác bảo tôi viết thư cho bố. Sau khi duyệt thư tôi,  bác ghi thêm mấy chữ gửi cho bố tôi: “Ton fils est très turbulent!” (Con của em nghịch ngợm lắm!) Hồi đó tôi không hiểu chữ “turbulent” là gi, khi hỏi chú Thược, chú nói dỡn: “turbulent” là thông minh (!); tôi khoái quá, tưởng bác khen, có ngờ đâu bác chê mình tinh nghịch. Ngày vui qua mau; không bao lâu tôi được lệnh di chuyển về Hà Nội. Lòng thật buồn từ biệt bác, nhưng có ngờ đâu lại là lần vĩnh biệt, bởi vì ngày 18 tháng 5, năm 1941, bác Lục qua đời vì bệnh nặng. Đám tang bác thật là trọng thể, và đó là cái tang lớn nhất trong đại gia đình họ Vũ từ xưa đến giờ. Bác yên nghỉ gần mộ cụ tổ bốn đời của tôi, cụ Tri phủ Vũ đức Khiêm ở cánh đồng đối diện bến May, thôn Thượng, làng Hoành Nha.

Về Hà Nội, tôi lên lớp nhì, năm thứ hai. Thầy giáo tôi, thầy Hạnh, có lần, tôi không nhớ đã lầm lỗi gì, tôi đã bị thầy dùng thước kẻ đánh tôi túi bụi; chưa hả giận thầy còn tát tôi đến tối tăm mặt mũi, vừa đánh thầy vừa nhiếc: “Quel espèce!” (Cái giống gì vậy!) Tôi vừa bị đòn đau, vừa bị sỉ vả nhục nhã, nhưng tôi cảm thấy nhục hơn là đau và vết thương tinh thần ấy, hơn 60 năm qua, còn in hằn trong đáy lòng tôi như một vết sẹo không sao phai mờ đi được. Hồi đó học sinh được dạy là phải kính thầy như cha, nên tôi không dám oán giận thầy, nhưng kỷ niệm đau lòng  ấy, cho đến nay, tôi vẫn không quên được!

Trong số các thầy học trường Sinh Từ, thầy Cao Duy Chinh dạy lớp Tư (cours préparatoire) thường dạy học trò nhảy lửa, một bài hát hướng đạo được  ưa thích. Mỗi chiều tan học, các học sinh lớp Tư được thầy Chinh hướng dẫn nhẩy lửa quanh một vòng lửa tưởng tượng; học sinh nắm tay đi vòng tròn, tiến lui nhịp nhàng rất đều và đẹp mắt, khiến cho đám học trò đứng vây quanh trầm trồ và mơ ước đưọc học lớp thầy Cao Duy Chinh. Bài hát có những câu như sau :

'' Les jeunes ont mis la flamme aux bois résineux''

''Écoutez chanter l'âme qui palpite en eux.''..

''Monte flamme légère, feu de camp si chaud si bon,

''Monte encore ,monte donc!

Feu de camp si chaud si bon!

 

Tạm dịch:

 

''Những chàng trai  châm lửa với những khúc củi có nhựa''.

''Xin lắng nghe hồn lửa reo bập bùng trong đó.''

''Hãy lên cao, ngọn lửa nhẹ nhàng,lửa trại ấm áp và tốt đẹp xiết bao'',

''Hãy lên cao, cháy to lên nữa đi'',

''Ngọn lửa trại ấm áp và tốt đẹp biết bao!'')

 

Lớp thầy Chinh có anh chàng Minh, cũng gọi là Minh mắt to, cậu này thường bắt nạt em Chỉnh. Chỉnh về mách tôi. Tôi liền viết chiến thư gửi cho Minh. Thư rằng: “Minh mắt to, chiều nay tan học, có giỏi ra sân cỏ sau nhà Giám (tức nhà Văn miếu), một chọi một. Không đến là hèn.''. Đến giờ hẹn, em Chỉnh và tôi thấy Minh mắt to đến chỗ quyết đấu. Tôi đưa cặp sách cho em Chỉnh cầm hộ rồi lao mình tới. Hai chú nhóc tì cỡ 9,10 tuổi, quần thảo một trận tơi bời.  Túng thế, Minh mắt to túm vạt áo dài của tôi xé cái roạt. Trận đấu còn tiếp tục, bỗng có tiếng kêu: đội xếp! đội xếp! (tức cảnh Sát). Hai đối thủ buông nhau ra, bất phân thắng bại. Hai anh em kéo nhau về  nhà cô Khôi, (em bố tôi) ở ngõ Yên Sơn gần đường Sinh Từ, nhờ cô vá lại vạt áo bị rách. Một thầy giáo nữa dạy lớp khác là Hoàng Đạo Thúy đã có lần tát vào má tôi mấy cái, làm tôi tối tăm mặt mũi, đang khi xếp hàng vào lớp (mặc dù thầy Thúy không dạy lớp tôi). Kỷ niệm đau đớn này hằn sâu trong tâm hồn chú bé 13 tuổi đến nay vẫn chưa xoá mờ; phần lớn học sinh trường Sinh Từ năm 1943-1944 đều biết tiếng thầy Thúy rất nặng tay với học trò.

            Một vị thầy nữa rất đáng kính vì thấy rất thương yêu học trò và hầu như không có ai bị thầy hình phạt bằng cách này, cách khác.  Thầy Thành dạy lớp Nhì (thân phụ các bạn Nguyễn Ngọc San và Nguyễn Ngọc Diệp). Anh San là sĩ quan Pháo Binh, còn anh Diệp học Y Khoa; đã hơn 50 năm rồi thầy Thành và các anh San, Diệp hiện ở đâu?

Năm 1943, phi cơ Mỹ ném bom quân đội Nhật (đang chiếm đóng Việt nam), nên Hà Nội cũng bị nhiều tang tóc. Có lần đang giờ học, còi báo động vang lên. Học sinh ra hầm trú ẩn.  Một lát sau máy bay đến, Hà Nội run rẩy dưới làn bom đạn như trời long đất lở. Trên đường về, tôi cùng hai em Chỉnh và Anh đi về nhà dọc theo đường Hàng Đẫy. Gần nhà in Taupin, (góc đường Hàng Đẫy và phố Hàng Lọng) có mấy xác người nằm, dưới những cành lá che phủ, ruột gan lòng thòng vướng mắc trên dây điện. Em Anh tôi mới lên 8 tuổi sợ quá khóc thút thít, tôi phải an ủi em và dỗ em nín khóc. Về đến gần nhà, cảnh tượng đổ nát chung quanh làm chúng tôi sợ hãi vô cùng. Căn nhà 248 Hàng Bông, nơi gia đình cư ngụ, cũng bị hư hại, trần nhà bị sụt một vài chỗ trong lúc bố tôi đang cầu nguyện, phải chui xuống gầm giường! Bố kể lại là trong lúc máy bay ném bom, bố quỳ, cầu nguyện, và đọc bài Thi Thiên 91: “Dẫu có ngàn người sa ngã bên ngươi, và muôn người sa ngã bên hữu ngươi, song tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi”. Đến lúc những mảng vôi trên trần rơi xuống, bố chui xuống gầm giường nhưng vẫn tiếp tục cầu nguyện. Thật là một tấm gương đạo đức và tin kính cho chúng tôi.

Mấy ngày sau, chúng tôi đến trường Sinh từ thì sân trường vắng tanh. Thầy Thành dạy lớp tôi trông thấy chúng tôi chào liền trả lời: “Bonjour, mes braves enfants!” (Chào những đứa trẻ can đảm cuả tôi) Rôi thầy cho biết là trường tạm đóng cửa. Sau đó, bố cho chúng tôi về quê nội. Chúng tôi xin hoc tại trường tiểu học Trà Bắc, cách quê ngoại, làng Xuân Bảng chừng 3 km, đi băng qua những cánh đồng ruộng lúa. Như vậy, em Chỉnh và tôi mỗi sáng dậy sớm, ăn cơm rồi đi học, dưới trời lạnh giá mùa đông cuối năm 1943, trên con đường quanh co dọc bờ ruộng. Con đường lầy lội, phải đi chậm từng bước vì rất dễ bị ngã vì trơn trượt.

 

Những  Ngày  Học  Trà  Bắc:

Giữa niên học 1943-44, vì tình hình an ninh, bố mẹ cho chúng tôi về quê nội, làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Em Chỉnh và tôi học lớp Ba và lớp Nhất trường tiểu học Trà Bắc, cách xa quê nội chừng 5,6 km. Những ngày đầu tiên, chúng tôi đi đến trường bằng xe kéo (pousse-pousse), hiện ở Nhật Bản có loại xe này, gọi là rickshaw; đến mùa đông mưa gió, đường xá lầy lội, chúng tôi được di chuyển bằng cáng (palanquin), có lẽ vì xe kéo trên đường quê bùn lầy bánh xe bị lún sâu, người kéo xe rất vất vả. Gần trường Trà Bắc, có nhiều người làm ruộng đang tát nước vào ruộng bằng gầu đạp. Những guồng máy bằng gỗ cọ sát nhau phát ra một âm thanh trầm buồn và đơn điệu, mà tôi nghe như những nốt nhạc: “la lá la la la là la!” ( tôi ghi bằng note nhạc là: do mi re do la sol do!) Giai điệu buồn bã này rung lên trong tâm hồn tôi, đến nay đã hơn 1/2 thế kỷ trôi qua, dường như vẫn còn vang vọng lại.

Khi đến trường, chúng tôi cảm thấy ngượng ngùng vì ngồi xe hoặc nằm cáng có vẻ trưởng giả và quan cách quá, nhất là cả trường hàng trăm học trò, không có ai dùng phương tiện “không giống ai” như chúng tôi. Tôi thưa mẹ tôi về điều này, và người quyết định cho chúng tôi về trọ học ở nhà ông bà ngoại, làng Xuân Bảng, chỉ cách trường Trà Bắc một cánh đồng và một con đò ngang. Mỗi sáng chúng tôi dậy sớm, ăn cơm sáng lót lòng; các con dâu của ông bà ngoại thay phiên nhau nấu cơm cho chúng tôi, lại nắm thêm hai vắt cơm đựng trong mo cau với thịt lợn kho, hoặc tôm rim mặn cho bữa trưa. Tôi muốn nói lên lòng biết ơn các mợ Hoà, mợ Thiệu, mợ Vinh, mợ Thuật, mợ Vọng đã hết lòng thương yêu chúng tôi, nấu nướng cho chúng tôi, không quản ngại thức khuya dậy sớm; các mợ thật là dịu dàng và quan tâm săn sóc các cháu.

Cùng đi học ở Trà Bắc, có các cậu em họ của mẹ tôi: cậu Hoàng Thọ Thê, cậu Hoàng Thọ Thu và Hoàng Thọ Nhụ, con ông bà cụ Hoàng Thọ Bạt là em cuả bà ngoại. (Câu Thê sau này mất sớm, cậu Thu sau là Hải quân Thiếu Tá, còn cậu Nhụ trước 1975 là Đại tá tỉnh trưởng Pleiku). Năm cậu cháu rủ nhau đi cùng cho vui, trên con đường nhỏ hẹp quanh co giữa cánh đồng làng Xuân Bảng. Đường trơn trượt, nên phải đi rất chậm và thận trọng kẻo ngã. Giữa cánh đồng, có những ruộng dưa hồng (loại dưa bở rất thơm ngọt giống như cantelope) được rào lại bằng tre gai, cậu Thê thường lấy chiếc dù đen móc trộm dưa rồi chia cho cả bọn ăn thoải mái.

            Thầy giáo Nhường dậy lớp Nhất rất nghiêm nghị và tận tâm dạy dỗ chúng tôi. Ngoài giờ học, chúng tôi được học hát các bài “Debout, Belle Jeunesse!” (Đứng lên, Tuổi Thanh Niên Tươi Đẹp!), “Maréchal, Nous Voilà!” (Thưa Thống Chế, Có Chúng Tôi Đây!) Ngoài ra, trong các giờ Sinh Hoạt Thiếu Niên, có thầy dòng Minh Tâm, từ nhà thờ Phú Nhai, đến dạy chúng tôi hát các bài của Hoàng Quý như: Tiếng Chim Gọi Đàn, Nắng Trong Khóm Cây v..v..Thầy Minh Tâm có giọng hát mạnh và rất lôi cuốn, chính thầy Minh Tâm đã hun đúc và hình thành trong tâm hồn tôi niềm yêu âm nhạc sau này.

             Hồi đó em Chỉnh 11 tuổi và tôi 13 tuổi rưỡi. Chúng tôi ở căn phòng kế bên phòng của ông ngoại. Ông ngoại hút thuốc phiện, từ phòng ông, mùi thơm khói thuốc  toả ra ngạt ngào. Tôi thích được vào phòng nhìn ông hút, mỗi khi hút xong một điếu, ông ngoại lấy ấm chè tàu nóng bỏng đưa lên miệng tu một hớp. Thỉnh thoảng, ông lấy trong hộp một vài chiếc kẹo lạc cho chúng tôi rồi bảo chúng tôi ra ngoài học bài. Trong căn phòng này, có một khung lớn treo trên tường, trong có một tấm hình anh Chang (anh cả tôi) ngồi quàng vai tôi. Anh đeo một chiếc khánh buộc bằng một sợi giây quàng trên cổ. Chiếc khánh bị lệch xéo sang một bên, vì hình như tôi đã kéo sợi giây làm nó nghiêng đi; tiếc rằng tấm hình này về sau đã bị lạc mất, vì đó là tấm hình chụp khi tôi mới chừng 2,3 tuổi. Gần đó, có hình ông ngoại cưỡi ngựa bạch trên chiếc cầu bên cạnh đình làng Xuân Bảng; nghe nói con ngựa này về sau bị trâu húc lòi ruột chết.

Mẹ từ quê nội thường lên thăm ông bà ngoại và anh em chúng tôi thật sung sướng quấn quýt bên mẹ. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc được xà vào lòng mẹ, được hít mùi thơm thân quen của mẹ. Mẹ tôi hồi đó chưa tới 40, và theo con mắt ngây thơ của tôi, mẹ tôi thật đẹp, cái đẹp dịu dàng của một phụ nữ thôn quê, không son phấn, không ăn mặc sang trọng như người ở thị thành; mẹ mặc áo satin đen, quần đen, trên đầu vấn khăn nhung như phụ nữ miền Bắc thập kỷ 1940, môi mẹ đỏ thắm vì ăn trầu. Khi gục đầu vào lòng mẹ, tôi ngửi mùi thơm nồng của trầu cay, mùi dầu Nhị Thiên đường, má mẹ hồng lên vì say trầu và cũng vì trời lạnh.

Ngày mẹ trở về quê nội, em Chỉnh và tôi tiễn mẹ ra đầu cầu Xuân Bảng. Chúng tôi ôm hôn mẹ, trước khi mẹ ngồi vào cáng. Hai anh canh điền nâng đòn cáng lên vai. Tôi quay đi mà hai hàng nước mắt tuôn trào. Tôi biết em Chỉnh cũng vậy, hai đứa cùng khóc nhưng cùng cố nén không muốn cho ai biết là mình khóc vì nhớ mẹ, dù mẹ về quê nội, chỉ cách xa có chừng 6,7 km.

Thấm thoát đã đến cuối niên học1943-44. Tôi chuẩn bị đi Nam Định thi bằng Tiểu học (tức là bằng Sơ học Bổ Túc Đông Dương (CEPCI= Certificat d'études Primaires Complémentaires Indochinoises). Ông nội tôi dặn dò tôi trước khi lên đường và trao cho tôi lá thư gửi nhạc phụ tương lai của tôi, cụ Mục sư Dương Tự Ấp, quản nhiệm Hội Thánh Tin Lành Việt Nam ở Nam Định, để xin phép cho tôi được tá túc tại nhà cụ trong thời gian đi thi. Tôi đáp chuyến xe chở khách chạy bằng than (lò gazogène) đi Nam Định, vì hồi đó ét xăng rất khan hiếm; lòng phập phồng lo sợ khi nghĩ đến phút trình diện nhạc phụ tương lai, nhưng cũng cảm thấy hồi hộp một cách thích thú khi nghĩ rằng sẽ thấy mặt fiancée của tôi, người mà tôi chỉ được nghe nói đến từ khi còn rất nhỏ.

Cũng như các học sinh thời ấy, tôi mặc chiếc áo dài bằng the đen, quần trắng, đội mũ trắng, loại mũ sau này thường gọi là mũ cối. Mẹ tôi tôi mới mua cho đôi sandales, nên trông tôi cũng gọn gàng và văn minh hơn ngày thường; chẳng lẽ ra tỉnh dự thi mà lê đôi guốc mộc thì quê quá! Tôi đến nhà nhạc phụ tương lai, số nhà 57 đường Duval De Sainte Claire gần chợ Rồng, Nam Định, tay xách chiếc va-li gỗ, nhỏ cỡ chiếc samsonite, nhưng dầy hơn chừng 20cm, bước vào gặp cụ Mục sư, chào rất lễ phép, tay run run dâng lá thư lên, miệng ấp úng: “Thưa cụ, ông nội con gửi cụ lá thư này!”. Cụ Mục sư thấy tôi rụt rè quá, nhận lá thư, đọc qua rồi gật đầu, vẻ hài lòng: “Thôi cậu đi rửa mặt, nghỉ ngơi rồi ăn cơm!”. Tôi vâng dạ, rồi xách đồ vào nhà trong, lòng mừng khấp khởi vì thấy rằng mọi sự có vẻ tốt đẹp.

Gần trưa, tôi nghe tiếng dép bên ngoài rồi chị Tài và một thiếu nữ chừng 13 tuổi, dáng người nhỏ nhắn bước vào. Tôi cảm thấy người nóng ran, và linh tính cho biết rằng đây chính là fiancée của tôi. Trộm liếc dung nhan, tôi thấy cô bé có khuôn mặt trắng trẻo, đôi mắt xinh như con búp bê Nhật Bản, và mái tóc dài kẹp thả xuống sau lưng. Trong bữa ăn, tôi quan sát cô bé kỹ hơn, và thích thú nhìn cô bé ngồi ăn nhỏ nhẹ như một con mèo. Bữa ăn có nhiều món, nhưng có một món thật lạ, mùi thơm ngạt ngào như mùi rượu, nghe nói là món “đậu phụ nhự”, sau này vào Nam tôi mới biết là món chao.

Chúng tôi  làm quen mau chóng, qua một vài lần chơi ping-pong ở nhà ngang. Kỳ thi đó, chúng tôi cùng thi đậu, bố tôi thích lắm, cứ nói là “phu phụ đồng khoa!”, (tức là cả hai đứa (vợ chồng) cùng đỗ một khoa, dù chỉ là đỗ bằng Tiểu học!).

Sau đó tôi trở về quê, đáng lẽ “vinh quy bái tổ” thì phải vui lắm, mà sao tôi thấy lòng buồn man mác, dường như “một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ” (thơ Huy Cận?)... ..

Tháng 9-1944, tôi thi đậu vào lớp Đệ Thất trường Bưởi, (Trường Trung Học Bảo hộ = Lycée Du Protectorat). Từ nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa trung học!

 

Trường   Bưởi - Chu Văn  An

Tháng 9-1944, tôi thi  đậu vào Trường Bưởi, (Lycée Du Protectorat).  Trường tọa lạc trên khu đất thuộc làng Bưởi, gần Hồ Tây, có tên chính thức là trường Trung học Bảo hộ. Những năm trước đó, vì lý do an ninh, một số  lớp  phải di tản về Tiểu Chủng Viện Phúc Nhạc, phần lớn còn lại được di tản về Đại Chủng Viện Thanh Hoá, gần Núi Mật. Gần ngày nhập trường, tôi đi cùng anh Cả lên xe lửa vào Thanh hóa. Lần đàu tiên đi xe lửavào miền Trung, tôi rất thích thú ngắm phong cảnh núi đồi bao la trải dài dọc theo tuyến đường sắt.  Chú bé 14 tuổi chỉ biết mở rộng cặp mắt để say sưa ngắm nhìn  hình ảnh đẹp tuyệt vời của quê hương. Gần tới Thanh hóa, tầu đi chậm lại khi  qua cầu Hàm Rồng, một kỳ công xây  dựng với hai đầu cầu gối lên trên chân núi ở đôi bờ Sông Mã.

            Tàu vào ga Thanh hóa, chúng tôi được đưa đến Đại Chủng Viện, nơi đây  phần lớn học sinh ở lưu trú, tức là học, ăn, ngủ, ở, ngay trong trường. Hiệu trưởng (Proviseur) là một người Pháp, Giáo sư Perruca, các ông Giám học (Censeur), và Quản lý (Économe) cũng đều là người Pháp. Tụi chúng tôi là lớp thấp nhất trong trường; học sinh lớp đệ Thất ban Cổ văn Viễn Đông( Classe de 6ème E.O.tức là 6ème classique Extrême Orientale). Sinh ngữ chính là Pháp văn, Hán văn là Sinh ngữ thứ yếu, còn tiếng Việt được coi như ngoại ngữ thứ yếu dưới cả Hán văn. Thầy Dương Quảng Hàm dạy Việt văn, bằng các tài liệu trong Việt Nam Quốc văn Trích Diễm, thầy Nguyễn đức Phong dạy Hán văn và Pháp văn, cô Caillot (người Pháp) dạy Vạn Vật (Sciences Naturelles), thầy Phục dạy Sử và Địa lý.  Chừng một hai tháng sau, thầy Phục qua đời. Đám tang thầy Phục rất trọng thể. Các anh lớp lớn (ban Tú Tài) khiêng quan tài thầy ra mộ, tất cả khóc lóc thảm thiết. Tụi nhóc chúng tôi cũng khóc sụt sùi thương thầy Phục hiền lành yểu mệnh.

            Lớp 6è E.O. chúng tôi chừng 40 người, được xếp vào phòng ngủ (dortoir) tầng dưới, rất gần nhà ăn(réfectoire). Mỗi sáng, sau khi làm vệ sinh, chúng tôi được lệnh xếp hàng hai, đi vào phòng ăn sáng. Trên chiếc bàn gỗ không được sạch sẽ lắm, có một thau cháo lỏng loét và mấy chiếc bát cùng thìa muỗng nằm chỏng chơ. Chúng tôi nếm cháo và cảm thấy rất khó nuốt vì cháo được nêm bằng muối và một chút đường đỏ, rất nhạt nhẽo. Tôi cố gắng nuốt cho trôi một chén cháo để có sức mà vào lớp học.

            Buổi trưa, lại xếp hàng vào phòng ăn. Có một điã giá xào, một điã thịt bò xào rau, thịt bò dai như cao su, nên chúng tôi gọi là thịt bò quai guốc. Tình trạng này kéo dài liên miên tưởng như bất tận, và chúng tôi phải cố gắng chịu đựng cho quen với nếp sống khó khăn đạm bạc.  Sau những giờ học, buổi trrưa cũng như tối, học sinh phải vào  phòng học (salle d’études) để học và làm bài, có các giám thị (surveillant) trông coi (études surveillées).

            Dường như có một truyền thống  hận thù giữa học sinh và các thầy giám thị. Các thầy giám thị thường xét nét, để mắt tới đám học sinh, nhất là các học sinh mới vào trường như chúng tôi để tìm bắt lỗi và hình phạt bằng cách cấm túc (consigné) học sinh, không cho ra phố ngày Chúa nhật hoặc ngày lễ. Để trả đũa, học sinh thường tìm cách phá giám thị, hoặc đặt biệt hiệu cho các thầy giám thị, ví dụ thầy Bình dược gọi là Bình Tàu Phè, Thầy Mộng Lác, thầy Thiết Bì và sau hết là thầy Tín Nghệ.  Biệt hiệu này do một bạn học trong lớp 6ème E.O. đặt cho thầy vì thầy Tín nói tiếng miền Trung và nghe trọ trẹ như miền Nghệ Tĩnh; còn các biệt hiệu kia đã có từ trước khi tụi nhóc chúng tôi nhập trường. Thầy Tín Nghệ dường như không ưa gì tôi, mặc dù tôi là đúa hơi nhút nhát và chưa bao giờ dám có ý nghĩ phá phách hoặc hỗn láo với các thầy. Có một lần, tôi không nhớ đã lầm lỗi gì mà tôi bị thầy Tín điểm  mặt:’’Mi lảo quả!’’(Mày láo qúa)

            Có lần tôi bị phạt cấm túc, không được ra phố ngày Chúa nhật. Anh Cả tôi đi nhà thờ một mình, chắc anh buồn  tôi lắm nhưng đã không nỡ la tôi một lời! Tôi ngồi trong phòng học một mình, đem sách ra học nhưng lòng thật cay đắng vì bị đối xử quá khắt khe!

            Thầy Tín Nghệ dường như có vẻ hả hê vì đã phạt tôi buổi cấm túc. Buổi tối hôm đó, thầy Tín coi phòng học của lớp 6ème E.O., phòng học có vài anh lớp trên đến ngồi học, vì còn rộng chỗ. Thầy Tín Nghệ đi lại trong phòng, tiếng gót giầy gõ lộp cộp thành những tiếng đông chói tai. Anh học sinh lớp trên bực mình đứng dậy, nói dõng dạc: ‘’Monsieur, nous vous prions de ne pas claquer les souliers pour nous laisser travailler.’’ (Thưa ông, chúng tôi yêu cầu ông đừng nện gót giầy để chúng tôi học bài!’’). Thầy Tín giận lắm, ngừng lại,  lên bàn giáo sư ngồi canh chúng tôi. Tất cả đều hả dạ khi thấy anh học sinh lớp trên dám có ý kiến với giám thị như vậy

            Tôi ngồi cạnh Trần Nhật Bằng, chàng này con nhà giầu, học không xuất sắc lắm. Nhật Bằng thường hay hát nghêu ngao bài hát Bện Suối Vắng của Hoàng Qúy:

‘’Chiều mơ kia, bên suối vắng,anh cùng em ngồi’’.

‘’Ngàn lau xanh xưa vẫn đó, em giờ đâu rồi. ‘’

...........................

‘’Xa vắng em bao ngày tháng, anh mong chờ.’’

Lớp 6ème E.O. còn một vài người nữa, sau này rất nổi tiếng như Nguyễn Cao Kỳ, Phan Phụng Tiên, Nguyễn Cao Quyền, Phạm Đình Chươngv..v..

Ngày 9 tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Toàn trường họp nhau bàn luận và quyết định bỏ học, kéo nhau về Hà-nội. Trên Quốc lộ 1 từ Thanh hoá, một đoàn học sinh chừng 5, 6 trăm người, từ 14, 15 đến 19, 20 tuổi dắt dìu nhau, qua cầu Hàm Rồng, Bỉm Sơn, và nhiều địa danh khác tôi không nhớ hết, đã tới thành phố Nam định hai hôm sau, khi đã đi bộ trên chặng đường dài hơn 80 km. Chúng tôi được quan Tổng Đốc Nam Định, Cụ Từ Bộ Thực tiếp đón, cho vào khu vực dinh Tổng Đốc nghỉ đêm. Cụ cũng cho mổi người một nắm cơm vắt và mấy miếng thịt heo ram mặn. Sau đó, anh Cả và tôi tách ra , về quê nội làng Hoành Nha , vì anh thấy tôi không đủ sức vượt chặng đường 87 km về Hà Nội. Trên đường về quê, khung cảnh đói kém hiện ra trước mắt: Từng đoàn người dân quê kéo nhau ra thành phố xin ăn, có nhiều người mệt yếu vì đói nằm gục bên vệ đường. Năm đó, 1945, miền Bắc có khoảng 2 triệu người chết đói.

CVA Vũ Đức Nghiêm

 

Trời Hương Phấn Cũ

 

Khi giông tố loạn cuồng thung lũng nhỏ,

Giữa đêm sâu.bừng nở đoá hoa thần.

Ta bàng hoàng rung động cả châu thân

Như cánh bướm phân vân muà hợp tấu.

 

Từng đêm vắng, ta gọi người yêu dấu

Lời dịu êm như gió nhẹ thì thầm,

Cả ngàn lần, ta gọi khẽ, bâng khuâng

Nghe dĩ vãng lâng lâng niềm thương nhớ:

Ơi Ly Cơ! ơi Tình Yêu Lầm Lỡ!

Đêm mê cuồng bỡ ngỡ gọi tên em

Mây bay cao, ngờ xiêm áo vương thềm,

Nhìn sao nhớ mắt em ngời lóng lánh.

Ơi Ly Cơ! ơi Thiên Thần Gẫy Cánh!

Khát vọng ngàn xưa sống dậy chập chờn

Sâu vô cùng trong tiềm thức cô đơn.

Son phấn cũ ngát thơm hương ngự uyển.

Thưở em về, cả núi đồi rung chuyển

Sao trời đêm ngời sáng ngọc lưu ly

Dạ lai hương ngào ngạt lối ta đi

Dìu em bước dưới khung trời sương khói

Vào Mê Cung .. ..Nhạc tiêu thiều nhẹ trổi,

Đêm huyền hồ ảo giác lạnh xương da.

 Đón em. về, sông nước gợn âm ba,

Ôi giây phút trao nhau tình bỡ ngỡ,

Dung quang em, sao cực kỳ rang rỡ,

Ta nghiêng mình cúi xuống  nụ hôn thơm

Ngan ngát hương lan, rời rụng linh hồn

Trôi lãng đãng ngàn trùng khơi viễn xứ.

Ta đưa em vào thiên thu tình sử,

Rồi nghẹn ngào thương nhớ bóng giai nhân.

Hờn chia phôi chất ngất đến lạc thần,

Đau choáng váng đáy mộ phần tâm thức,

Hương phấn cũ khơi sâu niềm ray rứt,

Ta gục đầu lệ ướt đẫm xiêm y.

Ảnh hình xưa đài các đến kiêu kỳ

Chợt thoáng hiện rỡ ràng trong tiếc nuối:

 

Khoé hạnh đong đưa, mây trời chết đuối,

(Mây soi mình trong dòng suối long lanh).

Ngón tay thon mềm, tháp bút mong manh,

Từng mơn trớn dỗ dành ta hờn giận.

Tóc buông lơi, cho liễu dài ngơ ngẩn

Gót chân son tha thướt gấm hài thêu

Trong Mê Cung bừng rực dáng tiên kiều

Làm lịm tắt cả nắng chiều chang chói.

Ta si dại ngước nhìn em, bối rối,

Tự đáy hồn buốt nhói dậy chiêm bao.

Linh hồn ta vụt chắp cánh bay cao

Bay lên cõi trăng sao, miền quên lãng..

Nhớ thương rồi, ta mơ về dĩ vãng:

Lối cỏ mòn vương ánh nắng hoàng hôn,

Vườn đào nghiêng nghiêng lũng thấp cô thôn

Nghe ríu rít tiếng chim non rộn rã.

 

Trời vần vũ, tình gọi tình vật vã,

Ta bàng hoàng từ giã mộng Liêu Trai

Mà khôn nguôi thương nhớ gái Dao đài.

Rèm chao động, mái hiên ngoài thoáng hiện.

Thắp nén hương lòng rưng rưng ước nguyện

Đợi em về, xao xuyến gót kiêu sa.

Phấn trầm vương lưu luyến  bước ngọc ngà.

Toàn thân ta vỡ oà như tê dại.

Thoảng trong gió, mùi hoắc hương thần thoại,

Gió lay màn, mê mải ngắm dung nhan.

Phải em từ Quần Ngọc xuống trần gian?

Ròi vào hư vô, biến tan bằn bặt?

 

Như dòng thác bạc thủy ngân trong vắt

Đổ xuống tràn vào Vô Thức lãng quên.

Ta say sưa, ôm ghì chặt Ưu Phiền,

Ròi kiêu hãnh phá lên cười ngạo nghễ.

Ném cả bình sinh vào lòng Hưng Phế,

Ngẩng mặt nhìn đời, thách đố Thương Đau.

Xa em rồi, tình ta biết về đâu?

Thương em nghẹn lời, nước mắt chìm sâu!

 

CVA Vũ Đức Nghiêm

Trại Tù Long Giao, Tháng 11-75

* * *
 

 

TAM PHÚNG

                                                CVA Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc

                                                 (viết theo TTN kể)

            Bà tôi dùng khăn chấm những giọt mồ hôi rịn trên trán tôi rồi người kể tiếp: Năm đó, dòng họ chết gần hết. Mà cả làng, cả tổng cùng chịu chung số phận như vậy. Ai may mắn lắm mới sống sót. Bà im lặng, hình như bà muốn mếu. Bà đau xót nhớ đến những người thân yêu. Chỉ một sớm một chiều, bà mất cha, me, anh, chị và em. Thân côi cút một mình, may bà còn người chú tử tế nuôi nấng cho thành người. Bà quay đi quệt nước mắt, nghẹn ngào chặn  tiếng nấc xót xa. Bà tôi nói tiếp tiếng người ngắt đoạn:.

            - Ngày mai là ngày Giỗ Trận đấy cháu ạ. Trong vùng mình, nhà nào cũng có người chết. Có nhà không còn sống một người. Có xóm cả xóm chết hết, lấy ai mà giỗ chạp cho, nên cả làng chung nhau giỗ chung một giỗ ngoài đình làng, có ý là giỗ cả những người trong nhà không còn ai lo giỗ cho.

            Bà chép miệng kể tiếp: Hôm đó là ngày 12 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1892), một ngày nắng đẹp, bầu trời trong sáng, mặt trời mới lên được hai con sào, ngoài biển tự nhiên phát một tiếng nổ thật lớn, xong nổ rền thêm một hồi nữa mới im bặt. Mọi người ngơ ngác hoảng hốt, nước biển rút ra thật xa. Ngay lập tức ùn ùn kéo trở lại ngọn sóng cao ngất trắng xóa trông thật khủng khiếp. Hồn phiêu phách lạc, mọi người kêu nhau chạy trốn bức tường trắng xóa tràn vào đất liền. Năm đó bà mới có 9 tuổi, bà cùng cô em gái con ông chú leo lên cây soan xong chuyền lên nóc nhà bếp.

            Ngừng một lúc như để nhớ lại chuyện cũ, cũng có thể niềm đau làm bà phải ngắt đoạn, bà kể tiếp: Cơn sóng nước vừa di chuyển thật nhanh, vừa hung hãn quét sạch bất cứ vật gì trên mặt đất. Trâu bò bị đánh ngã trước khi cuốn theo cơn sóng, kể cả những con trâu được cột vào cọc cũng bị cuốn  theo giòng nước.  Nhà cửa bị phá tan tành, chỉ một số mái nhà lợp bổi hay lợp rạ là trông còn nguyên vẹn nhưng cũng bị phăng phăng cuốn theo giòng thác lũ. Sức nước mạnh không sao kể được, không một sinh vật nào dưới đất có thể sống sót, hay còn hình hài nguyên vẹn. Tất cả đều bị vùi dập, cuốn theo giòng nước. Ngay cây soan mà bà và cô em leo lên rồi chuyền sang mái nhà bếp cũng bị đánh ngã.  Lúc đó, hai chị em bảo nhau ôm chặt lấy mái nhà.  Cơn sóng bão đưa mái bếp từ nhà ta mà tới mãi tận Thanh Hương-Hà Cát mới vướng vào một bụi cây rồi mới ngừng lại.  Một số đông người không may bị trôi xuống sông Hồng Hà rồi cũng mất xác mà thôi.  Cũng may là lúc đó cơn sóng cũng giảm dần rồi bớt hẳn cơn thịnh nộ.

            - Bà ơi, vậy bà bị trôi đi có xa không, bao lâu nước mới rút hết?

            - Nhà mình thuộc ấp Hành Thiện, xã Lạc Thiện, tổng Lạc Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.  Từ nhà mình tới Thanh Hương-Hà Cát, đường thẳng khoảng 4 cây số.  Đến lúc nước rút thì mặt trời đã lặn, bà và cô em gái con ông chú nhỏ hơn bà một tuổi, tuột xuống đất, lúc đó đã có nhiều người lớn tiếng gọi nhau, hai chị em tự nhiên bật khóc đi tìm bố mẹ. Họ hàng, lúc đó mới biết nếu ai còn sống đều trôi đến khu đó. Hai chị em đang khóc nghêu ngao thì gặp được bố mẹ cô em tức chú thím của bà. Ngày hôm sau tìm kiếm thêm, lúc đó mọi người đã về lại nhà của mình chỉ còn lại nền nhà mà thôi, nhà xây cũng như nhà bổi đều giống nhau. Gia đình bà chết hết, chỉ còn sống có một mình bà, có người thấy xác, có người mất xác.  Người nào có thân nhân còn sống thì được chôn cất tử tế, còn người nào không có thân nhân thì được chôn chung, đến manh chiếu rách cuốn thân cũng không có.

            - Bà ơi, vậy có chương trình cứu giúp gì hay không?

            - Nghe đâu có cứu giúp, nhưng những người trong thôn xã mình, chỉ ngậm đắng nuốt cay một mình mà thôi.

            - Vậy không còn gì trên mặt đất thì lấy gì mà sống?

            - May quá, lúc đó bên ngoại của bà ở Trà Lũ, bà lên đó xin ít quần áo cũ và vay mượn lúa giống, lúa gạo ăn hàng ngày để sống qua ngày.

            - Còn những người trong thôn lấy gì mà sống?

            - Thì họ cũng vay mượn lo cấy cầy mà ăn chứ biết làm sao.

            - Bà ơi, sau đó có bị bệnh tật gì nữa hay không?

            - Có.  Một số người bị bệnh “thổ tả”làm mọi người lo lắng vô cùng, nhưng cũng may tự nhiên nó hết, khổ nỗi lúc đó đến vôi bột rải trừ tà cũng không còn.      

            - Bà ơi, còn năm Ất Dậu thì chết làm sao hở bà?

Bà tôi rùng mình, như không muốn kể cho tôi nghe, nhưng sau đó bà lấy lại bình tĩnh bắt đầu bằng tiếng thờ dài, đôi mắt bà trũng sâu như đang nhìn vào khoảng tối bao la đầy thương tâm, đầy oan nghiệt: Năm Ất Dậu còn thê thảm hơn nhiều. Đi đâu cũng thấy xác chết. Chết trên bờ đê, chết ở vỉa hè, chết ngoài gốc cây, chết trên bờ ruộng. Có người trên miệng còn nắm lúa đang nhai dở. Năm Nhâm Thìn cũng chết đau đớn nhưng người chết được chết ngay, không lay lứt ngày này sang tháng khác. Năm Ất Đậu người chết nhìn thấy mình sắp đi vào cõi u tối mà không sao chết ngay được. Cơn đói hành hạ người tháng này qua tháng khác, ngày này qua ngày khác, giờ này qua giờ khác rồi kiệt lực mà chết. Chết cong queo, chết trên người đầy rận chấy, dơ dáy, vì không còn đủ sức tắm rửa. Thấy cảnh người chết thương tâm lắm cháu. Có người mẹ chết ngồi đó, mà con thơ miệng vẫn đang ngậm vú mẹ.

            Năm đó bà đang ở trên thành phố Nam Định. Sáng nào cũng có người chết trước cửa nhà. Lúc đầu còn sợ hãi sau quen dần, sáng nào cũng có xe cút kít do người kéo đi lượm xác, có người còn cố gắng sức tàn kêu van: “Ông ơi tôi còn sống tôi chưa chết”. Nhưng người khiêng xác không thèm để ý đến lời nói đó, vì họ thấy nửa phần dưới đã lạnh, im lặng quăng xác người chưa chết hẳn lên xe đem chôn, miệng người khiêng xác lẩm bẩm “Không chết trước thì cũng chết sau thôi, sống sao được”. Nhiều người nghe được tiếng van xin nhưng không ai can thiệp.  Thê thảm vậy đó cháu, tình người hầu như không còn nữa, nhường cho miếng cơm manh áo là chính.

            - Bà ơi, vậy tại sao mà có nạn đói như vậy?

            - Bà thấy nhà mình năm Giáp Thân phải nộp hai lần thuế: Thuế cho Pháp, xong rồi thuế cho Nhật. Bọn Nhật dã man hơn bọn Pháp, ai thiếu thuế là bị tù, thậm chí còn bị bắn nữa. Thật sự không ai muốn thiếu thuế, nhưng còn đâu mà nộp, nhất là năm Giáp Thân vụ mùa lại không tốt nữa, nhà mình tuy không đến nỗi chết đói, trẻ nhỏ còn có cơm ăn, nhưng người lớn ai cũng phải ăn cơm độn khoai sắn hay cám, mỗi ngày hai bữa cháo một bữa cơm.

            - Bà ơi, cháu nghe nói bọn Nhật bắt dân mình phải phá lúa trồng đay nên dân mình không đủ ăn phải không bà?

            - Ở đâu thì bà không biết, chứ ở quê mình thì do thu thuế nhiều quá mà thiếu ăn. Ngày trước, Pháp thu một lần thuế cũng đã có nhiều người không đủ ăn, nay bọn Nhật thu thêm một lần thuế nữa thì làm sao mà không đói cho được. Bà không thấy ở quê mình phải trồng đay, châu thổ sông Hồng Hà và sông Thái Bình ruộng trũng làm sao mà trồng đay cho được.

            - Bà ơi, cháu nghe nói bọn Nhật thu lúa xong rồi lấy lúa đem đốt để chạy xe lửa thay than phải không bà?

            - Bà không thấy, nếu đốt lúa thì lúa cháy không có nhiều nhiệt như than làm sao chạy xe cho được!

            - Bà ơi, một người bán cám trộn mạt cưa, làm ngựa của Nhật chết, bọn Nhật bắt người đàn bà có thai bán cám đó, đem mổ bụng con ngựa chết, lấy hết ruột gan ngựa chết ra xong cho người đàn bà khốn khổ kia vào trong bụng ngựa khâu lại đem chôn sống phải không bà?

            - Bà nghe nhiều người nói như vậy, nhiều nơi bị như vậy, nhưng chính mắt bà thì không thấy.

            - Bà ơi, thấy đói như vậy mà không ai cứu họ sao?

            - Có chư.  Những nhà còn lúa gạo như nhà mình đều có nấu cháo, hay nấu cơm đem phát hàng ngày hay hàng tuần cho họ, nhưng có thấm tháp vào đâu, có người chờ phát cơm cháo (phát chẩn) thì đã  chết tại chỗ.

            - Bà ơi, vậy chính phủ không cứu hay sao?

            - Lúc đó bọn Nhật đang cai trị mình, chính nó thâu thuế thêm, dân mình mới chết đói, mục đích của nó là làm cho dân mình không đủ ăn để dễ cai trị, cũng như vậy bọn Cộng Sản và Thực Dân chúng cùng một chính sách như nhau để dễ cai trị mà, vì vậy chúng không hề cứu trợ.

            - Bà ơi, thế ở miền Trung và miền Nam nước ta có bị đói không?

            - Không cháu ạ, vì hai miền đó không bị Nhật thâu thuế như miền Bắc, miền Bắc không may bị quân Nhật đóng đông hơn, chúng làm bàn đạp đánh Trung Hoa, chúng cần lương thực, cho cuộc chiến mới.

            - Bà ơi, vậy đồng bào miền Trung và miền Nam có biết đồng bào miền Bắc đói hay không?

            - Bà nghĩ là biết nhưng mọi phương tiện chuyển vận do chúng nắm, và thông tin không có cho nên có biết cũng ít mà thôi. Hơn nữa, lúc đó bọn Pháp chia nước Việt Nam mình làm ba miền để trị, cho nên mình không có tinh thần Quốc Gia, thiếu tinh thần nhân đạo, nên không có tổ chức nào đứng ra kêu gọi cả.

            - Bà ơi, vậy miền Bắc chết đói có nhiều hay không?

            - Nhiều lắm con ạ. Sau này theo thống kê bà không nhớ con số chính xác, nhưng chết khoảng 1/10 dân số tức là chết khoảng 1 triệu 5 trăm ngàn người, đặc biệt là đồng bào ruột thịt làm ngơ, và cả thế giới cũng làm ngơ!

            - Ô hay, sao lại như vậy hở bà?

            - Thật sự, bà không hiểu tại sao lại cả thế giới cùng làm ngơ, mà dân tộc ta sao lại phải đón nhận nhiều bất công, tàn nhẫn đến như vậy!

            Năm nay là lần giỗ thứ 40 của bà tôi, tôi hỏi mẹ tôi, tại sao bây giờ Bão Trận Tsunami lại được thế giới giúp nhiều vậy mẹ?

            - Tại bây giờ phương tiện truyền thông quá rộng rãi, đánh thức lòng nhân đạo của mọi quốc gia, mọi tầng lớp xã hội.

            - Mẹ ơi, dân tộc Nhật Bản còn thiếu dân tộc Việt Nam mình lời xin lỗi để xóa đi sự độc ác của giới Quân Phiệt Nhật Bản?

            - Đúng đó con. Tuy nhiên, bọn cai thầu tại Bắc Bộ Phủ há miệng mắc quai.

CVA Bùi Đức Lạc

* * *

 

THÀNH PHỐ TUỔI THƠ

 

CVA Kim-Vũ

          

   

 Rời vùng quê xơ-xác hoang-tàn, Tích theo gia đình về thành vào những năm đầu sau khi Pháp trở lại miền Bắc. Những năm chiến-tranh khốc-liệt tại nhiều vùng nông-thôn khắp nước. Nhưng Hà-Nội thì thật yên-bình, và cậu bé đã qua những năm thơ-ấu khá thơ-mộng.

            Hà-Nội những năm đầu hồi-cư còn lưu nhiều vết-tích đổ-nát. Khu phố Tích ở, gạch vữa còn ngổn-ngang. Tích còn theo những đám trẻ đi đào tìm những đồng “xu cạch” chôn dấu đâu đó. Phố xá còn vắng-vẻ hoang-sơ, và không-khí thì bao giờ cũng như là vào thu. Cây cối chỉ còn trơ cành, và những cơn gió lạnh heo-may nhắc người ta đan áo cho mùa đông.

            Tích bắt đầu đi học trường công, vào lớp đồng-ấu, rồi lên dư- bị, sơ-đẳng. Một cậu học trò chăm-chỉ, không có gì xuất-sắc, tuy vẫn lên lớp đều. Thế-giới của cậu bé là căn nhà, ngôi trường, và quãng đường đi học. Phong-cảnh là Hồ Gươm, Hàng Bông, Hàng Gai, cho đến Lò Sũ, với đôi khi một chuyến đi lên thăm nhà ông Bác ở tận Godard.

            Cảnh Hà-Nội có thể nói là buồn, nhưng đối với cậu bé lại chỉ là một vùng mơ-hồ và thơ-mộng. Tâm-hồn cậu bé bình-lặng và tinh-khiết lắm. Một ly cocktail trái cây mà ông chú nhạc sĩ nghèo khoản-đãi tại một phòng-trà lúc ban ngày, khi trống kèn đã xếp lại, và bàn ghế trống trơn, đối với Tích cũng đủ là một kinh-nghiệm khó quên. Hoặc một buổi đi ăn cơm Tàu “Siêu-Nhiên” ở Hàng Buồm, ngồi trên lầu cao, nhìn hai bên tường gắn gương suốt dọc và đèn néon sáng choang, tưởng như mình ở trong một căn phòng rộng không nhìn hết nổi.

            Những kỷ-niệm vui rất ít, và chỉ vào độ xuân về, trời se lạnh, không-khí mới rộn lên với những cành đào, với những ông đồ viết câu-đối, với những buổi xem chiếu bóng tuyệt-vời. “Samson và Dahlila”, “Ali Baba và 40 Tên Ăn Trộm”, “Dừng Bước ở Hoa-Tây”, và nhất là “Cô Bé Lọ Lem” của Walt Disney, cái không khí thần-tiên diễm-tuyệt, nên-thơ và tươi-mát. Tích yêu cô bé lọ lem còn hơn yêu một người thật. Nghe tiếng hát cao vút của cô khi cọ nhà, nhìn theo muôn ngàn bọt bóng xà-phòng bay lên cao, cậu bé tưởng chừng hồn mình cũng được đưa lên đến chốn trong-lành tinh-khiết của miền đất hoang-đường không rõ nét. Cả đến bà mẹ ghẻ khắc nghiệt và những cô em ghẻ chua ngoa cũng mang một vẻ gì dễ thương mà không độc ác.

            Ngày tháng trôi qua bình-lặng nhẹ-nhàng. Thế-giới chiến-tranh hoàn-toàn nằm ngoài ngưỡng cửa tâm-thức của Tích. Những người lính Pháp và Lê-Dương, ngay cả đến những người lính “tây đen rạch mặt” Sénégal hay Maroc mà Tích vẫn thường gặp khắp nơi, cũng không lưu lại trong Tích một ấn-tượng ghê sợ nào. Thế giới của Tích hiền-hòa quá, thơ-mộng quá. Nó được thu gọn trong mái ấm gia-đình và ngôi trường nhỏ bé hiền lành, với vài thằng bạn tuy có khi ngổ ngáo nhưng tựu-trung vẫn mang cốt-cách “hiền khô”.

            Rồi ba anh em Tích “vào sói”. Mỗi chủ-nhật đi họp, học đánh morse, học tìm dấu đi đường, học giải-khóa mật-hiệu, đi cắm trại ven thành-phố. Học mỗi ngày làm một việc thiện, làm thì cứ làm, nhưng không bao giờ ghi chép ngay. Chỉ năm phút trước khi đi họp ngày Chủ-Nhật mới quýnh-quáng dở sổ ra ghi liền một dọc. “Bế em”, “vứt vỏ chuối”, “vứt mảnh chai”, vv… Những việc tầm-thường thế thôi, nhưng giúp tạo trong tâm-hồn đứa nhỏ non-nớt một cái nhân tốt, một tâm-niệm còn giữ mãi về sau.

            Rồi Tích thi đậu tiểu-học, rồi thi đậu vào trường trung-học công-lập. Thật là một thành-tích. 50 người chọi 1. Chẳng hiểu sao cậu bé làng-nhàng ấy lại qua nổi kỳ thi đấu gay-go như vậy. Hình như cái gì đối với Tích cũng có vẻ dễ-dàng, giản-dị.

            Lớp học đến hơn 50 người, Tích cũng chỉ xếp hạng được vào khoảng 30. Có lần lên được thứ 7 đã coi là một thành-tích lớn, cậu bé đã tự thưởng cho mình một cái vé đi xem kịch mua chịu tại trường, làm bà mẹ khi biết chuyện phải lấy làm ngạc-nhiên và gặng hỏi: “Ai cho phép con mua vé vậy?” Nhưng rồi cuối cùng bà cũng móc hầu bao lấy ra năm hào đưa cho đứa con quý-tử trả nợ cái vé ôn-dịch, tuy tình-hình kinh-tế gia-đình Tích cũng không lấy gì làm sáng-sủa cho lắm.

            Lần đầu tiên được học Nhạc và Vẽ trong những lớp riêng, và vào lớp Lý-Hóa với những dụng-cụ thí-nghiệm lạ lùng, Tích thấy mình “người lớn” ra trò. Tuy nhiên cậu bé cũng chẳng thích môn nào cả. Học chăm không cần biết tại sao, ngoài việc “làm vui lòng mẹ”. Mẹ cũng lâu lâu thưởng cho vài hào đi ăn bánh tôm hay thịt bò khô trước cổng trường, ngon vô kể.

            Ong giáo dạy Pháp-văn và Việt-văn rất thích thơ phú, đã tự mình soạn ra những bài giảng đặc-biệt, ghi lại những đoạn thơ ngắn của nhiều tác-giả, Tích chép lại và cũng thấy thích thú, nhưng chưa thật cảm nghiệm, nên sau này rồi cũng quên hết. Duy có một đoạn mà cậu bé nhớ hoài trong tiềm-thức, đến mãi về sau này, sau khi bao nhiêu chữ thầy trong suốt đủ 12 năm đèn sách đã trả cho thầy bằng hết, những dòng chữ hầu như rất bình-thường đó vẫn còn lưu lại trong trí-nhớ chàng trai đang lớn, để trong một dịp làm bích-báo quân-trường, nó lại bật ra, trơn-tru, nhẹ-nhàng, không sót một chữ:

 

Âm-dương chưa hề mệt

Bên đường hoa nở tươi

Biển vang chiều chảy liệt

Sóng rủ nhau đi bát ngát cười. (*)

           

       Đúng là “âm-dương chưa hề mệt”. Cậu bé mới hơn mười tuổi, hoàn-toàn không có một bóng hồng nào trong tâm hồn, dù nhỏ, dù chỉ là thoáng qua… ngoài …”cô bé lọ lem”! Đã nghe thấy nói đến Trưng-Vương, nhưng trường xa quá, chưa bao giờ Tích có dịp láng-cháng tới gần. Cách trường cậu bé không xa, có trường “Minh-Tân”, một trường tư-thục nổi tiếng mà nghe nói con gái cũng rất dễ thương, và có đôi lần cậu bé thoáng thấy vài tà áo trắng thấp-thoáng trên đường đi học, hoặc ghé rạp “Ciro’s” coi hình, nhưng cũng chỉ là những thoáng nhạn êm-đềm khó bắt giữ trong tâm-hồn, lướt qua như thoáng gió đầu xuân.

            Chuỗi ngày vô-tư cứ trôi đi, cho đến một hôm sắp vào hè năm đệ Lục, trong cái không-khí mơ-hồ nét lo-âu được che-đậy khéo-léo nơi người lớn, Tích đã nghe một cậu bé bán báo đi đường rao to: “Báo đây! Báo đây! Điện-Biên-Phủ thất-thủ đây!”

            Lần đầu tiên, một cái gì không ổn, một không-khí lo-âu từ lâu bao-trùm bỗng hiện lên rõ nét, đập vào tâm-thức cậu bé non-nớt, “ngây-thơ như gái chưa chồng”.

            Hà- Nội xao-động trong một nỗi thảng-thốt không còn che-đậy nổi. Hiệp-Định Genève ký-kết. Đất-nước chia hai. Làn sóng di-cư ồ ạt lần thứ nhất bắt đầu.

            Gia-đình Tích đi xuống Hải-Phòng, ở tá-túc nhà người quen khoảng mười ngày, rồi xuống tàu thủy bắt đầu chuyến hành-trình vô Nam sớm hơn mọi người. Cha Tích đã nhìn sớm hơn mọi người được một chút.

            Hà-Nội bắt đầu chìm vào vùng dĩ-vãng mịt-mờ.

(*) thơ Huy Cận

 

BONJOUR AMOUR

           

         Rời không-khí mù sương của Hà-Nội, Tích ngỡ-ngàng giữa ánh nắng rực-rỡ và tiếng động rộn-ràng của thành-phố phương Nam. Tàu cập bến Sàigòn giữa buổi sáng, và vừa ra khỏi bờ tường của Cảng, Tích đã nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, sờ thấy cái sinh-động và hồn-nhiên của quê-hương mới. Những chiếc xe xích-lô máy nổ dòn, phóng như bay trên đường giữa dòng lưu-thông tấp-nập, ngồi trên xe chạy tưởng như bị bắn ra ngoài lúc nào không hay. Chỗ ngồi rộng và chênh-vênh, làm con người có cảm-giác luôn-luôn phải vươn lên phía trước, bất chấp hiểm-nguy. Một đổi-thay khung-cảnh hoàn-toàn, hào-hứng, thách-thức đối với đứa bé nhút-nhát, đã sống quá lâu trong cái ấp-ủ chở-che, cái chỗ tựa êm-đềm kín-đáo của chiếc xe xích-lô đạp chậm-chạp thanh-nhàn.

            Những ngày tháng đầu tạm-trú nơi một căn phố sâu trong ngõ hẻm gần cầu Bông, đầu hẻm mở ra đường là một rạp hát bội đêm nào chiêng trống cũng rộn-ràng, mấy anh kép ca hồ-quảng đến khản giọng, sáng ra đào kép ngồi chồm-hổm ăn hàng suốt dọc, đổ cà-phê từ tách xuống đĩa uống ngon lành, mỗi một câu nói lại bắt đầu bằng vài phát-ngôn tiếng Đức nghe thật ngộ.

            Con hẻm thật ra chỉ là chắp nối những lối đi nhỏ ven tường các căn nhà đã xây, ngoắt-ngoéo chữ chi, phình ra thắt lại không báo trước, có chỗ hẹp chỉ vừa đủ một chiếc xe Sachs hay Puch lọt qua, mà người ra vào tấp-nập. Trẻ con chơi đùa chửi tục suốt ngày, cãi nhau chí-chóe. Vài chàng thanh-niên lớn đầu cũng nhập bọn, người gầy dơ xương, ngực xẹp lép mà lúc nào cũng chỉ đóng mỗi một cái sà roong, nói chuyện huyên-thuyên đầu-Ngô mình-Sở, chẳng ra đâu vào đâu, chiều chiều nghe ra dô dò vé số, suốt ngày chẳng thấy làm gì. Vậy mà vẫn đồng ra đồng vào, ăn quà đều đều. Sàigòn dễ sống thật!

            Tích thú nhất những cơn mưa chiều. Cứ khoảng 4 giờ, ngày nào cũng như ngày nào, rất đúng hẹn, rất đáng tin cậy, cơn mưa đổ xuống mát rợi trong khoảng nửa tiếng đồng-hồ. Rồi sau đó là tiếng rao hàng vui và lạ tai, như một câu ca mời gọi. “Ai bắn cằn caaá giòo heo…” (Ai bánh canh cá giò heo) Món ăn lạ mà thằng bé chưa bao giờ được thưởng-thức, nhưng nó cũng chẳng quan-tâm tới điều đó. Chỉ cần nghe bà bán hàng rao là đã thấy ngon miệng rồi.

            Một ông chú hờ vào Sàigòn đã lâu, lấy vợ Nam, nhà ở tuốt gần chợ Bến Thành, đã dẫn mấy anh em đi chơi một vòng Đại-Thế-Giới, ít ngày sau bữa tới nơi. Ong có chiếc xe mô-tô, đầu chải bóng nhẫy bi-dăng-tin, túi đầy một sâu chìa khóa, khi đi chìa khóa chạm nhau kêu lẻng-xẻng. Đại-Thế-Giới về đêm rực ánh đèn, rộn-rịp các trò giải-trí. Tích đã lần đầu lái chiếc xe chạy điện, tha-hồ đâm nhau, lửa xoẹt trên đầu, những lúc đâm vào xe người khác, mạnh tưởng bật người ra ngoài, thế mà cũng chẳng thấy bao giờ chuyện đó xảy ra cho ai cả.

            Cái điều lạ-lùng, khôi-hài và đáng mắc-cỡ nhất trong những ngày đầu nơi Sàigòn hoa-lệ đối với Tích là chuyện giải-quyết vệ-sinh. Hầu hết những căn nhà trong hẻm không có cầu tiêu, và người ta đi ra một khu tập-thể trên con kinh để làm cái việc tối-cần-thiết hàng ngày đó. Chiếc cầu khỉ bằng gỗ ọp-ẹp dẫn ra một dãy dài các ô trống-trơn, chẳng có cửa nẻo gì, chỉ có mấy thanh gỗ đóng sơ-sài, ngồi thì ngồi ngang, nam-nữ hai bên, mỗi lần có chuyện là nước bắn tung-tóe, phải nhổm dậy, đến là kỳ. Vậy mà mọi người thấy có vẻ thoải-mái lắm. Không ngượng-ngùng chi cả. Nếp sống tại vùng quê-hương mới này mới chất-phác làm sao!

            Người Sàigòn hình như không biết buồn là gì. An mặc thật giản-dị, đi đâu cũng một bộ đồ bà-ba đen, đầu thì quấn cái khăn rằn vừa dùng làm khăn lau, miệng nhai trầu hay xỉa thuốc, dáng đi nhanh-nhẹn nhưng không tất-bật, thích đàn hát, tối nào cũng phải đi coi cải-lương, thích chuyện hài, chịu “quái-kiệt” Trần văn Trạch “cù léc”, mê Ut Trà-On ca mùi sáu câu. Nhưng người ta nói đàn bà Sàigòn nổi tiếng ghen. Hồi đó Sàigòn xôn-xao bàn-tán vụ cô Quờn đốt chồng, đến độ một chàng nhạc-sĩ hài nào đó đã phải nổi hứng làm một bài ca mà Tích chỉ thấy thật vui mà chưa hiểu hết ý nghĩa ra sao: “Đốt hay không đốt, thì cắt nó đi cho rồi

            Dân Sàigòn cũng rất mực thực-tế, và rất mực hảo-hớn trong lối xài tiền. Hồi đó một đồng đã là to, và nhiều thứ thì rẻ hơn thế, mà “bạc cắc” thì không đủ. Vậy thì làm sao đây? Dễ ợt! Xoẹt một cái, xé đôi đồng tiền ra mà xài chứ còn sao nữa! Trái cây ê hề, chục mười hai, mười ba, có khi mười sáu. Soài, mít, mãng-cầu-thơm, mãng-cầu-dai, sa-cô-chê, đu-đủ, chuối-sứ, chuối-xiêm, sầu-riêng, măng-cụt… thôi thì đủ cả. “Hộc dịt lổng” năm cắc một hột, nước mía ngọt lừ mà chỉ một, hai cắc một ly. Thứ rẻ tiền nhất là “đá-nhận”, mấy chú ba-tàu bụng phệ khéo chế ra món hàng ăn dỗ trẻ con. Bào nước đá ra, nhận cho chặt vào một cái ly cho đá dính vào nhau, rắc một chút “sirô” màu đỏ mùi thơm, trẻ con mút đã, cho đến khi cục đá chỉ còn lại một nắm vụn trắng hếu, bỏ vào mồm nhai roỏng rẻng cũng đỡ ghiền.

            Có lẽ cái món ăn mà Tích thích nhất là món “đậu-đỏ bánh-lọt”, cũng lại do mấy chú ba-tàu bụng phệ độc-quyền. Thằng bé cho đó là một món ăn tuyệt-tác. Đậu-đỏ ngọt lịm chộn với bánh-lọt trắng mềm, đổ thêm vào một chút nước dừa thơm ngát, cho thêm đá vào, khuấy lên ăn vào như thấy cái khát tan biến nơi đầu lưỡi, xong một ly còn muốn làm tiếp ly thứ hai.

            Thế-giới của Tích hồi đó cũng nhỏ bé như cái thế-giới mà nó vừa rời xa. Cha mẹ nó suốt ngày bận bịu chuyện ổn-định, chuyện công-ăn việc-làm, chuyện liên-lạc họ-hàng. Chính-sự rồi tung. Lớp lớp người di-cư cập bến Sàigòn. Chỗ ở không có, phải dùng tạm những trại tiếp-cư khắp các khu đất trống trong thành-phố. Mà đất trống thì không nhiều. Khu đất bên kia cầu “Ra-yô hộp-guẹc” còn là một bãi rác. Bên kia cầu “Bạc Má Hồng” cũng không khá hơn. Đường “Răng Ong-Tây Lung-Lay” thì toàn nhà thương, trường học và villa. Đường “Rít-Sô Bò-Lông-Giê” đã là xa-xôi lắm. Khu đất Khám lớn cũ đã đầy, thành “Ô-Ma” cũng vậy. Phải mở thêm một lô các khu mới vùng Chợ Lớn với đủ loại “bà”. Bà-Hạt, Da-bà-Bầu… đã làm Tích mỗi lần nghe nhắc đến là nín cười không được.

            Trong hoàn-cảnh ấy, Tích và mấy đứa em cứ phải ru-rú xó nhà. Ngoài chuyến đi “nhập-môn” ở Đại-Thế-Giới, nó chưa được đi đến đâu. Sở Thú, vườn “Bờ-Rô” chỉ mới là những cái tên lạ tai. Vả nó cũng chưa nghĩ đến chuyện đi chơi khám-phá thành-phố. Điều quan-tâm lớn nhất của nó lúc này là nghe-ngóng xem các thày giáo cũ và đám bạn bè cùng lớp có vào Nam hay không. Nó mong-đợi, hy-vọng, rồi cuối cùng thất-vọng nặng-nề. Thằng bạn thân nhất của nó, có cái miệng như miệng chuột chù nhưng rất giỏi và tính-nết rất hiền-lành, nhất-định là đã không vào. Đám bạn-bè thân khác, trước đây vẫn đi chơi Bờ Hồ hoặc đi tìm xác ve và côn-trùng tại vườn Bách-Thảo cho giờ thực-tập môn Vạn-Vật, cũng không thấy một mống nào. Thầy Hưng dạy Pháp-văn và Việt-văn, con người mảnh-khảnh đeo kính trắng, rất mực có hiếu và rất yêu thơ, cũng ở lại. Thầy Xuân “taylor”, “Goodye, Mr. Chips”, thần-tượng của nó, cũng không thấy bóng dáng đâu. Cũng may còn ông thầy dạy Nhạc và ông thầy dạy Vẽ, để cho nó còn cảm thấy an-lòng phần nào giữa cái vùng đất lạ-lẫm xa-xôi này.

            Tích đã tìm nguồn vui trong việc hí hoáy đóng một tập lưu-niệm mỏng, cắt lại những nét chữ, những lời phê của các thầy, những dòng chữ vu vơ của bạn bè nơi các tập vở cũ, dán chúng vào trong tập và ghi lại vài dòng về hình-ảnh những người thân quen. Là “con nhà toán”, chưa có dấu vết nào phát-hiện về thiên-hướng văn-chương, những dòng ghi lại của Tích còn mang đầy tính-chất ngô-nghê và chất-phác của một đứa bé chưa bước được vào đến ngưỡng cửa ngoài của cuộc sống rộn-ràng.

            Và rồi công-việc cũng lại bỏ dở nửa chừng. Ngoài vài ba khuôn mặt mà nó khắc ghi, chỉ còn lại một đám đông thầy bạn có tên-tuổi nhưng không linh-hồn, đã không tạo cho nó một niềm hứng-khởi nào nữa. Thì ra nó cũng là loại khô-khan về tình-cảm chứ không ướt-át gì như đôi khi nó hằng tưởng.

            Nấn-ná ở nơi tạm-trú được gần hai tháng, cha mẹ Tích cuối cùng cũng tìm ra được một chỗ ở đàng-hoàng hơn. Niên-học đầu tiên nơi miền quê-hương mới cũng đang sửa-soạn bắt đầu. Một giai-đoạn mới cũng đang bắt đầu đối với đứa nhỏ. Giã-từ quá-khứ. Giã-từ Ha- Nội với Hồ Gươm, Hồ Trúc-Bạch, Quảng-Bá, Nghi-Tàm. Giã-từ vùng sương-khói, với mùa đông gió rét căm-căm. Giã-từ cành hoa đào ngày Tết. Giã-từ dư-âm bài hát mùa xuân mà sao buồn man-mác:  Xuân về rồi, muôn đóa hoa đào tươi” Giã từ Roy Rogers, Kathryn Grayson, Laurel Hardy, Zorro, Tarzan, Cô Bé Lọ Lem. Tôi đã bước vào một thế-giới khác. Sàigòn ơi, chào em buổi sáng tươi vui.

+++

Kim-Vũ

(Trích Tuyển Tập Truyện Ngắn

“Cánh Bướm Ngẩn Ngơ” sắp xuất bản)

* * *

Câu chuyện Thầy Lang

CVA Nguyễn Ý-ĐỨC

CHOLESTEROL và Sức Khỏe: 

 

Từ nhiều ngàn năm, các cụ ta vẫn rán từng miếng mỡ heo hồng hào  lấy mỡ nước để xào nấu. Tóp mỡ được các cụ  chế biến thành món ăn như chiên ròn để nhậu, xào với các loại rau hoặc nấu canh  cà chua ăn với cơm. Các cụ thưởng thức mỡ heo thả cửa, vô tư. Món thịt mỡ dưa hành, thịt kho đông với nhiều mỡ trắng không thể thiếu trong dịp có khách tới thăm hoặc lễ lạc, ngày tư ngày Tết.

Rồi đến thời kỳ “giống bạch quỷ phương Tây” xâm chiếm quê hương ta thì pa tê, bơ sữa, jambon nhiều chất béo  được nhập cảng, giới thiệu và trở thành món ăn thời thượng, sang trọng. 

Vậy mà khi đó ít người quan tâm tới điều mà ngày nay khoa học đã khám phá ra rằng mỡ heo là một trong nhiều chất béo có nguy cơ đưa đến bệnh vữa xơ động mạch với các biến chứng gây nhiều tàn phế, tử vong cho con người.

Vài hàng y sử.

            Năm 1755, một nhà sinh học Thụy Sĩ đã tả sự  thoái hóa, đóng cục của chất béo vào thành động mạch.

 Đến năm 1908, khoa học gia người Nga thấy rằng, khi được nuôi  bằng sữa và lòng đỏ trứng, thỏ sẽ mắc bệnh vữa xơ này.

Năm 1913, các khoa học gia đã xác định là quá nhiều chất béo cholesterol trong mỡ là hung thủ gây bệnh.

Năm 1916, khi quan sát thổ dân ở một vài hải đảo bên Indonesia, viên y sĩ người Hòa Lan thấy cholesterol trong máu  họ thấp hơn nhóm quan lại cai trị tây phương và số người bị bệnh tim cũng ít hơn. Nhưng khi thổ dân này bỏ món ăn quê hương để chạy  theo lối tây phương thì cholesterol lên cao và tỷ lệ bệnh tim cũng lên theo.

 Rồi đến thế chiến thứ nhì, khi mà thịt, bơ sữa khan hiếm, tỷ lệ bệnh tim giảm trông thấy và những người bị  lên cơn đau tim (heart attack) có lượng cholesterol trong máu cao hơn. Một so sánh nữa là thổ dân Eskimo ở Alaska có ít bệnh tim mặc dù họ tiêu thụ nhiều mỡ, nhưng đây là mỡ từ các loại cá.

Năm 1949, một tài liệu y học nói về nguyên nhân gây ra bệnh vữa xơ động mạch được phát hành. Trong sách tác giả đã nhấn mạnh tới vai trò của mỡ béo và cholesterol  trong bệnh này.

Và từ đó con người rất lưu tâm, đôi khi quá ám ảnh, tới vai trò của chất béo trong bệnh tim mạch. Nhiều người còn không nắm vững, đôi khi bối rối về sự tương quan giữa chất béo trong thực phẩm với các bệnh tim vì có quá nhiều kết quả nghiên cứu phức tạp được công bố dài dài.

Định nghĩa Chất Béo

            Chất béo hoặc lipid là những phân tử không hòa tan trong nước. Lipid chứa nhiều fatty acid, rất cần thiết cho sự tăng trưởng con người. Ngoài ra Lipid còn có nhiều vai trò quan trọng khác trong cơ thể như:

  1. là thành phần cấu tạo màng tế bào;
  2. là nguồn cung cấp năng lượng;
  3. là lớp độn để  phân cách  và bảo vệ lục phủ ngũ tạng;
  4. là phương tiện  chuyên trở các sinh tố hòa tan trong mỡ.

Và nhiều công dụng khác nữa.

             Lipid có nhiều thành phần khác nhau mà cholesterol và fatty acid được nhắc nhở tới nhiều hơn cả.

  • a-Fatty acid gồm có thứ  bão hòa, đơn bất bão hòa và đa bất bão hòa. Lipid đều được cấu tạo bởi các phân tử carbon, hydrogen và oxygen. Khi các phân tử carbon mang một số lượng tối đa phân tử hydrogen thì mỡ gọi là bão hòa (saturated fat) tức là fatty acid đó có đầy đủ hydrogen. Chất béo này có nhiều trong thực phẩm  nguồn gốc động vật (thịt bò, thịt heo, bơ, sữa, mỡ heo), trong dầu dừa và ở trạng thái cứng trong  nhiệt độ bình thường.

            Nếu thiếu phân tử hydrogen thì béo thành bất bão hòa (unsaturated fat):  thiếu một là đơn, thiếu nhiều là đa bất bão hòa (monounsaturated và polyunsaturated fats). Béo bất bão hòa thường ở trạng thái lỏng, có nhiều ở thức ăn  thực vật (dầu trái olive, dầu đậu phọng, dầu ngô bắp, hạt hướng dương  (sunflower), safflower  hoặc trong  vài hải sản. Omega 3 và omega- 6 thuộc nhóm mỡ đa bất bão hòa.

            Mới đây, sự phân chia chất béo trở nên phức tạp hơn khi loại trans fatty acid được thêm vào. Đây là lipid bất bão hòa mà mấy phân tử hydrogen thiếu đã được bổ túc khiến chúng trở nên cứng ở nhiệt độ bình thường. Một thí dụ là dầu thực vật margarine được đóng thành từng cục bán ở các siêu thị.

  • b-Cholesterol là chất giống như sáp, mầu trắng. Mặc dù bị mang tiếng là không tốt nhưng nó góp phần trong việc tạo màng tế bào, mô thần kinh não bộ, là thành phần cấu tạo của mật, kích thích tố steroid, sinh tố D.

            Hầu hết cholesterol cần thiết trong cơ thể đều được gan cung cấp đầy đủ nên ta không cần phải ăn thêm. Ở người khỏe mạnh, gan sẽ giảm việc chế tạo cholesterol khi thực phẩm có nhiều chất  béo này được tiêu thụ.

            Chỉ có thực phẩm từ động vật mới có cholesterol, thí dụ trong thịt bò, trong các sản phẩm nông trại như sữa, bơ, pho mát.

            Trong máu, cholesterol được chất đạm protein chuyên trở và được kêu là lipoprotein. Tùy theo tỷ lệ protein nhiều ít, ta có lipoprotein tỷ trọng thấp LDL (Low density lipoprotein), hay tỷ trọng cao HDL (high density lipoprotein).

            HDL thường được coi như phần tử hiền hòa tốt  bụng vì nó đưa cholesterol vào tích trữ trong gan để rồi được phế thải ra khỏi cơ thể, do đó làm bớt mỡ lưu thông trong máu, làm giảm nguy cơ đóng mỡ ở thành động mạch, giảm nguy cơ bệnh vữa xơ động mạch.

            Ngược lại cô em song sinh LDL thì hung dữ hơn. Nó chuyển cholesterol vào các tế bào của cơ thể. Khi cholesterol trong máu lên cao, tế bào không đủ chỗ nhận cholesterol, hóa chất này sẽ lởn vởn trong máu và tăng gia sự đóng bựa ở thành động mạch.

            Chỉ số cholesterol các loại trong máu được  đo bằng đơn vị phần ngàn của gram (milligram) mg trên phần mười lít (decilitre) dl máu. Viện Sức khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ đã đưa  các chỉ số sau đây để  dùng làm tiêu chuẩn:

 

                                                   Lý tưởng                 Tạm được             Không tốt

Tổng số Cholesterol                         Dưới 200 mg/dl       200 - 240 mg/dl     Trên 240mg/dl

HDL cholesterol                              Trên 45mg/dl            35 - 45 mg/dl         Dưới 35mg/dl

LDL cholesterol    Dưới 130  mg/dl                        130 - 160 mg/dl   Trên 160mg/dl

 

Ta nên đo cholesterol mỗi hai, ba năm một lần; đo thường hơn khi cholesterol lên cao và thử máu lúc nào trong ngày cũng được.

  • c-Ngoài ra chất Triglyceride và VLDL cũng cần được theo dõi. Mặc dù vai trò của chúng trong nguy cơ gây bệnh tim chưa được xác định, nhưng nhiều chứng minh cho là khi béo này lên cao thì đều không tốt cho tim. Triglyceride, được gan sản xuất, là dạng tồn  trữ của mỡ trong cơ thể và nó được loại very low-density lipoprotein VLDL chuyên trở trong máu.

            Lượng Triglyceride dưới 200mg/ dl được coi như bình thường. Nó thường lên cao trong bệnh tiểu đường, bệnh thận.

            Khi lấy máu đo triglyceride, cần nhịn ăn ít nhất là 14 giờ. VLDL làm tăng Triglyceride và giảm HDL trong máu.

  • d-Omega-3 fatty acid cũng đóng vai trò tốt trong việc ngừa nguy cơ bệnh tim. Nó có nhiều ở các loại cá hồi (salmon, trout), ngừ (tuna), cá thu (mackerel), sardines và vài loại hạt. Dân Eskimo ăn nhiều cá nên số người bị bệnh tim rất thấp và họ có rất ít cholesterol trong máu.

Ảnh hưởng của chất béo trên sức khỏe:

Chất béo là một trong ba nguồn thực phẩm chính yếu cung cấp năng lượng cho các chức năng của cơ thể: chất đạm, chất carbohydrates và chất béo. Mỡ béo cung cấp năng lượng gấp đôi hai thức ăn kia: 1 gr mỡ sản xuất 9 kcal năng lượng trong khi 1gr  carbohydrates hay protein chỉ cho 4 kcal.

Chất béo cũng như cholesterol không phải là độc chất đối với cơ thể mà là chất sinh tử cho mọi tế bào động vật. Cho nên thực là không công bằng khi gán cho mỡ béo danh vị thực phẩm “xấu”. Nhưng một chế độ dinh dưỡng không cân bằng, kém đa dạng, quá nhiều chất béo là điều thiếu sót, có thể đưa tới hậu quả bệnh tật cho con người.

Mối tương quan giữa chất béo, cholesterol với bệnh tim là một vấn đề phức tạp, đã được quan sát thấy ở những xác ướp Ai Cập từ nhiều ngàn năm trước; ở dân tộc các vùng có chế độ ăn uống khác nhau; ở những nghiên cứu, điều tra khoa học trong nhiều thập niên vừa qua. Tất cả đều có cùng kết luận cho là một chế độ dinh dưỡng nhiều mỡ béo quá sẽ đưa tới nguy cơ bệnh tim mà vữa xơ động mạch là bước khởi đầu. Đồng thời khi làm giảm  cholesterol ở một người có mức độ bình thường và không có dấu hiệu bệnh tim mạch đều làm hạ thấp  nguy cơ  kích xúc tim heart attack tới 40, 50%. Cho nên cholesterol càng thấp càng hay.

Xin nhắc lại là để hoạt động hữu hiệu, các mạch máu, cũng như các bắp thịt, cần được tốt mạnh, uyển chuyển  và giữ đàn tính. Lòng mạch máu cần trơn tru nhẵn nhụi để máu lưu thông dễ dàng.

Trong bệnh vữa xơ động mạch, thành động mạch có những bựa giống như cháo gồm có cholesterol và tế bào máu đóng vào, khiến nó trở nên gồ ghề, thu hẹp gây trở ngại cho sự vận chuyển của máu. Máu huyết  tới tim giảm, tim kém được nuôi dưỡng, giảm hoạt động rồi một lúc nào đó đưa đến cơn kích tim. Những miếng bựa có thể bứt rời thành mạch máu, ngao du khắp cơ thể theo hệ tuần hoàn gây ra nghẽn mạch. Lên đến não nó tạo ra tai biến mạch máu não, tới tim nó gây ra nhồi máu cơ tim.

Mỗi năm, có cả nhiều trăm ngàn người chết vì những tai nạn tương tự. Có một điểm mà nhiều người không để ý là cơ thể sản xuất tất cả lượng cholesterol cần thiết. Khi đề cập đến con số cholesterol thì là nói tới lượng cholesterol lưu hành trong máu mà 85% do cơ thể sinh ra và 15% do thực phẩm đưa vào.

 Cholesterol trong máu có thể lên cao khi ta tiêu thụ thực phẩm chứa nhiều loại mỡ này hoặc nhiều mỡ bão hòa.

Ngoài ra cholesterol trong máu lên cao theo số tuổi; khi cân quá nặng nhất là béo mập ở vùng bụng; khi có các bệnh tiểu đường, cao huyết áp; di truyền cao cholesterol từ bố mẹ; khi có nếp sống không lành mạnh như lạm dụng rượu, thuốc lá, có đời sống quá tĩnh tại hoặc có nhiều mối lo âu, bất mãn.

Cách thức giảm cholesterol:

Điểm cần lưu ý đầu tiên là ăn ít cholesterol không có ảnh hưởng mấy  tới lượng cholesterol trong máu như là khi bớt tiêu thụ  thực phẩm có chất béo bão hòa.

Thứ hai là trong thực phẩm, tất cả cholesterol đều giống nhau, không có loại xấu loại tốt. Nhưng trong máu thì cholesterol trở nên tốt hay xấu là tùy theo loại lipoprotein của nó.

Thứ ba là chất béo bất bão hòa đơn hoặc đa dạng từ thực vật không gây ra sự vữa như cháo của chất mỡ trong lòng động mạch.

Sau đây là một số gợi ý để chúng ta cùng nhau hạ thấp cholesterol trong máu:

1) Lựa thực phẩm có ít mỡ béo - Nếu ta bớt  chất béo xuống còn 30% của tổng số năng lượng do thực phẩm cung cấp thì nguy cơ bệnh tim mạch sẽ giảm theo rất nhiều.

            Dân chúng vùng Địa Trung Hải đều ít bị bệnh tim hơn người Mỹ vì họ dùng nhiều dầu olive, cá, các loại hạt, rất ít khi ăn thịt bò, thị heo, uống một chút rượu vang vừa phải mỗi ngày.

2) Lựa thực phẩm có ít  chất béo bão hòa vì loại này làm tăng cholesterol, LDL và Triglyceride trong máu. Ăn nhiều rau, trái cây, hạt ngũ cốc. Béo bão hòa có nhiều trong kem, bơ, sữa nguyên chất, cheese, da gà, mỡ trên thịt nạc, mỡ heo. Thịt trâu rất ít mỡ béo.

3) Giảm thiểu  thực phẩm có nhiều cholesterol như lòng đỏ trứng, gan. Lòng trắng trứng và thực phẩm từ thực vật không có cholesterol. Một lòng đỏ trứng có tới 250mg cholesterol. Theo Hiệp Hội Hoa Kỳ về Tim thì nếu khỏe mạnh ta có thể ăn không quá bốn quả trứng mỗi tuần; khi cholesterol cao thì giảm xuống hai trái trứng mỗi tuần.

  1. Tránh dầu dừa, dầu hạt cọ (palm), vì có nhiều béo bão hòa. Dầu này thường có trong kẹo súc cù là, bánh bích quy.
  2. Dùng béo bất bão hòa trong dầu ngô bắp (corn), safflower. dầu olive, dầu canola, trái  bơ avocado, vừng, dầu đậu phọng, vài loại cá vì chúng có tác dụng làm hạ cholesterol.
  3. Giảm trans fatty acid như margarine thỏi vì tác dụng làm gia tăng cholesterol trong máu. Margarine mềm ít  hại hơn. Loại bơ thay thế Benecol  hay margarine chế từ đậu nành có thể hạ cholesterol trong máu.
  4. Tiêu thụ nhiều omega 3 fatty acid, có nhiều trong cá  thu (mackerel), cá chình  americain eel, cá ngừ (tuna),  cá trích (atlantic herring), cá sardines, cá hồi (trout).. Lưu ý là khi uống dầu cá, nên tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình vì mức độ dầu cá có thể tương tác với vài dược phẩm.
  5. Tăng lượng chất xơ và tinh bột có trong ngũ cốc, rau trái, mì ống mì sợi vì các chất này có rất ít béo bão hòa, cholesterol và cho ít năng lượng.
  6. Giữ sức nặng cơ thể ở mức trung bình, tránh bị mập phì  nhất là ở vùng bụng.
  7. Tập luyện cơ thể đều đặn để làm tăng chất béo tốt HDL, làm giảm mỡ dữ LDL, giảm kí, hạ huyết áp cao. Với tập luyện cơ thể đều đặn và giảm tiêu thụ chất béo, ta có thể làm hạ cholesterol trong máu xuống tới 15%.

Ngoài ra, ta có thể tiêu thụ nhiều hơn các phó sản của đậu nành có ít cholesterol lại nhiều đạm thực vật dễ tiêu; tăng các antioxidant như sinh tố E, C, Beta Carotene vì tác dụng tốt trong sự chuyển hóa Cholesterol.

Đã có nhiều thành kiến không đúng cho là các thủy sản như tôm, cua, trai sò, crawfish, tôm hùm có nhiều cholesterol nên thực phẩm này bị loại khỏi chế độ dinh dưỡng của nhiều gia đình. Dữ kiện mới đây cho hay các thực phẩm trên đều an toàn về phương diện chất béo nhất là khi chúng được nấu bằng cách hấp, luộc, nướng, bỏ lò chứ không chiên trong chảo với mỡ, với bơ.

  1. Dược phẩm. Đôi khi với tất cả các đề phòng kể trên, cholesterol trong máu vẫn còn cao vì ảnh hưởng của gene, vì vui miệng ăn nhiều mỡ béo thì phải cầu cứu tới dược phẩm.

Thường thường tiêu chuẩn để dùng dược phẩm là khi LDL cao quá mức độ 190mg/dl hoặc trên 160mg/dl cộng thêm vài nguy cơ gây bệnh tim khác như hút thuốc lá, cao huyết áp, mập phì.

            Thị trường hiện nay có nhiều âu dược rất công hiệu để làm giảm mức độ cholesterol trong máu, ngăn ngừa sự đóng bựa chất béo vào thành động mạch và ngăn bựa tách rời khỏi thành mạch máu chạy tới các bộ phận sinh tử như não, tim.

Việc dùng các dược phẩm này cần được bác sĩ cân nhắc kỹ càng tùy theo từng trường hợp, vì khi đã uống thì phải uống trong nhiều năm, có khi suốt cuộc đời. Thuốc lại rất đắt tiền và vài loại thuốc có những tác dung phụ nguy hiểm, chẳng hạn là làm hại tới lá gan.

  1. Dược thảo. Ngoài âu dược, còn một số dược thảo được trong máu như Beta-Sitosterol chế biến từ đậu nành và gạo; citrus giới thiệu là có thể làm giảm cholesterol pectin từ họ chanh, cam bưởi và ăn thêm tỏi.

Kết luận

Các tài liệu về  chất béo-cholesterol có quá nhiều, đôi khi làm ta bối rối. Gần đây, nghiên cứu lại tìm thêm ra lipoprotein (a) cũng xấu không khác gì LDL.

Sau hơn 50 năm, khoa học đã làm sáng tỏ một phần nào vai trò của cholesterol cao trong máu đối với bệnh vữa xơ động mạch, một nguyên nhân đưa tới tử vong và bệnh hoạn vì nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Nhưng nguyên lý sinh bệnh của vữa xơ này còn nhiều bí hiểm cần được khai sáng tiếp. Khi đó, việc điều trị và ngừa bệnh này hy vọng sẽ dễ dàng và công hiệu hơn. Hơn nữa, ta không thể gạt bỏ chất béo khỏi khẩu phần dinh dưỡng vì cơ thể cần năng lượng từ chất béo, cần sinh tố tan trong mỡ, cần chất béo để cấu tạo màng tế bào, mô thần kinh, tim...

Cho nên giản dị hơn cả là khi muốn tránh bệnh tim mạch do các chất béo này gây ra, ta chỉ việc bớt tiêu thụ thực phẩm do động vật gia súc như thịt, sữa và phó sản; tăng thực phẩm từ thực vật và vận động cơ thể. Để bảo toàn trái tim thân thương cũng như sức khỏe tổng quát.

Nguyễn Ý-ĐỨC, Bác sĩ Y Khoa, Cựu HS CVA.

(Trích trong sách “Dinh Dưỡng & Điều Trị”, mới xuất bản)

* * *


ĐÔI NGẢ

 

CVA Đào Tiến Luyện

(Trích trong tập thơ Hoa  Thông Thiên)

Mến tặng những  ai đã phải chia tay nhau vì Hiệp Định Geneve ký ngày 20.7.1954

 

Bối cảnh sáng tác: Chiến tranh Việt Pháp, bùng nổ ngày 19.12.1946 tại Hà Nội và trên toàn quốc, trải dài 8 năm, sau cùng kết thúc bằng Hiệp Định Geneve tại Geneve Thụy Sĩ chia đôi Việt Nam thành hai nước lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm ranh giới: Miền Bắc thuộc phe ly thống, Miền Nam thuộc  phe duy thống nghĩa là duy trì văn hóa truyền thống.

Ngày 20.7.1954, Đào Tiến Luyện đang học lớp 12, trường Trung Học Chu Văn An, Hà Nội, viết bài thơ này tặng các thân hữu văn nghệ.

Bạn nhỉ, mai rồi cách biệt nhau,

Mai rồi tim khắc nét thương đau,

Lẻ loi trăng sẻ sầu đôi ngả,

Muôn hướng tâm hồn mưa hạt mau.

Tôi ở lại đây với gió mùa,

Thả hồn lạc hướng Đống Đa xưa,

Bạn đi đuổi nắng chiều phai nhạt,

Nhặt thắm tươi về tô ước mơ.

Bạn hãy vui lên trong biệt ly,

Men sầu đừng cản bước chân đi.

Chia ly đâu phải là chung biệt

Gặp gỡ ngày mai vậy ngại gì.

Đã hiểu nhau rồi dù bão giông,

Muôn ngàn vạn lý cũng như không

Và dòng Bến Hải ngăn sao nổi

Hai mảnh tâm hồn khi cảm thông.

Bến Hải sầu đau lệ thắm dòng,

Đôi bờ hiu quạnh khóc chờ trông

Rồi đây một sớm tưng bừng đón

Dũng cảm đoàn người quyết lấp sông

Tôi sẽ dành mầu trong ý thơ

Đợi ngày gặp gỡ dưới trời mơ,

Phong trần cuối bước mong tô lại

Áo bạn bạc mầu qua gió mưa.

 

Đào Tiến Luyện

 Viết tại trường Trung Học Chu Văn An, Hà Nội,

  Ngày 20 tháng 7 năm 1954, ngày ký Hiệp Định Geneve

* * *

 

Nguyễn thị Hồng Yểm

       

CVA  Lưu An

           

Lời giới thiệu:  Trò chơi trẻ con: Em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu. Chú rể ngẩn ngơ, ra hái hoa cà làm qùa cưới cô dâu....(nhạc TTT). Kỷ niệm của tuổi thơ, có những lúc người ta tưởng rằng chỉ là những đẹp đẽ thoáng qua trong qúa khứ mà thôi, nhưng có khi lại là những gắn bó muôn đời không quên. Từ những đơn sơ, ngờ nghệch đó, tình yêu sẽ lớn dậy, nối kéo cuộc đời của người ta với nhau trong một dạng thức yêu thương nào đó: Hạnh phúc, hoan ca hay dang dở, đau buồn.

            Đây là một đoản văn, viết về truyện yêu thương của một người bạn, một sĩ quan trẻ cuả QLVNCH ngày xưa. Để kỷ niệm cho anh, cho Vân người tình dang dở tuổi ấu thơ của anh và cho cả người cháu Nguyễn thị Hồng Yểm mà tôi đã gặp, đã ngẫn ngờ nghe kể về mối tình khá đẹp nhưng hơi buồn đau của họ.  (Lưu An)

 

 

Thanh không biết vì đưa đẩy nào đã mang gia đình Vân đến cái xóm nhỏ, khá nghèo của anh, nhà Vân cách cái giếng nước chung của xóm, đằng sau nhà của Thanh chỉ vài chục mét. Vân mồ côi cha từ ngày còn bé, nàng sống với mẹ và hai người chị rưởng thành và đã có gia đình, cùng nhau trông coi một chiếc sạp bán đồ gia vị ở ngôi chợ gần nhà. Vân theo đạo Công giáo cho nên thay vì học ở trường tiểu học công lập của khu vực cùng với anh em Thanh, nàng vào học ở ngôi trường của nhà thờ.

            Khi Vân dọn đến xóm, nàng 11 tuổi, Thanh lên 9 và hai đứa em của Thanh mới 8 và 6 tuổi. Dù tuổi tác cách biệt nhau nhưng Vân và ba anh em Thanh thân nhau rất nhanh ngay từ ngày đầu tiên vừa đến xóm. Đặc biệt với Thanh, sự thân tình, gắn bó giữa hai đứa bé đã làm ba mẹ Thanh cũng như gia đình Vân ngạc nhiên. Gần như mỗi ngày khi vừa đi học về hai đứa lại tìm đến nhau, vui chơi vơí nhau đến độ quên cả giờ ăn.  Tình thân của hai đứa bé đã thắt buộc hai gia đình lại với nhau. Bà Tứ, mẹ của Vân và hai người chị vì bận bịu buôn bán, không chăm sóc bài vở thường xuyên cho Vân được, vì thế  ba mẹ Thanh đã kéo Vân đến nhà học hành, chỉ dậy bài vở cùng vớí anh em Thanh.

            Trong bất cứ trò chơi nào vơí lũ trẻ trong xóm, cần đến sự chia phe nhóm, hai đứa luôn luôn vào một nhóm. Cả đến những trò chơi cần đến cảnh ẵm bế, cõng nhau hay tập tành hỏi han, săn sóc nhau khi bệnh hoạn... bắt chước sinh hoạt của ngườì lớn, chúng vẫn về phe với nhau. Ở cái tuổi ấn thơ, chưa biết gì ngại ngùng thích bắt chước đó. Chúng đã diễn tả những hành động, lời nói và giáng điệu đôi khi làm cho cha mẹ của chúng ngẩn ngơ suy nghĩ.  Một lần, khi vừa làm xong bài kiểm, trước mặt ba mẹ Thanh, Vân xếp vội mấy cuốn vở vào cặp, rồi chạy vòng qua chiếc bàn học, cầm lấy tay của Thanh, vơí giọng noí rất ngọt ngào:

            -Thanh, ra đây chơi với Vân, chúng ta tiếp tục chơi trò vợ chồng nữa nhe?

            Trong khi Thanh còn đang bận bịu vơí mấy cái bút chì mầu đang gọt dở, con bé nói tiếp:

            -Vân làm mẹ bị bệnh, nằm trên giường với con, còn Thanh làm cha săn sóc cho Vân và đứa con nhe!

            Ông bà Chánh, ba mẹ của Thanh im lặng ngẩn ngơ nhìn và nghe hai đứa bé đối đáp, bà Chánh kéo Vân vào lòng mình, âu yếm vuốt ve, hỏi nhẹ con bé:

            -Vân, cháu có thương Thanh không?

-Cháu thương mà, bác không thấy sao, ngày nào cháu và Thanh cũng chơi trò vợ chồng, cháu là vợ của Thanh, còn Thúy và Trọng hai em của Thanh là hai đứa con của chúng cháu đó!

Rồi với giọng ngây thơ, con bé kể lể ra những hình ảnh một mái gia đình đầm ấm với đủ hoạt cảnh, giặt dũ, săn sóc nhau khi bệnh tật...  Ông bà Chánh thích thú ngồi nghe, thỉnh thoảng đưa ra vài câu hỏi han hay giúp vài ý kiến cho cái khung gia đình tưởng tượng đãy ắp hạnh phúc trong đầu nó.

Bà Chánh quay sang nhìn chồng tâm sự:

-Cứ đà này, chúng nó chắc chắn sẽ có rất nhiều kỷ niệm đẹp lắm! Tương lai không biết ra sao đây?

Ngẫm nghĩ một chút, bà Chánh tiếp:

-Em tự nhiên thương con Vân này qúa anh ạ! Em mong với 2 tuổi lớn khôn hơn của nó, không phải là trở ngại cho thằng Thanh của chúng mình ...

Ông Chánh vỗ nhẹ lên vai vợ, ngắt lời:

-Đúng là vớ vẩn! Em chỉ lo xa mà thôi. Nếu chúng yêu thương nhau thì kể gì tuổi tác!

Thấm thoát đã hơn một năm kể từ ngày gia đình Vân dọn đến xóm, những trò chơi ngây thơ vẫn tiếp nối mang theo thân tình càng ngày càng gắn bó của hai đứa bé. Ngày cuối tuần Vân vẫn trong chiếc áo dài trắng đều đặn đi lễ nhà thờ, Thanh dù không đi đạo nhưng vẫn theo Vân đến nhà thờ, rồi chia tay khi Vân vào xem lễ. Thằng bé lang thang ở phía ngài sân, lén lút hái những bông hoa sứ trong sân nhà thờ bỏ vào trong một bọc giấy, chờ lúc tan lễ, trên đường về nhà hai đứa chia nhau thích thú, hút những giọt mật hoa ngọt lịm từ cuống hoa.

Một buổi chiều sau khi đã hoàn tất xong tất cả những bài vở của nhà trường, Thanh và hai đứa em cùng với Vân tham dự với trẻ trong xóm chơi trò trốn tìm’’năm mười ‘’.  Dĩ nhiên, cũng như tất cả các cuộc chơi khác, Thanh và Vân không rời nhau, luôn luôn cùng chạy, cùng trốn với nhau. Một lần hai đứa cùng núp vào một hốc kẹt kín đáo của một căn nhà, cả hai nín thở, im lặng cố giữ kín nơi ẩn núp của mình. Thanh nhìn thấy đứa trẻ’’ kiếm tìm’’ từ xa đang đi lại, xục xạo tìm kẻ trốn. Vì sợ bị khám phá Thanh cố ép sát thân mình vào Vân, đôi tay ôm sát lấy Vân, khuôn mặt hai đứa chạm sát vào nhau, hơi thở đứt quãng, hồi hộp vì lo sợ bị thằng bé kiếm tìm khám phá ra chỗ hai đứa đang ẩn núp. Có lẽ vì qúa hăng say với trò chơi và lo sợ bị thua, Thanh không chú ý đến thái độ khó chịu, có tí chút giận dỗi của Vân. Cô bé cố cựa mình ra khỏi vòng tay  của Thanh, tìm cách đẩy thằng bé ra xa. Nhưng vì mắc trong góc kẹt, qúa chật chội, khó xoay trở, con bé đã không làm sao thoát ra khỏi được mà còn bị Thanh ghì chặt hơn nữa! Đến một lúc vì qúa bực bội, không thể nào làm hơn được, Vân gắt lên:

-Bỏ người ta ra! Kỳ lắm!

Nhưng ở cái tuổi lên 10, đứa con trai còn đầy rẫy ngờ nghệch, tâm hồn trong sáng và nhất là lo sợ bị thua cuộc chơi thì làm sao Thanh hiểu được câu nói ‘’Kỳ lắm‘’ của Vân cô gái vừa bước sang tuổi 12!  Đã thế nó còn cố ghì sát hơn, như muốn hóa giải sự cưỡng lại của con bé. Thấy không còn làm sao hơn được, Vân lấy hết sức đẩy bật thằng bé ra khỏi chỗ núp và giơ thẳng bàn tay với tất cả sức mạnh tát một cái vào má thằng bé ‘’ Chát ‘’.   Với nét mặt bực tức, Vân nói:

-Đã bảo mà không nghe!

            Với cái tát như đổ lửa đó, trên khuôn mặt đau đớn đầy nét bàng hoàng, ngạc nhiên của Thanh in rõ dấu bàn tay đỏ gay của Vân. Giương mắt tức giận lên nhìn thẳng vào mặt con bé, Thanh nói như hét:

-Sao tự nhiên đánh tôi?

Rồi đưa tay lên xoa má ra chiều đau đớn, đứng bật dậy bước ra khỏi chỗ núp, chỉ thẳng ngón tay vào sát mặt Vân, giận dữ nó hét:

-Vân điên hả, tôi không thèm chơi nữa!

Hình như nhìn thấy dấu bàn tay đỏ hồng của mình còn in trên khuôn mặt đau đớn và nhất là hai giòng lệ đang chẩy từ khoé mắt Thanh đã làm cho Vân hối hận, sợ hãi. Cô bé vội vàng đưa tay nắm lây cánh tay Thanh kéo trở lại, vơí giọng nói run run như muốn khóc:

-Thanh, Vân xin lỗi Thanh! Tại Vân đã nói kỳ quá bao nhiêu lần, mà Thanh không nghe!

Nói xong Vân đưa bàn tay vuốt nhẹ lên má Thanh, nhìn thằng bé với ánh mắt như van lơn, xin lỗi!  Nhưng  đứa con trai lên 10, ngây ngô đó, làm sao hiểu được nguyên nhân bực bội để cảm thông, chấp nhận ánh mắt hối hận van xin của cô bạn gái lớn khôn hơn nó được! Nó giận dỗi hất tay Vân, vùng vằng đứng dậy, bước ra khỏi chỗ ẩn nấp, không quên quay đầu lại nói như gắt vào khuôn mặt cũng đang rướm lệ,ân hận của Vân:

-Thôi, tôi không thèm chơi nữa, tôi ghét Vân lắm!

Nói xong Thanh quay mặt, lầm lẫm bước đi, không thèm nhìn lại, dù biết rằng phía sau mình vẫn còn đôi mắt ân hận và khuôn mặt đẫm lệ của Vân nhìn theo bước chân nó với vài tiếng gọi với theo:

-Thanh! Đừng giận Vân nữa! Vân đã xin lỗi Thanh rồi mà!

Bỏ cuộc chơi, thằng bé lui thủi đi về nhà. Lúc đó bà Tứ và ba mẹ Thanh đang ngồi nói chuyện trong phòng khách, bà Chánh thấy thằng con cúi mặt dáng dấp rầu rĩ, khuôn mặt nhem nhuốc nước mắt bước vào nhà. Bà ngoắc tay gọi:

-Thanh, con sao vậy? chắc lại đánh nhau với ai rồi phải không? Lại đây mẹ bảo!

-Vân, nó đánh con đó!

Câu trả lời của thằng bé không những làm ông bà Chánh ngạc nhiên mà còn làm cho mẹ Vân ngẫn ngơ giương mắt nhìn. Đúng lúc đó mọi người đều nhìn thấy Vân đang đứng khép nép nấp ở cánh cửa ra vào nhìn vào trong với vẻ mặt sợ sệt.  Bà Tứ vơí nét mặt không vui, định lên tiếng gọi Vân vào để trách mắng. Tuy nhiên, bà Chánh có lẽ cảm thấy có điều gì không bình thường, khó tin xẩy ra giữa hai đứa bé rất thương yêu nhau, chưa bao giờ trái ý, gây gỗ nhau. Bà kín đáo ra dấu cho bà Tứ im lặng, rồi đưa tay vẫy gọi Vân, với giọng âu yếm:

-Vân, cháu vào đây với bác.

Vân với khuôn mặt vẫn còn ướt lệ rón rén đến bên cạnh mẹ của Thanh. Bà Chánh kéo cô bé sát vào thân bà, đứng bên cạnh Thanh. Đưa bàn tay âu yếm vuốt nhẹ mái tóc Vân, nhẹ nhàng bà hỏi:

-Vân, tại sao cháu đánh Thanh đau như vậy? Cháu không thương nó sao?

-Cháu đã nói mãi mà Thanh không nghe!

Thanh bực bội ngắt lời Vân:

-Chứ không phải tự nhiên tát người ta hay sao? Tôi ghét Vân lắm, từ nay tôi không thèm chơi với Vân nữa! Người đâu mà ác qúa như vậy! 

Mẹ Thanh đưa tay vỗ nhẹ vai nó:

-Thanh, con để im cho Vân nói cho ba mẹ và bà Tứ nghe!

Rồi quay sang Vân, lời lẽ rất ôn tồn:

-Vân, cháu kể cho bác nghe đi, tại sao cháu đánh Thanh!

Với chút e dè, ngượng ngập Vân kể lại tất cả những diễn tiến. Dù với lời kể cắt khúc, ngập ngừng, không rõ ràng nhưng cũng qúa đủ cho ba ngươì lớn hiễu rõ vần đề.  Bà Chánh đưa mắt nhìn chồng và bà Tứ như thầm nói: Thanh, đứa con trai 10 tuổi vẫn con ngập chìm trong cái ngây thơ, trong trắng cuả đứa trẻ đúng nghĩa, làm sao nó hiểu được cái lớn khôn đang khởi đầu của Vân cô bé 12 tuổi được! Ngần ngừ một tí bà Chánh quay bên má của Thanh vẫn còn in hằn dấu bàn tay đỏ ửng về hướng con bé, bà nói rất nhẹ bên tai Vân:

-Vân, Cháu thấy không, cháu đánh Thanh đau như thế này! Thôi cháu lấy tay xoa má cho nó một tí rồi xin lỗi Thanh đi!

Vân lưỡng lự một chút, khuôn mặt hơi đỏ hồng, đưa bàn tay mát lạnh lên xoa nhẹ trên má thằng bé với giọng ân hận:

-Vân xin lỗi Thanh, đừng giận Vân nữa nhé!

Thanh im lặng nhìn Vân, ra vẻ vừa lòng rồi đưa bàn tay lên vuốt má mình. Bàn tay hai đứa bé chạm nhau, chúng nhìn nhau nở nụ cười trước khi nắm tay nhau chạy ra khỏi cửa!  Sau đó, tình thân của Thanh và Vân vẫn không có gì giảm sút, nhưng hình như đã êm nhẹ bước sang một trạng thái tình thân khác trong những cuộc chơi đùa với nhau. Nó manh nha một tí vẻ ngượng ngập, giớ hạn của Vân mỗi khi Thanh có vài hành động quá thân cận vì vô tình hay quá ngây ngô của nó đem lại. Tuy vậy, những buổi đi lễ của Vân, Thanh vẫn là kẻ đồng hành, chờ đợi cô bé ra về với những bông hoa sứ còn tươi đựng trong bao giấy nhỏ, hai đứa vẫn chia cho nhau hút mật hoa ngọt lịm cùng với  tiếng cười thích thú.

Mỗi ngày sau khi hoàn tất xong bài vở nhà trường, khi ánh nắng chiều đã mất đi cái nóng cháy của mặt trời buổi giữa trưa, Thanh vẫn ra giếng làm công việc giúp đỡ mẹ, múc nước đổ đầy mấy chiếc phuy của gia đình. Vân cũng ra giếng giúp đỡ gia đình giặt một thau quần áo. Trong dịp làm việc đó, Thanh múc nước cho Vân giặt giũ, ngược lại không lần nào Vân quên nhắc nhở Thanh đưa quần áo của nó cho cô bé giặt hộ... Những hình ảnh đơn sơ đó cứ chồng chất lên thể xác và trí nhớ của chúng, vô tình tạo cho chúng những kỷ niệm đẹp đẽ của tuổi ngây thơ. Mấy năm sau, khi Thanh vừa lên năm đầu tiên trung học, gia đình Thanh dọn nhà sang một ngõ hẻm khác khang trang hơn nhưng cũng không qúa xa xóm cũ. Có lẽ vì bận rộn với việc học hành hơn hay vì chưa quen thuộc với nếp sống của căn nhà mới, Thanh không có dịp sang thăm xóm cũ để gặp lại bạn bè trong xóm. Trong số đó có Vân, người con gái thân thiết nhất trong tuổi ngây thơ mà đôi lần nó cũng cảm thấy nhớ nhung.

Bẵng đi, nhiều tháng trời sau đó, khi đã quen thuộc với xóm mới, Thanh mới có dịp sang thăm lại xóm cũ vài lần.  Lần nào Thanh cũng nhìn thấy hay gặp Vân trong xóm hay trên đường đi lễ...Thời gian xa cách dù không quá xa, nhưng kỳ lạ làm sao! Khi chúng gặp nhau, hai đứa chỉ nhìn nhau, ánh mắt hình như dò hỏi, pha nhuộm rất nhiều ngại ngần ngượng nghịu rồi im lặng đi qua! Cũng có vài lần Thanh đi cùng với mẹ, dù có sự nối kéo của bà Chánh nhưng Thanh và cả Vân cũng chỉ nói với nhau vài câu ngắn ngủi, nhiều khi chẳng có nghĩa lý gì  hay vờ vĩnh nhìn ra hướng khác!

Thanh còn nhớ có một lần vào ngày cuối tuần, khi nó đang học lớp đệ ngũ, bà Chánh cho biết mẹ của Vân mời gia đình Thanh sang ăn mừng lễ đầy năm của đứa cháu ngoại, con trai đầu lòng của một người chị của Vân. Thanh đang sửa soạn đi với gia đình, thì một đứa bạn cùng lớp đến rủ đi đá banh, Thanh nhìn ông bà Chánh tỏ vẻ ngần ngại không muốn đi dự tiệc. Bà Chánh nhìn thằng con với đôi mắt khó hiểu:

-Con không muốn đi sao? Có lẽ Vân nó rất mừng rỡ gặp con đó!

Thanh tỏ vẻ không mấy chú ý, hơi cau mày, tí ngập ngừng nó nói:

-Thôi, con không đi đâu mẹ, để dịp sau vậy!

Nghe lời lựa chọn của thằng con, bà Chánh đã nhìn thấy đứa con trai 14 tuổi của bà vẫn còn ngờ nghệch lắm, tâm hồn vẫn trắng trong, đơn giản của một đứa con nít. Bà biết chắc chắn rằng,Vân đứa con gái mà bà thương yêu muốn kết hợp với con trai bà, nay đã 16 tuổi. Cái tuổi chưa được gọi là khôn lớn, nhưng ít ra con bé đã pha trộn bóng dáng của một cô thiếu nữ rồi. Làm sao có thể hòa hợp được cái vẻ ngây ngô, vẫn còn mê đá bóng tạt hình của con bà được!

 

&

 

Rồi Sàigòn mùa mưa như nước đổ, mùa nắng gắt cháy da tiếp nối nhau nhiều năm sau đó. Đôi lần Thanh cũng gặp Vân thoáng qua trên đường phố, hai đứa vẫn chỉ nhìn nhau, không một lời chào hỏi, nhưng ánh mắt lại như quen nhau và mang rất nhiều nối kéo. Vân đã chững chạc trong bóng dáng cô thiếu nữ 21 tuổi, đã ra đời buôn bán cùng với mẹ và hai người chị. Thanh cũng tạm đủ lớn khôn với cái đẫy đà của người thanh niên 19 tuổi vừa lên đại học, nhưng vẫn còn đôi nét non choẹt, thư sinh, vẫn phải xin tiền cha mẹ ăn điểm tâm mỗi sáng hay vẫn thích ồn ào với lũ bạn trai.  Năm sau, một buổi chiều khi Thanh vừa về học, mẹ cho biết vừa nhận được thiệp mời đám cưới của Vân, chồng của nàng là một Hạ sĩ quan. Mặc dầu đã mấy năm nay, cuộc quen biết thân thương thủa ấu thơ đã đi vào kỷ niệm, chẳng có gì tiến triển khả dĩ được gọi là tình yêu, nhưng khi cầm tấm thiệp cưới trên tay Thanh có cảm tưởng như vừa bị mất mát một cái gì rất nhẹ nhàng nhưng xoí buốt trong lòng mình. Hình ảnh ngày xưa, thời thơ ấu với những trò chơi và cả lần giận dỗi vì cái tát nẩy lửa đánh dấu sự lớn khôn của Vân ... Tất cả lại hiện ra trong trí nhớ làm Thanh im lặng đờ đẫn, anh không nhìn thấy bà Chánh cũng đang theo dõi nét mặt tiếc nuối có tí chút buồn đau của đứa con trai.

-Thanh, con buồn lắm phải không? Mẹ cũng không ngờ chuyện xẩy ra nhanh như vậy!

Tiếng nói của mẹ đã làm Thanh sực tỉnh, kéo anh  trở lại với thực tế :

-Thật sự đã có gì đâu giữa con và Vân hả mẹ? Nàng hơn con hai tuổi, huống chi con có gì để bảo đảm cho tương lai đâu!

-Nhưng mẹ tiếc qúa con ạ! Không hiểu sao mẹ rất thương con bé đó, mẹ không quên được hình ảnh con và nó thân nhau lạ kỳ ngày hai đứa còn bé!

Thanh lấy cớ bận học hành không tham dự đám cưới của Vân, nhưng anh không quên gửi qùa tặng và nhờ mẹ nói lời chúc mừng cũng như xin lỗi vì không tham dự đám cưới của nàng được.  Sau khi Vân lấy chồng được khoảng 5, 6 tháng, qua sự móc nối của mẹ một người bạn thân, Thanh quen được cô em họ của anh ta, cô ta kém anh vài tuổi. Tình yêu lớn rất nhanh vì cả hai ở trong lứa yêu đương và có sự đồng ý của hai bên gia đình. Biết bao nhiêu âm thanh của hẹn hò và dự tính  tương lai, nhưng cũng chỉ kéo dài được khoảng nửa năm, rồi vì một lần giận dỗi vu vơ, mối tình bị gẫy đổ không hàn gắn được. Kết qủa Thanh nhận lấy nỗi đau đớn thất tình đầu tiên trong đời mình khi nàng quyết định lập gia đình vơí người khác!  Một dịp không lâu sau ngày thất tình đó, Thanh có dịp đi cùng với mẹ sang xóm cũ thăm người bà con trong họ. Khi đi gần đến căn nhà của Vân, từ đằng xa, trong chiếc hiên tráng xi măng trước căn nhà, Vân lệch thệch với chiếc bụng mang thai đang phơi quần áo. Vừa trông thấy Thanh, không biết vô tình hay c ý, Vân vội vàng thu gom đống quần áo vào chiếc gỉo mây rồi cúi đầu đi thẳng vào trong nhà!

Bà Chánh quay sang hỏi Thanh:

-Thanh, con có muốn gặp Vân nói chuyện một tí không?

Hơi cau mày ra ý không hiểu, Thanh hỏi lại mẹ:

-Tại sao mẹ lại hỏi con như vậy? Người ta có chồng và sắp có con rồi, con gặp để làm gì?  Mẹ vớ vẩn thật!

-Ai chả biết chuyện đó, mẹ đâu có nói con yêu thương cô ta và mẹ cũng đâu có nói cô ta yêu thương con. Nhưng mẹ nghĩ tình thân của con và Vân ngày còn bé qúa đẹp, khi có dịp gặp lại nhau mà con tránh mặt, không nói vài lời hỏi thăm, có vẻ vô tình qúa!

Ngẫm nghĩ một chút, mẹ nói tiếp:

-Hơn nữa có mẹ cùng đi với con mà, có gì là không minh bạch đâu? Con gặp Vân nói chuyện đàng hoàng cũng là điều lịch sự với nhau mà.

Thấy tôi im lặng có vẻ siêu lòng, mẹ mỉm cười:

-Thôi, để lúc về hãy vào thăm, tiện hơn, mẹ cũng muốn gặp bà Tứ hỏi thăm một chút, lâu nay không thấy bà ấy đi chợ! 

Sau khi thăm ngươì bà con, Thanh và mẹ trở về. Không biết vô tình hay có chủ đích, khi hai người vừa đến gần đọan đường trước nhà Vân, đã thấy nàng đứng tựa cửa như có ý đợi chờ. Vừa thấy Thanh và mẹ, Vân vồn vã chào hỏi:

-Chào bác Chánh và anh Thanh. Bác và anh vẫn khỏe chứ ạ?

-Cám ơn cháu Vân, Bác định tạt vào thăm mẹ cháu đây, mẹ cháu có nhà không?

-Có bác ạ, mẹ cháu hôm nay hơi khó chịu trong mình, đang nằm trên gác, để cháu lên gọi mẹ cháu xuống.

Nói xong, Vân đang định quay đi, nhưng mẹ Thanh ra tay cản lại:

-Thôi, khỏi phiền mẹ cháu xuống, để bác lên đó tiện hơn, cháu ở dưới này nói chuyện với Thanh đi.

Dù có ngớ ngẩn, Thanh và Vân cũng biết rõ chủ ý của bà Chánh, muốn tránh mặt để cho họ có dịp nói chuyện với nhau. Khi bà Chánh vừa biến mất phía sau căn phòng khách, khoảng không gian bao trùm Thanh và Vân hình như trở lên nặng nề, đầy âm vang ngượng ngập làm cho cả hai bối rối. Mãi một lúc sau, Thanh lấy lại được phần nào bình thản, anh hỏi nhẹ :

-Vân khoẻ không? Thanh xin lỗi vì không tham dự được đám cưới của Vân vừa rồi!

-Em cũng nghĩ anh sẽ không đến dự, nhưng...

Thanh vội vã ngắt lời:

-Thật ra ban đầu Thanh cũng muốn đi lắm, nhưng lại sợ mình qúa buồn không tốt cho ngày vui của Vân nên đổi ý không đi nữa!

Tiếp theo là những kể lể về những kỷ niệm của những năm chơi đùa với nhau thủa ấu thơ, bầu không khí trở lên thoải mái hơn, mất đi vẻ ngại ngần ban đầu. Thanh hỏi Vân:

-Bao giờ em sinh nở?

-Hai tháng nữa anh ạ.

Vừa trả lời xong, với chút ngập ngừng Vân chậm rãi nói rất nhẹ như vừa đủ cho Thanh nghe:

-Thanh, anh đặt tên cho con em đi?

Thanh cau mày ra vẻ khó nghĩ với ý kiến lạ lùng của Vân. Hình như nhìn thấy ý nghĩ của Thanh, Vân nói tiếp:

-Ghi dấu kỷ niệm của một ngươì bạn thời thơ ấu, có gì lạ lùng đâu Thanh! Anh đừng ngại gì cả.

Ngần ngừ một chút, ra vẻ suy nghĩ rồi Thanh nói nhẹ:

-Yểm, Hồng Yểm tên đó được không?

Vân giương mắt nhìn ra vẻ muốn Thanh giải thích thêm về ý nghĩa cái tên lạ kỳ mà anh vừa nói. Thanh đưa bàn tay xoa nhẹ lên gò má của mình, hơi nhăn mặt ra vẻ đau đớn, rồi mỉm cười anh giải thích:

-Yểm, tiếng Hán có nghĩa là gò má! Nếu con trai thì khỏi cần chữ đệm, con gái thì dùng chữ Hồng để...

Chẳng để cho Thanh nói tiếp, Vân tỏ vẻ buồn bã nhìn Thanh nàng hỏi nhẹ:

-Anh vẫn không quên được lần quá đáng của em ngày đó sao?  Vẫn còn giận dỗi vì lỗi lầm của em sao?

Ngần ngừ một chút, tỏ vẻ buồn bã, Thanh trả lời:

-Giận dỗi thì không, mà có gì để phải giận dỗi Vân đâu, nhưng quên thì chắc không bao giờ quên được, dù sao đó cũng là kỷ niệm mà bất cứ ai nếu có cũng không thể nào quên được!

 

&

           

          Bước sang năm 1973, Khi Thanh vừa lên năm cuối cùng ban cử nhân, anh lại có một cuộc tình với một người bạn gái cùng trường, sau anh hai lớp. Ông bà Chánh và cha mẹ cô bạn gái đã gặp nhau, đồng ý tổ chức đám cươí cho Thanh vào cuối năm khi hoàn tất việc học. Nhưng dự định cũng lại bị gẫy đổ, khi gia đình người bạn gái lấy cớ không hợp tuổi để từ chối, rồi cô ta kết hôn với người khác có nhiều điều kiện tốt đẹp hơn.  Đây là một lần thất bại đau đớn nhất, làm thay đổi tương lai cuộc sống của Thanh, mang cho anh cảm giác chán nản, buông xuôi mà kết qủa cuối niên học Thanh đã không tốt nghiệp và phải động viên vào Thủ Đức.

            Vài tháng trước khi mãn khóa sĩ quan Thử Đức, trong lần về phép cuối tuần, Thanh ngẫu nhiên gặp Vân bế con đi bộ trên đường phố, trong dáng dấp thiểu não, mất tất cả vẻ khỏe mạnh vui tươi ngày trước. Trên đầu nàng và đứa con gái quàng chiếc khăn tang mầu trắng còn mới mẻ! Trông thấy Thanh, Vân đứng xững lại ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, không lời chào hỏi! Thanh đoán có gì không may cho nàng, ngần ngừ anh hỏi:

            -Vân, em có chuyện buồn phải không?

            Vân im lặng, từ khoé mắt đôi giòng lệ chẩy dài xuống gò má, mãi sau nàng mới nói:

            -Vài tuần trước chồng em tử trận rồi anh ạ!

            Thanh thừ người ra, anh không biết nói gì để chia xớt nỗi đau khổ hiện rõ trên khuôn mặt hốc hác, hơi xanh với những giọt lệ chẩy dài trên đôi má của nàng. Vân ôm chặt đứa con gái vào lòng như muốn chuyền cho con sự ấm áp thương tâm mà hoàn cảnh đã đẩy đưa sự bất hạnh cho đời nó:

            -Tội nghiệp con quá! Chỉ mới hơn 2 tuổi đầu đã mồ côi cha!

            Thanh càng bối rối hơn, anh im lặng đưa tay nắm nhẹ lấy vai Vân, thẩn thờ nhìn sự âu yếm buồn bã của Vân đối vơí đứa con. Mãi một lúc tự thấy thái độ của mình có vẻ kịch cỡm và ngờ nghệch, Thanh mới chậm rãi vơí giọng buồn bã, an ủi nàng:

            -Anh chỉ biết chia buồn vơí em mà thôi Vân ạ, số phận là những gì mà người ta khó có thể đổi thay được! Nhất là trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, không có mấy người may mắn để thoát khỏi một vài điều bất hạnh, khổ đau đâu!

            Dừng lại một chút như để nhìn lại vị trí của mình trong bộ đồ quân nhân, Thanh nói tiếp:

            -Em thấy không, anh cũng đã khởi đầu rồi ... Có gì bảo đảm cho tương lai an toàn của anh đâu! Em cố gắng vững mạnh để sống vơí con, đó là điều cần thiết và thực tế nhất.

            Hình như lời nói chí tình, cảm thông của Thanh đã mang được vài an ủi cho Vân, nàng đưa tay vuốt đi những giọt lệ trên khuôn mặt, cố lấy lại vẻ tự nhiên, Vân nói vơí đứa con gái:

-Yểm, Hồng Yểm con chào bác Thanh đi!

Thanh giật mình, cảm động khi nghe Vân nói đến tên đứa bé. Ký ức chợt kéo anh trở lại hơn 2 năm về trước, trong lần gặp nhau, lúc đó Vân đang có thai, Vân đã nhờ anh đặt tên cho đứa con đầu lòng sắp sinh nở. Rồi cũng vì kỷ niệm thủa thơ ngây, anh đã đưa cho nàng cái tên Yểm để ghi dấu lần giận dỗi của anh và nàng... Hôm nay gặp lại, dù trong nỗi buồn đau và bất hạnh của Vân, nhưng trong lòng anh vẫn thoáng cái cảm giác xúc động nhè nhẹ dễ thương vì cái tên ghi dấu kỷ niệm thời ấu thơ! Thái độ ngẩn ngơ của Thanh khi nghe Vân gọi tên đứa bé lộ hẳn ra trên mặt, nhưng có lẽ vì qúa buồn đau Vân đã quên bẵng đi ý nghĩa và nguyên thủy của cái tên kỷ niệm của nàng và Thanh. Thanh vuốt đầu đứa bé gái, âu yếm bế nó lên tay nghe vài tiếng chào thỏ thẻ chưa rõ ràng của nó, ngần ngừ một chút anh nói nhẹ với Vân:

-Hồng Yểm! Cám ơn em Vân ạ!

Lúc này thì Vân đã hiểu ra, nàng ngước mắt nhìn Thanh trong ánh mắt cảm động, khó hiểu!

 

&

 

Sau lần gặp gỡ đó, Thanh trở lại quân trường, cho đến ngày mãn khoá vào giữa năm 1974, anh không có dịp về phép Sàigòn nữa. Ngày mãn khóa được diễn ra trong khói mù của chiến tranh, Thanh được điều động trực tiếp ra đơn vị chiến đấu để cung ứng cho đòi hỏi của chiến trường đang bước vào giai đọan khốc liệt.  Được khoảng hơn 3 tháng, trong một cuộc đụng độ dữ dội với địch quân, Thanh chỉ còn nhớ mang máng là đơn vị của anh trong lần tiến chiếm mục tiêu đã bị rơi vào ổ phục kích của địch, Thanh bị thương và được trực thăng cấp cứu.

            Không biết qua bao nhiêu ngày mê man và giải phẩu, khi vừa mở mắt ra, người mà Thanh nhìn thấy đầu tiên là ba mẹ anh và toàn thể gia đình của hai người em. Mọi người nhìn Thanh với ánh mắt đầy đau thương, buồn bã. Cũng chính lúc nửa mê nửa tỉnh đó, cái nhói đau đã làm Thanh nhìn xuống phần dưới thân thể mình. Cảm giác đau buốt tâm can đến với Thanh, khi biết mình đã thành kẻ tàn phế, ống chân trái không còn nữa, phần đùi chân cũn cỡn đã được bó gọn gàng bằng băng vải trắng xóa!  Có lẽ nhìn thấy nỗi bàng hoàng, đau khổ hiện trên khuôn mặt Thanh, bà Chánh đưa bàn tay âu yếm vuốt vài sợi tóc loà xòa trên vừng trán còn tái xanh của Thanh, với giọng nói êm ả nhưng không dấu được buồn rầu, lo lắng:

-Thanh, Con có đau lắm không? Tội nghiệp con qúa!

Thanh vuốt cánh tay mẹ, im lặng nhìn những giọt nước mắt chẩy dàn giụa trên khuôn mặt u ám đầy lo lắng của mẹ mà lòng anh quặn đau.  Anh có cảm tưởng khuôn mặt của mẹ hôm nay như bị già đi vì đau khổ với bất hạnh của mình. Cố chấn tỉnh, lấy can đảm, nở nụ cười trên môi vơí giọng nói cứng mạnh Thanh an ủi mẹ:

-Mẹ đừng lo lắng làm gì cho khổ! Khối óc của con còn minh mẫn, đôi tay, mắt mũi còn toàn vẹn, con vẫn còn nhiều dịp để vươn lên mà! Trong cuộc chiến tranh hiện tại, sự mất mát của con như thế này vẫn còn may mắn so với nhiều ngươì khác đó mẹ ạ!

Bà Chánh nắm lấy bàn tay đứa con trai nắn nhè nhẹ, dù biết đó là những lời trấn an của con, muốn xua đuổi đi nỗi buồn đau đang có trong lòng bà! Tuy nhiên, dù sao lời nói đó cũng mang đến cho bà đôi phần an ủi vì sự bất hạnh không đến nỗi bà phải vĩnh viễn xa rời nó! Mấy năm vừa qua, bà biết rõ đứa con của bà đã liên tiếp gặp những chuyện buồn khổ, qua mấy lần trắc trở yêu đương, dù nó không nói với bà, nhưng bà hiểu, những dở dang đó đã làm nó buồn chán,bỏ bê việc học hành.

Sáng hôm sau, khi mấy người y tá vừa thay băng vết thương xong, Thanh nằm trên giường để mắt bâng quơ qua khung cửa sổ dõi theo vài con chim chuyền nhẩy trên hàng cây điệp ở ngoài sân. Cảm gíac cô đơn, buồn bã xấm chiếm tâm hồn, khi Thanh nhìn đến những ngày tháng sắp tới của đời mình với tấm thân tàn phế và việc học hành dở dang, tiếng động nhẹ đã làm Thanh giật mình quay lại khi thấy Vân và đứa con gái đã đứng sát bên chiếc giường của anh từ lúc nào, đôi mắt buồn bã, đẫm lệ đang nhìn anh. Thanh ngẫn ngờ, chưa kịp mở miệng, Vân đã nói :

-Anh Thanh, mẹ con em đến thăm anh đây!

Không dấu được mừng rỡ, ngạc nhiên, Thanh hỏi dồn dập:

-Vân, em đến đây bao giờ vậy? Làm sao em biết anh bị thương mà đến thăm?

-Chiều hôm qua, mẹ anh báo tin cho em đó!

Thanh ngước mắt, im lặng nhìn thật kỹ dáng dấp của Vân, dù đã là một thiếu phụ nhưng vẫn còn những nét mù mờ của cô bé với biết bao nhiêu kỷ niệm thủa ấu thơ của anh. Vẫn cặp má hơi ốm, làn da mịn màng làm nổi bật đôi môi mỏng hấp dẫn, rồi hình ảnh của ngày xưa, của lần giận dỗi trong trò chơi trốn tìm hiện lên trong trí nhớ, làm Thanh chợt hiểu ý tứ của mẹ khi báo tin cho Vân. Mẹ lại muốn nối lại tình thân giữa anh và Vân người con gái mà mẹ yêu mến từ ngày nàng còn bé. Nhưng khi vừa dở mình, cảm giác nhói đau từ chiếc chân cụt đã kéo Thanh nhớ đến hiện trạng tàn phế của mình, cùng với nỗi đau đớn vì phản bội trong 2 cuộc tình trong dĩ vãng. Cảm giác tự ti và chán ngán, nghi ngờ tình yêu lại đổ ập đến nhắc nhở Thanh, với giọng buồn bã Thanh nói với Vân:

-Cám ơn Vân, anh không dám phiền em đâu!

Vân ngẩn ngơ khi nghe câu trả lời của Thanh, ngẫm nghĩ một tí, nàng hỏi nhẹ :

-Anh không muốn em đến đây sao? Chắc anh có người khác lo lắng săn sóc cho anh rồi hả?

Thanh biết thái độ lạnh lùng, buồn chán của mình đã làm Vân hiểu lầm, ngần ngừ tí chút rồi anh trả lời :

-Không! Em hiểu lầm rồi!  Sau vài lần bị phản bội anh chẳng còn dám nghĩ đến yêu thương nữa, huống chi ngày nay anh là một kẻ tàn tật Vân ạ! Anh....

            Chẳng để Thanh nói tiếp, Vân ngắt lời:

            -Thanh, anh tưởng rằng em không biết tình trạng bị thương của anh trước khi đến đây sao?

            Vân âu yếm vuốt nhẹ trên khuôn mặt Thanh, nàng tiếp:

            -Nếu anh không quên những kỷ niệm ngày xưa, chúng mình sẽ nối tiếp trở lại, chẳng có gì ngăn cách được, Thanh ạ.

Thanh cảm động nắm lấy bàn tay Vân ép nhẹ lên khuôn mặt, bờ môi của mình, niềm hạnh phúc ấm cúng lan khắp tâm hồn anh. Thanh phải nằm bệnh viện hơn mợt tháng trời, Vân và Hồng Yểm gần như hàng ngày đều đến thăm nuôi, chăm sóc anh. Hạnh phúc cuả mối tình muộn màng luôn luôn hiện diện, nồng nàn giữa Thanh và hai mẹ con Vân. Mọi người trong gia đình Thanh cũng vui mừng vì cuộc đời anh đã được an ủi rất nhiều sau những khổ đau và thất bại.

Rời bệnh viện, mối tình gắn bó hơn bằng tất cả những ngọt ngào, chiều chuộng nhau.  Sau những buổi chợ, Vân thường đưa Hồng Yểm đến với Thanh, mang cho anh những món ăn ngon ngọt. Những ngày rảnh rỗi, họ hẹn nhau đi phố, hình ảnh mái gia đình hạnh phúc với người vợ hiền thục, gắn bó thương yêu người chồng tàn tật bên đôi nạng gỗ, trong tiếng cười vui của đứa bé gái ngây ngô 3 tuổi trên đường phố, trong tiệm ăn, đôi khi đã làm cho vài khách bộ hành ngẩn ngơ, cảm động ngó theo.

Tháng 4 năm 1975 cuộc chiến tranh chấm dứt trong ngỡ ngàng của thời thế, đưa đến biết bao nhiêu đổi thay của cuộc sống. Gia đình Thanh cũng như hầu hết mọi người khác của miền Nam đã rơi vào một giai đoạn kinh hoàng của khó khăn. Ba Thanh, ông Chánh sau một lần bịnh hoạn đã bất thình lình ra đi trong thời điểm nhiễu nhương đổi thay đó.  Không hiểu vì đưa đẩy thế nào mà toàn thể gia đình hai người chị và bà Tứ, mẹ của Vân đã kịp di chuyển theo đoàn người di tản rồi được định cư tại Mỹ, Vân và bé gái Hồng Yểm còn ở lại. Trong bối cảnh đó, tình thân thương của hai mẹ con Vân và Thanh cũng như gia đình anh càng trở lên thắm thiết. Mọi người nương tựa nhau, giúp đỡ nhau trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt của xã hội như một đại gia đình đầy hạnh phúc. Mặc dầu sống tách biệt nhau, nhưng dưới mắt mẹ cũng như hai em của Thanh, Vân đã là thành viên ruột thịt của gia đình họ chưa chính thức mà thôi. Thanh và Vân dự định chờ đủ 3 năm mãn tang của của ba Thanh sẽ làm đám cươí và chính thức sống với nhau.

Cuộc sống hạnh phúc đó kéo dài được hơn 2 năm dù trong khó khăn, thiếu thốn về vật chất nhưng lại đầy tràn hoan lạc, thương yêu. Những bất hạnh trong qúa khứ, mặc cảm tự ti, chán nản sau hai lần tình yêu gẫy đổ cũng như khiếm khuyết thân thể vì chiến cuộc ... Tất cả đã dần dần biến mất trong cảm nghĩ, trí nhớ của Thanh. Thay vào đó là những tin tưởng, hạnh phúc của hiện tại để chờ đợi ngày mãn tang đang gần đến cho ngày đám cưới chính thức kết hợp thành một mái gia đình.  Nhưng cuộc sống vẫn có những hạt mầm của ngỡ ngàng phi lý, đôi khi mang cho người ta những buồn đau ngoài tính toán. Vân tự nhiên giảm dần việc đến nhà Thanh, thái độ thay đổi kỳ lạ, khó hiểu của nàng, không riêng gì Thanh mà tất cả mọi người trong gia đình anh linh cảm có điều gì khác lạ, không hay sắp xẩy ra cho tình yêu của Thanh. Tuy nhiên, trong cái xã hội hết sức phúc tạp và đầy rẫy những mù mờ của vài năm sau 1975, Thanh nghĩ rằng Vân đang gặp điều gì khó khăn mà nàng không muốn thộ lộ với mọi người trong gia đình anh. Rất có thể những rắc rối riêng tư của gia đình mấy người chị và mẹ nàng ở bên Mỹ gửi về, hay lại có vài lộn xộn về bé Hồng Yểm với gia đình bên người chồng cũ của Vân mà nó đã xẩy ra vài lần trước đây ?...Nhưng bất thình lình, Thanh và gia đình bàng hoàng khi nhận được lá thư đoạn tuyệt của Vân:

 

Sàigòn, ngày... tháng... năm 1977

 

Anh Thanh thân mến,                                       

           

Suốt mấy tháng vừa qua,  em đã dấu anh một điều rất khó nói, đã dầy vò em với biết bao nhiêu lương lự. Nhưng hôm nay thì sự kiện đã rõ ràng rồi, em không thể dấu diếm anh được nữa, em phải nói với anh, dù biết rằng sẽ làm anh buồn đau, hận ghét em.

            Như anh đã biết mẹ và hai người chị của em đang sống tại Mỹ, hầu hết những lá thư gửi về cho em đều nói đến vấn đề đoàn tụ. Mẹ em đã gìa, đau ốm liên miên, không biết sống chết lúc nào,mẹ chỉ ước ao được nhìn thấy em và bé Hồng Yểm được sang Mỹ, cùng sống với hai chị của em. Gia đình đã xếp đặt để cho em ra đi sang Pháp dưới dạng kết hôn với một người quen biết, rồi sau đó sẽ tìm cách sang Mỹ (thời gian này chi có con đường sang Pháp để ra đi chính thức được mà thôi )

     Em đã mang nhiều lưỡng lự trong hơn một năm vừa qua, bởi vì bên anh em đã tìm được qúa nhiều hạnh phúc, cái hạnh phúc của tình yêu nồng nàn mà anh dành cho em cũng như của tình thân gán bó, chân thật mà mẹ anh cũng như hai người em của anh đối đãi với em trong nhiều năm vừa qua. Nhưng biết làm sao được khi hoàn cảnh đẩy đưa, bắt em phải chọn lựa, cái chọn lựa khổ tâm với rất nhiều ân hận và đau buồn. Đó là em phải ra đi, phải chấp nhận rời xa anh, dù em thật sự yêu anh! Em biết rằng sự lựa chọn miễn cưỡng của mình sẽ mang đến biết bao nhiêu buồn đau và tức giận nơi anh, nhưng em hy vọng anh hiểu cho hoàn cảnh của em, tha thứ cho em. Thời gian và ngăn cách sẽ là những cấu chất làm phai nhoà những buồn đau Thanh ạ.

            Thôi, viết thế nào cho anh, cuối cùng vẫn là chia ly, em cầu chúc mọi sự an lành và niềm vui mãi mãi đến với anh và mọi người trong gia đình.

Kính mến và thương yêu !

(Vân và Hồng Yểm )  

 

Đọc xong lá thư, Thanh thẩn thờ như người mất hồn, buông mình ngồi xuống chiếc ghế, đưa mắt nhìn bâng quơ ra phía ngoài đường mà lòng cảm thấy xót đau như bị cắt xé. Bà Chánh cầm lá thư lên, nhìn thoáng qua nét chữ và dáng điệu thất thần của đứa con trai tàn tật, bà cũng đoán được bất hạnh lại đổ lên cuộc đời của nó! Đọc thoáng qua, bà buông tiếng thở dài buồn bã:

-Thanh, mẹ không ngờ Vân nó vô tình, bất nhân như thế! Mẹ xin lỗi con, chính mẹ đã tìm cách kết nối cho con để rồi ngày nay con lại nhận chịu lấy khổ đau!

Thanh khập khễnh đứng dậy, đưa đôi tay ôm lấy vai me, miệng nở nụ cười cay đắng, anh nói:

-Tại sao mẹ xin lỗi con nhỉ? Con người vô tình, gỉa dối khéo léo như vậy, mẹ con ta làm sao mà ngờ được!

Ngẫm nghĩ một chút rồi Thanh tiếp :

-Hơn nữa đó cũng là số phận của con mà thôi mẹ ạ! Từ nay con sẽ không dại khờ nữa! Ba lần đau khổ vì phản bội, dễ tin đã qúa đủ cho con biết rằng đời con chẳng còn gì để mất mát nữa!

Vân ra đi được khoảng gần hai năm, hoàn toàn im lặng, chẳng có một lá thư nào gửi về! Cuộc sống của gia đình Thanh cũng như phần lớn người VN khác, vẫn bị cơn lốc xóay của thời cuộc nhấn sâu vào đói khổ, phải làm việc quần quật kiếm ăn, phải tìm đủ cách sinh tồn với những bữa cơm độn bo bo hàng ngày. Trong hoàn cảnh cùng cực đó Thanh chẳng còn thời gian và trí não để nhớ đến hay giận hờn người đàn bà phản bội mà một lần mình đã yêu đương. Mẹ và hai đứa em của Thanh cũng không bao giờ nhắc nhở, cố tránh khơi dậy nỗi đau đớn thầm kín mà mọi người biết chắc chắn nó vẫn còn rướm máu trong lòng anh. 

Một buổi sáng khi Thanh đang ngồi trong nhà đọc vớ vẩn vài tờ báo, bất chợt một người đàn ông vơí chiếc xe Honda, khá sang trọng dừng trước cửa nhà, vẻ mặt mừng rỡ như quen thuộc anh từ lâu, ông ta bước vào nhà hỏi Thanh:

-Ông là ông Thanh phải không?

Thanh ngẫn ngờ nhìn ông ta trong thắc mắc, nhưng cũng trả lời:

-Vâng, có chuyện gì liên quan đến tôi vậy?

-Tôi đang kiếm ông đây, người nhà tôi ở ngoại quốc, nói tôi tìm ông để đưa cho ông món tiền tương đương với 200 Dollars Mỹ (khá to vào cuốn thập niên 1970 ).

Nói xong ông ta móc trong cặp ra một bịch tiền, cùng một tờ giấy và cái bút :

-Xin ông viết cho tôi vài hàng vào tờ giấy này để tôi gửi đi, báo tin là ông đã nhận tiền rồi.

Thanh giương mắt nhìn ông ta với tất cả ngạc nhiên. Thật rõ ràng Thanh nói:

-Ông lầm người rồi! Tôi chẳng có ai quen biết thân thiết ở ngoại quốc, đến độ họ gửi tặng cho tôi món tiền to lớn như thế đâu! Ông nên hỏi lại người quen của ông để không gây ra rắc rối cho ông và cả cho tôi nữa!

-Ông Thanh, tôi không lầm đâu! Chẳng lẽ sai địa chỉ còn sai cả hình dạng mà người quen tôi viết cho tôi nữa sao?

Ngần ngừ một tí, ông ta nói rất nhẹ, đủ để Thanh nghe:

-Ông có phải là chuẩn úy Sư Đoàn 25 Bộ Binh QLVNCH không? Và ông có phải là phế binh, mất chân trái không?... Tôi không lầm đâu ông Thanh à. Ông cứ nhận đi...

Thanh vội vã ngắt lời ông ta:

-Nhưng lạ quá! Tôi chắc với ông, không có ai tốt đến độ gửi tiền bạc khơi khơi cho tôi như vậy đâu! Tôi nhận rồi, người quen của ông tìm ra lầm lẫn thì làm sao tôi có tiền mà trả lại cho ông được? Thôi, ông mang về đi, hỏi người quen ông cho chắc chắn vẫn hơn.

- Ông Thanh à, tôi biết chắc chắn tiền này gửi cho ông mà! Ông đừng lo, mọi sự sai lầm nếu xẩy ra tôi chịu trách nhiệm mà!  

Thấy Thanh vẫn còn ngần ngại, chưa quyết định. Ông ta ghé sát vào tai Thanh nói nhỏ:

- Theo tôi nghĩ hội cưụ chiến binh VNCH ở hải ngoại giúp đỡ ông đó...

Thanh ngẩn ngơ vơí lời giải thích qúa hợp lý của ông ta, quay sang nhìn mẹ như hỏi ý kiến. Mẹ hơi gật đầu nói vơi Thanh:

-Ông ta đã nói chắc như vậy thì con cứ nhận đi.

Rồi bà quay sang ngươì đàn ông, với giọng rất minh bạch:

-Nếu có gì lầm lẫn, sai traí, mong ông đừng đổ trách nhiệm lên đầu chúng tôi nhé!

-Bác và anh Thanh đừng lo, cháu không đến nỗi ngu muội đưa một món tiền qúa lớn ra làm trò đùa đâu!

Món tiền đó, phải gọi là vĩ đại cho hoàn cảnh cùng túng vào thời điểm qúa khó khăn đó, nó đã giải quyết biết bao nhiêu vấn đề sinh sống cho Thanh và mọi người trong gia đình. Rồi lạ kỳ lại tiếp nối, khoảng ba tháng sau lại cũng người đàn ông đó đến, lần này thì chẳng còn gì để bàn cãi, tranh luận đúng sai nữa. Ông ta cho biết, do một nhóm cựu sĩ quan VNCH ngày xưa đóng góp.  Sau đó lại cứ khoảng 3 hay 4 tháng Thanh lại nhận được những giúp đỡ tương tự, khi bằng ngoại tệ, khi bằng tiền VN.  Người đưa tiền cũng thay đổi luôn, lúc thì một Việt kiều, khi thì một kẻ trung gian ăn lời... Đặc biệt là chẳng ai nói rõ tên, địa chỉ của ân nhân hay hội đoàn giúp đỡ, dù Thanh gặng hỏi. Thanh chỉ nói được vài lời cám ơn hay viết lá thư tổng quát tỏ bầy cảm động biết ơn sự giúp đỡ đó mà thôi.

Sự giúp đỡ liên tục như vậy kéo dài suốt gần 15 năm trời, gia đình Thanh đã dư gỉa và còn có vốn để làm ăn. Cuộc sống của gia đình Thanh thay đổi hoàn toàn, từ thiếu ăn khổ cực đến nhàn nhã sung túc. Từ chật chội với 12 người lớn bé, chui rúc trong căn nhà lụp xụp trong xóm, đã được thay bằng một căn nhà 3 tầng lầu khang trang ở mặt đường lộ để cho cô em gái mở tiệm may ở tầng trệt.

 Bước sang thập niên 1990, Mẹ đã già yếu, Thanh cũng đã gần 50, sức khoẻ sau lần bị nạn chiến tranh cũng đã xuống rất nhiều vì vậy Thanh và mẹ cũng chỉ quanh quẩn ở nhà giúp đỡ phần nào cho gia đình cô em gái hay  chăm sóc việc học cho vài đứa cháu mà thôi.

Một buổi chiều, Thanh đang ngồi đọc báo trong phòng khách, chị thợ may dẫn vào một cô gái, khá sang trọng, còn trẻ khoảng trên dưới 20 tuổi. Vừa trông thấy Thanh, cô ta mừng rỡ chào hỏi:

-Bác Thanh, bác có khoẻ mạnh không?

Nhìn thấy nét ngỡ ngàng, xa lạ của Thanh, cô ta cười nói tiếp:

-Bác không nhận ra cháu sao?

Thanh cau mày, cố lục lọi trí nhớ để tìm ra sự quen biết với cô ta, nhưng đành chịu! Anh nói với cô ta:

-Xin lỗi cô, tôi chẳng nhận ra cô là ai cả!

Cô gái mỉm cười có vẻ thích thú vì sự lạ lùng của Thanh:

-Cháu là Hồng Yểm đây!

Thanh ngẩn ngơ, nhìn thật kỹ cô gái, lúc đó anh mới tìm được một vài điểm quen thuộc của cô bé Hồng Yểm đã hơn 17 năm ngày trước. Cô bé 4,5 tuổi mà anh đã từng ẵm bế, thân thương!  Tuy nhiên,  cũng ngay lúc đó cảm giác uất hận, đau đớn đổ dồn đến xoay buốt tâm hồn anh. Hình ảnh người đàn bà phản bội, bạc tình, lừa dối lại hiện ra trong trí nhớ anh. Phải cố trấn tỉnh,Thanh mới không phát ra những lời sỗ sàng, xua đuổi cô gái ra khỏi nhà, Thanh nhíu lông mày nhìn cô gái trong ánh mắt lạnh lùng, không vui, anh nói vơí cô ta:

-Vâng, chào bà. Tôi đã nhận ra bà rồi!

Chẳng để cho cô gái trả lời, Thanh đay nghiến tiếp:

-Bà đến đây để làm gì vậy? Tôi nhờ bà nói với mẹ của bà, tôi chẳng còn gì để mẹ con bà lợi dụng nữa đâu!

Giơ chiếc chân trái tàn phế về hướng cô gái, anh tiếp:

-Bà thấy không, với cái thân thể tàn tật, khiếm khuyết này làm sao xứng đáng với cái danh giá cao sang của mẹ con bà được!

Dù nhìn thấy nét mặt đau khổ, ngẫn ngơ của cô gái, Thanh cũng không bớt được cơn giận dữ, anh phẩy tay về phía cô gái:

-Thôi bà để tôi yên, bà về đi! Tôi không còn dại khờ để bị lường đảo, phản bội lần nữa đâu, mời bà ra khỏi nhà tôi!

Cô gái đau khổ nhìn sự tức giận của Thanh. Mãi một lúc sau, nét mặt ướt đẫm vì giòng lệ đang chẩy ra từ đôi mắt, cô gái nói thật nhẹ trong tiếng khóc:

-Bác Thanh!  Mẹ cháu không còn nữa! Vừa mất hai tháng nay. Mẹ cháu đã sống  trong hối hận, trong đau khổ suốt hơn 17 năm vừa qua! Từ ngày rời xa bác!

-Thật buồn cho mẹ của bà! Nhưng có gì để liên quan đến tôi chứ?

Cô gái lại nói như năn nỉ:

-Bác Thanh, bác hãy bình tỉnh lại để hiểu và tha thứ cho mẹ cháu.

Vừa nói, cô ta vừa mở chiếc xách tay, rút ra một lá thư đưa tận tay Thanh vơí thái độ buồn bã cô ta nói rất nhẹ:

-Bác hãy đọc lá thư này của mẹ cháu gửi cho bác, trước khi mất, sau khi đọc xong, nếu bác còn nghĩ  rằng mẹ cháu là người đáng nguyền rủa, nếu cháu không đủ tư cách làm đứa cháu của bác như mẹ cháu mong muốn, cháu sẽ rời xa bác ngay, vĩnh viễn không bao giờ làm phiền đến bác nữa!

Cầm lá thư trong tay, Thanh định xé tan nó trước mắt cô gái để tỏ lòng thù hận mà anh đã tích chứa trong 17 năm vừa qua, nhưng khi ngước lên nhìn khuôn mặt đau khổ đầy nước mắt của cô gái, ký ức lại kéo anh trở về với hơn 2 năm trời ấm cúng, hạnh phúc với mẹ cô ta, anh đã từng bế ẵm cô ta trong tay mình với biết bao nhiêu nồng nàn như tình cha con. Cái tên Nguyễn Thị Hồng Yểm của cô ta cũng chính do anh đặt ra để kỷ niệm lần giận hờn ngây ngô thủa ấu thơ của Thanh và mẹ cô ta... Tất cả những cái đẹp đẽ, kỷ niệm xa xăm đó đã  trở lại hiện ra trước mắt Thanh, làm anh ngần ngừ tí chút trước khi mở lá thư ra đọc:

 

Cali, ngày... tháng... năm 1994 

 

Anh Thanh thương mến,

Đã hơn 17 năm qua rồi. Thời gian đã tưởng rằng nó đã qúa đủ dài để chôn vùi được những kỷ niệm thủa ấu thơ và hơn hai năm yêu nhau  ngọt bùi, hạnh phúc của chúng mình từ ngày anh bị thương vào bịnh viện. Nhưng hôm nay đứng trước một mất mát cuối cùng của đời mình, em lại muốn tâm sự với anh, khơi lại những buồn đau, giận ghét trong lòng anh vì sự bạc tình, bất nghĩa của em đối với anh. Nhưng em cũng muốn kể lể, giải thích cho anh những lý do đau lòng và hình như rất hợp lý mà em đã  chọn lựa để xa anh hơn 17 năm về trước.

Như anh đã biết, em đã mất cha từ ngày còn bé, lúc mẹ em vẫn còn xuân trẻ, mẹ em đã ở vậy, dành hết tình thương cho 3 đứa con gái mà em là út. Rồi năm 1975 xẩy đến làm đảo lộn tất cả nếp sống của gia đình em. Mẹ em và hai chị đã ra đi, em còn sót lại! Sang bên xứ lạ, quê người, mẹ em buồn khóc vì không thể nào quên được em, vì thế hai người chị đã tìm đủ mọi cách để làm sao em phải đến được Mỹ. Lúc đó trực tiếp đi Mỹ dưới dạng bảo lãnh cho con chưa được xét đến vì vậy gia đình em đã phải dùng con đường kết hôn với một người quen, anh ta có quốc tịch Pháp và có điều kiện để mang em đi Mỹ sau khi em đến Pháp .

Em đã lưỡng lự rất nhiều trước khi quyết định bởi vì em thật sự yêu anh, không muốn rời xa anh bởi vì  bên anh em đã tìm thấy hạnh phúc. Nhưng khi nghĩ đến hoàn cảnh lo buồn, bệnh hoạn của mẹ, em đã chọn lựa lỗi lầm với anh, nhận lấy sự hối hận ray rứt cho đến ngày nhắm mắt để được gần mẹ và hai người chị của em.

Dù đã hình dung ra nhưng khổ đau khi chọn lựa mất anh, nhưng khi sang được Pháp, rồi đến Mỹ, em mới thực sự  hiểu rõ thế nào là nghĩa của hai chữ yêu đương! Em không thể nào quên được anh, nhớ anh ban ngày và thường gặp anh trong mơ! Người đàn ông bên cạnh em chỉ là chiếc bóng mờ nhạt, không tình cảm để rồi kết qủa là sự chấm dứt sau hơn một năm chung sống.

Sau đó em đi làm việc và cùng bé Hồng Yểm trở về sống với mẹ em, nhưng cũng chỉ được vài năm, mẹ em mất. Em đi làm việc, cố gắng dành dụm, tìm cách gửi tí chút về giứp đỡ anh. Em biết rằng nếu nói thật, chắc chắn anh sẽ không nhận sự gíup đỡ của em, vì vậy em đã ngụy tạo ra lý do để cho anh an lòng chấp nhận.

Anh Thanh thương mến, suốt hơn 17 năm qua em đã sống trong ân hận vì đã gây đau khổ cho anh, nhưng chính lúc này đây em tự hỏi nếu hoàn cảnh lập lại giống như vậy một lần nữa, em có dám vì yêu anh mà rời xa người mẹ kính yêu, đã một đời hy sinh cho em được không? Có lẽ là không anh Thanh ạ! Chính vì vậy em viết lá thư này đến anh, chỉ mong anh thông hiểu và tha thứ cho em đã vì hoàn cảnh mà em đã gây ra đau khổ cho anh.

Anh thương, anh có bao giờ nghĩ rằng suốt 17 năm vừa qua em đã bao nhiêu lần muốn viết thư, muốn liên lạc với anh để xin anh tha thứ và cho em lại được gần anh. Anh có biết rằng đã vài lần về nước, em đã đứng xa xa nhìn về căn nhà của anh, trông thấy anh thấp thoáng mà lệ chẩy rồi em xót đau ra đi. Chỉ  vì em nghĩ rằng sự hận ghét vẫn còn đầy ắp trong lòng anh và nỗi ngượng ngùng, xấu hổ vẫn chưa nguôi trong trí nhớ của em... Những cảm gíac đó đã làm em ngại ngùng, không đủ can đảm tìm đến anh, mặc dù em vẫn yêu anh!

Em đã tưởng rằng cuộc sống của mình sẽ mãi mãi trong trạng huống ngăn cách, ăn năn đó. Nhưng mấy tháng trước sau một lần bị bệnh, em phải vào bệnh viện và khám phá ra bệnh ung thư gan đã đến thời kỳ tuyệt vọng. Hôm nay, đứng trước ngưỡng cửa của tử thần, em cố dành sự bình thản viết là thư này cho anh, nhờ Hồng Yểm đưa tận tay anh, lá thư cuối cùng viết cho anh để rồi em sửa soạn vĩnh viễn ra đi. Lá thư mong anh chấp nhận tha thứ cho em những lỗi lầm mà em đã vì hoàn cảnh đem đến cho anh những khổ đau giận ghét trong 17 năm qua. Em cũng mong ước anh chấp nhận, coi Hồng Yểm là đứa cháu của anh như ngày xưa mà anh đã từng ẵm bế thương yêu, nó sẽ giúp đỡ cưu mang anh như một đứa cháu trả nghĩa cho người bác mà mẹ nó yêu thương nhưng vì hoàn cảnh mà gây lên lầm lỗi!

Anh Thanh thương, những kỷ niệm thời ấu thơ và bóng hình anh sẽ chẳng bao giờ xóa nhòa trong trí nhớ và tâm hồn em, dù cho chúng ta miên viễn xa nhau.

 

Thương anh

 

Vân

 

Đọc xong lá thư, Thanh thẫn thờ buông mình, ngồi xuống chiếc sofa, anh không ngờ, suốt 15 năm vừa qua, nhờ những đồng tiền mà anh đã nhận được, đã nuôi sống, tạo hạnh phúc, ấm êm cho đại gia đình anh qua cơn đói khổ buổi giao thời lại là mồ hôi, sức lực của Vân. Người đàn bà mà không bao giờ anh quên với lòng hận ghét! Bây giờ đứng trước sự thật, lòng tốt và tình nghĩa của Vân đã hiện rõ làm anh hối hận, cảm động!  Thanh ngước đầu nhìn ra phía ngoài đường, từ khoé mắt anh hai giòng lệ chảy dài xuống gò má, với âm thanh buồn bã anh nói:

-Vân, anh cám ơn em! Tôi nghiệp em qúa!

Hồng Yểm yên lặng nhìn xúc cảm đau đớn hiện rõ trên nét mặt Thanh, cô ta nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh Thanh, nắm lấy cánh tay anh, đưa mắt nhìn Thanh như cầu khẩn: 

-Bác Thanh, bác tha lỗi cho mẹ cháu nhé!

-Cháu Hồng Yểm, Nguyễn thị Hồng Yểm!  Mẹ cháu chẳng có lỗi lầm gì vơí bác cả, chỉ vì hoàn cảnh và định mệnh oái oăm đã đẩy mẹ cháu và bác ra xa nhau mà thôi! Còn cháu, cháu sẽ mãi mãi là người cháu mà bác thương yêu như mẹ cháu mong chờ!

Im lặng một chút, đưa ánh mắt buồn bã nhìn xa xa, Thanh nói nhẹ vu vơ:

- Vân, em đã sai lầm, em đã nhìn không chính xác về anh! Những lần em về VN, cũng như em đã ngại ngần không liên lạc, gặp gỡ lại anh! Vân ơi, em đâu có biết được rằng, sự giận ghét của anh làm sao có thể so sánh được với tình yêu sâu kín, nồng nàn mà anh luôn luôn dành em! 

Bà Chánh im lặng ngồi ở góc phòng, dù không đọc lá thư của Vân nhưng tất cả những diễn tiến đã cho bà hiểu rõ vần đề. Bà không hề lầm lẫn về Vân đứa con gái mà bà thương yêu từ ngày còn ấu thơ, bà biết chắc chắn nó không phải là dạng người mang cá tính phản bội và dễ quên kỷ niệm! Bà cũng biết Thanh đứa con trai của bà, nói rất đúng, sự giận ghét trong lòng nó làm sao có thể sánh được với tình yêu mà nó ấp ủ trong tim được! Buồn bã, bà chép miệng nhắc lại câu nói của Thanh:

-Hoàn cảnh và định mệnh đã đẩy hai chúng xa nhau!

                                                                                                                                                           

            Lưu An (Switzerland, December, 2002)

* * *

Đọc một quẻ KINH DỊCH

theo QUAN-ĐIỂM mới

CVA Lê-Quý-Thụ


             
Kinh Dịch là đệ nhất  kỳ thư  của Đông Phương được lập thành rất đơn giản,  chỉ dùng hai loại vạch liền ( ___ )  và vạch đứt (__  __)  tượng trưng cho âm và dương  để biểu diễn sự hợp thành và biến đổi của mọi sự vật.  Các vạch này  kết hợp  theo cách chồng lên nhau thành từng nhóm hai, ba, sáu vạch  tạo nên Tứ tượng, Bát quái, và 64 quẻ căn bản của Kinh Dịch.  Ban đầu Dịch không có lời  cho đến khi Chu Văn Vương (1144 t TL)  lập ra Hậu thiên bát quái mới đặt dưới 64 quẻ các lời gọi là Thoán từ. Tiếp đến Chu Công  viết các lời dưới 384 hào gọi là  Hào từ  làm thành  Chính Kinh (1100 t TL). Sau đó  Khổng Tử (551 – 479  tTL) san định và viết thêm thập dực.

Kinh Dịch được coi là: “Gồm nắm được tất cả mọi nguyên lý sinh-thành và suy-hủy của vạn vật ... Dịch gồm cả Nhị nguyên luận và Nhất nguyên luận.  Dịch là một bộ sách triết lý siêu hình huyền nhiệm của Huyền học  và là sách triết lý Khoa học (Philosophie de la science) của bất cứ khoa học nào của Trung Hoa như  Y học, thiên văn học, xã hội học, tâm lý học, âm dương học, địa lý học, toán học, lý số học v.v, theo Thu Giang Nguyễn Duy Cần. Hơn 1000 bộ sách ở Trung Hoa và trên thế giới đã viết về Kinh Dịch và đến nay vẫn còn tiếp tục.

 Kinh Dịch có  sức sống bền bỉ và vững mạnh  như  vậy  là nhờ  được thành lập trên cơ sở  phép nhị phân (Binary) và trong  lời kinh chứa đựng  những nhận định  rất  Khoa học.

Kinh Dịch Khoa học vì nhận định rằng mọi sự vật  đều  được kết hợp  bởi hai thành phần song hành mà  đối nghịch  là Âm và Dương (Càn-Khôn), biến đổi qua lại, hòa hợp với nhau theo những định  luật  làm nên vạn sự , vạn vật.

Sự biến đổi của 64 quẻ Dịch  với vạch liền = dương = 1, vạch đứt = âm = 0   chính  là phép  tính nhị phân (Binary)  đang được xử dụng trong  máy điện toán ngày nay.

 Với căn bản Khoa học và Toán học, từ trước đến nay  Kinh Dịch vẫn mang tính huyền bí vì  lời Kinh, (các Thoán từ , Hào từ) rất  mung lung, nói về những điều rất khó hiểu, như không liên lạc gì với nhau, vì vậy mỗi người diễn giải một cách, cách nào cũng có lý cả.   Nhưng nếu  dựa trên căn bản tính Khoa học và Toán học của Kinh Dịch coi Dương, Âm trong Kinh Dịch là Năng lượng và Vật chất - kết hợp, biến đổi theo phép Nhị phân, ta thấy lời của các Hào từ, Thoán từ trong Chính kinh có ý nghĩa rất mạch lạc, hợp lý theo các nhận thức khoa học ngày nay.

Cách đọc và hiểu Kinh Dịch mới này có ba điểm khác trước:

1-      Dương, Âm (Càn-Khôn) của Kinh Dịch ngoài những ý  nghĩa trước kia  là Trời Đất, ngày đêm, nước lửa, nóng lạnh, nam nữ... nay còn  có nghĩa là Năng lượng (Energy) và Vật chất ( Matter) theo công thức: E = mC2 của A. Einstein: Năng lượng tương đương với Vật chất.

E = Energy = năng lượng;  m = matter = vật chất;

C = vận tốc ánh sáng = 300 000Km/sec

2-                  Xét theo thứ tự  Nhị phân sự tiến triển 64 quẻ trên Viên đồ.

3-                  Xét tính đối nghịch và bổ túc của các quẻ đối ứng, liên kế.

(1)-Từ  trước Dương Âm vẫn được hiểu  là các  sự vật   đối nghịch nhau như: nước-lửa, nóng-lạnh, ngày- đêm, Nam- Nữ , Trời- Đất ..Như vậy Am Dương là hai thể song hành, đối nghịch nhau  nhưng  chưa thể hòa nhập làm một. Nay nếu coi Dương là Năng lượng; Âm là Vật chất, ta có hai chất Âm Dương hoàn hảo, hoàn toàn đối nghịch nhau tuy có cùng một nguồn gốc: một nặng, một nhẹ, một hữu hình, một vô hình, biến đổi qua lại, đồng thời tạo thành và  hiện hữu trong mọi sự vật.               

Phần vô hìnhlà Năng lượng (Energy), có khả năng làm nên công việc (Energy is the ability to do work)

Phần hữu hình là Vật chất (Matter), có nguyên tử  bền vững, không tự làm được công việc

 Hai thành phần này kết hợp thành một-làm nên vạn sự , vạn vật.

 Năng lượng vô hình  dùng vật chất làm chất liệu để xây dựng  nên mọi  sự  vật.

-Năng lượng  đáp ứng các yêu cầu lý-hóa tính của vật chất, kết hợp chất vô cơ thành hữu cơ, làm nên tế bào, cơ quan, cơ thể.  Sau khi thành một cơ thể rồi Vật chất  cũng chỉ hoạt động được  với sự điều khiển của Năng lượng. Tuy  nhiên ai  cũng thấy đó là Vật chất  tiến hóa trở nên hoạt động. Không biết rằng Năng lượng vô hình đã làm nên mọi việc còn Vật chất hoàn toàn thụ động.   

Năng Lượng không có hình, chứa trong bản thể Đạo Càn Khôn (Thiên Đạo), điều hành hoạt động, cải tiến công việc, di truyền những tiến hóa cho đời sau.

Vật chất có hình, có cấu trúc vững chắc, không tự làm công việc.  Dưới tác động của Năng lượng, lớn lên thẳng đứng với mặt đất.  Chỉ hoạt  động theo các định luật phù hợp với sự đòi hỏi nơi bản chất  mình. Có hình dáng, mầu sắc đẹp đẽ.  Có chu trình hoạt động khép kín.  Là hình ảnh của vạn vật.  Có kết hợp và tan ra: Một  cơ thể  gọi là “Sống” khi  có năng lượng  tuần hòan bên trong; “Chết” khi năng lượng rời bỏ cơ thể.

(2)Trước đây ta  đã biết 64 quẻ thành lập  từ hệ Nhị phân nhưng không chú ý đến tính chất: Khi trị giá tăng lên => năng lượng tăng, ảnh hưởng tới tính chất của quẻ. Nay chú trọng tới thứ tự cũng là trị giá Nhị phân của các quẻ trên Viên đồ,  có cách đọc ngược lại với  cách đọc trước.

(3)Chú trọng tới  tính chất tương  tác của các quẻ  đối-ứngliên-kế trên Viên đồ.

Với quan điểm trên, khi đọc các hào từ  của kinh Dịch ta thấy rằng lời Kinh của hai quẻ Càn Khôn nói về tính chất của Năng lượng và Vật chất khi kết hợp nên sự sống (1).

Trong các quẻ khác, thí dụ như quẻ Lôi Thiên Đại Tráng  này, tất cả đều chứa đựng những  nhận xét và những lời khuyên liên  hệ đến  sự  Sống của con người.

Đây là  một cách  QUAN  của Kinh Dịch: “Quan ngã sinh = nhìn vào sự sống của mình”.

Trong quẻ Phong Địa Quán (số 20) có chỉ ra sáu cách Quan khác nhau:

1        - Đồng quan          

2        - Khuy quan           

3        - Quan ngã sinh  (nhìn vào sự sống của mình)

4        - Quan Quốc chi quang

5        + Quan ngã sinh  

6        + Quan kỳ sinh

-Trước kia kẻ sĩ học Dịch theo cách 4-Quan Quốc chi quang: học để tìm cách phò vua giúp nước.

-Nay ta Quan ngã sinh,Quan kỳ sinh: Học Dịch để hiểu về sự Sống của mình và mọi người,

- Người ta hiểu ý nghĩa của kinh Dịch khác nhau  là do ở vị trí quan sát và mục đích khác nhau, còn Kinh Dịch giải  đáp được cả sáu cách QUAN vì căn bản của mọi sự biến đổi chỉ từ một nguyên lý.

Trong bài viết này để dễ theo dõi sự khác biệt giữa các cách QUAN,  trên ý nghĩa của cùng một Hào từ, sau đây  chúng tôi xếp liên tiếp các lời giải đáp  theo thứ tự  từng Hào.

 Các lời giải trích  dẫn  được tham khảo  qua hai cuốn sách:

 Cuốn 1 (C1) -Kinh Dịch -Đạo của người Quân tử - Nguyễn Hiến Lê-1992- Quẻ 34 -trg 321 đến 324

 Cuốn 2 (C2) - Kinh Dịch-cấu hình tư tưởng Trung Quốc -Dương ngọc Dũng + Lê Anh Minh-1999- tr  299-309.

Cách 3 (C3) - Lời giải thích của tác giả bài viết này.

Đại Tráng là quẻ số 34 trong 64 quẻ  Kinh Dịch. Mỗi quẻ sáu vạch, do hai quẻ  đơn  lập thành.

Quẻ trên là Chấn (Lôi = sấm). Quẻ dưới là Càn (Thiên= Trời)

Hào dương gọi là hào Cửu. Hào âm  là hào Lục

Thoán từ là lời đặt dưới mỗi quẻ. Hào từ là lời viết dưới mỗi  hào.

Lôi Thiên ĐẠI TRÁNG Theo Nhị Phân các gạch âm dương như trên có trị số : 001 111 =  15    

Dưới đây là nguyên văn lời dịch của các Hào từ và Thoán từ trong Chính kinh:

Thoán từ:             Đại Tráng , lợi trinh.

Hào từ:

     1) Sơ cửu:                    Tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu.

     2) Cửu nhị:                  Trinh cát.

     3) Cửu tam:          Tiểu nhân dụng Tráng, Quân tử dụng Võng. Trinh lệ. Đê dương xúc phiên, luy kỳ giác.

      4) Cửu tứ:                   Trinh cát, hối vong. Phiên quyết bất luy. Tráng dư đại dư chi phúc.

5)Lục ngũ:             Táng dương vu dị. Vô hối

6)Thượng lục:      Đê dương xúc phiên, Bất năng thoái, bất năng toại. Vô du lợi. Gian tắc cát.

Quẻ 34    LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG   QUẺ 15    001 111

Thoán từ: Đại Tráng , lợi trinh.

(Theo N.H. Lê- C1) Lời Thoán; Lớn mạnh,theo điều chính thì lợi. Giảng: Quẻ này có 4 nét dương ở dưới, hai nét âm ở trên; dương đã lớn mạnh mà âm sắp bị diệt hết. Lớn mạnh thì dĩ nhiên là tốt rồi, nhưng thường tình, gặp thời thịnh, người ta kiêu căng, làm điều bất chính, nên Thoán từ phải dặn: giữ điều chính, lúc đắc ý nghĩ đến lúc thất ý, thì mới có lợi.

(Theo C2) Giảng: Đây là thời kì phát triển cực kỳ sung mãn, cứ tiếp tục kiên trì là tốt nhất. Theo Wilhem; quẻ này cho thấy một  thời kỳ khi giá trị nội tại ngày càng tăng trưởng về sức mạnh và đã chiếm được quyền lực. Nhưng sức mạnh đã vượt qua điểm trung dung nên có nguy cơ quên đi chính nghĩa.

(Theo C3) Thời Đại Tráng (Lớn Mạnh). Chính bền tốt.

Đại Tráng có 4 dương, 2 âm. Năng lượng nhiều và tập trung (+1, +2, +3, +4) thúc đẩy vật chất (-5, -6) họat động mạnh. Người ta mong muốn nhiều, đòi hỏi được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần để phát triển. Thời Đại Tráng người ta mạnh mẽ làm gì cũng được, nên dễ thay đổi, làm hại cho công việc. Vì vậy cần phải giữ chính bền kết quả mới thành tựu tốt.

  1. Sơ cửu: Tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu.

Chỉ = ngón chân.  Chinh = tiến tới có ý tiến công.  Hữu phu =  Có lòng tin = có tin tưởng.

(Theo C1) Hào 1 dương: Mạnh ở ngón chân, đi lên thời xấu, có thể tin chắc như vậy.

Giảng: Hào này ở dưới cùng, dương cương, cho nên ví với ngón chân, ở địa vị thấp nhất mà hăng hái muốn tiến, sẽ vấp, xấu. (K.D Đạo người Quân tư)

(Theo C2)  Hào dương đầu tiên: Lực lượng bộ binh đã bị tổn thương, nếu tiến thẳng sẽ gặp nguy hiểm, (nhưng cuối cùng) cũng sẽ bắt được giặc (về làm nô lệ).

Giải thích: Nếu giảng “hữu phu” là “thành tín” thì hào trên quá tối nghĩa. Tại sao “mạnh ở ngón chân” mà  lại “chinh hung” được?

Đại Tráng có hai ý nghĩa: “cường thịnh” và “tổn thương”.  Nếu chọn dứt khoát nghĩa thứ hai thì câu văn trở nên giản dị: “Chân đã bị thương, xuất hành chắc gặp hung hiểm”.

Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê (như ở trên) hết sức vô nghĩa. 

…Nếu chấp nhận theo Cao Hanh giảng “phu” ở đây là giả tá cận âm của của chữ “phu” là  “giặc bắt được trong trận chiến”, thì ý nghĩa hào này đến đây hoàn toàn rõ ràng thông suốt.  Chúng tôi suy diễn thêm có lẽ chữ “chỉ” dùng như một loại tiếng lóng trong quân đội nhà Chu để chỉ lực lượng bộ binh, nên dịch như trên.  Đây là ý của  người cầm quân ra trận chỉ nghĩ đến  thắng, bại. (K.D cấu hình tư tưởngTrung quốc).

 (Theo C3) Hào1 dương: Mạnh ở ngón chân. Tiến đi thời xấu. Có lòng tin.

Mạnh ở ngón chân là Năng lực đã truyền  ra chân, nơi thực hiện việc đi.

Sơ cửu  khởi đầu  thúc đẩy việc đi (họat động, làm việc). Đại Tráng sức lực mạnh mẽ, muốn tiến đi ngay. Nhưng: Chinh hung = Tiến đi thời xấu. Không nên tiến ngay. Khi chân có thể đi được mà đi ngay, chưa suy xét  đã tiến lên, tất sẽ gặp hung hiểm. Cần “có lòng tin”. (hữu phu). Tin tưởng vào việc mình sẽ làm là hữu ích.

Tóm lại: Thời Đại Tráng, khi mới thấy mạnh ở chân,  dù có thể tiến lên, không nên tiến ngay dễ gặp hung hiểm. Cần hiểu biết, có lòng tin trước khi hành động. Đây là cách hiểu Kinh Dịch liên hệ đến bản thân.

  1. Cửu nhị:Trinh cát.

 (Theo C1)  Hào 2 dương: Có đức chính, tốt. (Trinh = có đức chính)

Giảng: Hào này dương cương, ở vị nhu, tuy không đắc chính, nhưng đắc trung, mà trung thì không bao giờ bất chính, vậy cũng là tốt. Đây là chữ  “Trung” của người Quân tử.

(Theo C2) Hào dương hai: Xem bói được tốt. (Trinh = xem bói)

Giải thích: Wilhelm dịch “Giữ sự kiên định có thể gặp may mắn” (Persevernce brings good fortune) cũng như Trương Thiện Văn và Hòang Thọ Ky (thủ trì chính cố khả hoạch cát tường = giữ điều chính được tốt).

(Theo C3)  Hào 2 dươngChính bền tốt.

Thời Đại Tráng, chính bền mới tốt. Bởi vì người ta có thể  thay đổi  dễ dàng khi đang có  thế mạnh.  Nhưng mạnh  mà  vẫn giữ  bền điều  chính mới được “Tốt” với mọi người và chính mình. Ngược lại, ỷ mạnh làm càn, hay thay đổi tất gặp “hung”

  1. Cửu tam: Tiểu nhân dụng Tráng,Quân tử dụng Võng. Trinh lệ.  Đê dương xúc phiên, luy kỳ giác.

Võng = Không - Lệ = nguy – Đê dương = Con dê đực – Xúc phiên = húc vào hàng rào – Luy = đau – Giác = sừng.

(Theo C1)  Hào 3 dương: Tiểu nhân dùng sức mạnh, quân tử không; dù giữ điều chính cũng nguy, như con cừu  đực húc vào cái dậu, bị thương cái sừng.

Giảng: Hào này dương cương, ở vào vị dương (lẻ) trong quẻ, lại ở cuối nội quái Càn, thế là cực kì hung mạnh, dù giữ được chính đáng cũng nguy; quân tử biết vậy mà không hành động, chỉ tiểu nhân mới hung hăng như con cừu đực, húc vào cái dậu. (Người Quân tử luôn xử sự hợp lý)

(Theo C2)  Hào  dương ba: Tiểu nhân (khi săn bắt thú) chỉ biết dùng sức, quân tử khéo dùng lưới (để bắt), cứ khăng khăng (ỷ vào sức mạnh) sẽ gặp nguy hiểm, (cũng giống như) con dê đực đâm đầu vào hàng rào, kẹt  dính luôn cả sừng trong đó.      

Giải thích: Chu Hy giảng “võng” có nghĩa là “vô” (không). Quân tử dụng Võng có nghĩa là quân tử dụng vô, tức là không dùng sức mạnh “Tráng” như tiểu nhân.

Từ tử Hùng cho rằng: “Tiểu nhân” là chỉ bọn nô lệ, “Tráng” là có sức khỏe cường tráng, “quân tử” chỉ giai cấp quý tộc, còn “võng” là lưới bắt thú, “đê” là con dê đực. “Luy” là giả tá cận âm của “Lụy” có nghĩa là bắt trói.

Chúng tôi vẫn quan niệm phong cách tư duy Trung Hoa cổ đại là  dựa trên hình tượng nên chọn cách lý giải theo Từ Tử Hùng như trên... Mọi cách lý giải như “quân tử không dùng sức” hay “chiếc lưới pháp luật” đều có vẻ khá trừu tượng, khá triết học, mặc dù suy cho cùng, các lý giải đều hội tụ tại một điểm: Tiểu nhân dùng  sức lực, hữu dũng vô mưu, quân tử khôn khéo dùng công cụ để đạt mục đích. Con dê đực được so sánh với kẻ hữu dũng vô mưu đó, húc đầu vào hàng rào, để bị  kẹt dính luôn cái sừng trong đó, sức mạnh thô bạo đã bị vô hiệu hóa (sđd 2 tr 304)

(Theo C3) Hào 3 dương: Tiểu nhân dùng sức mạnh (Tráng), Quân tử dùng Không (Võng). Chính bền  nguy. Con dê húc đầu vào hàng rào, khốn cái sừng.

Quan điểm mới: Tiểu nhân = Vật chất. Quân tử = Năng lượng.  Thời Đại Tráng năng lượng nhiều => vật chất hoạt đông mạnh => Người ta bị nhu cầu vật chất lôi cuốn.

Năng lượng tính “Không”: Quân tử dụng Võng = Nên biết dụng tính “Không”.

Quân tử, Tiểu nhân không có nghĩa thường. Vì vậy nên: Trinh lệ. = Chính bền nguy = Nếu chỉ tin theo một điều đúng cho là không bao giờ thay đổi cũng nguy. Vì sự  đúng trước nay có thể đã trở thành sai.

Con Dê húc đầu vào hàng ràovì ngứa sừng: Là hình ảnh của một người sức lực tràn đầy - Đại tráng - bị thúc đẩy  bởi sự cường tráng của cơ thể  cần tìm làm một việc để giải tỏa  sức mạnh trong mình. 

 Lúc trưởng thành cơ thể mạnh khỏe thúc đẩy người ta hành động. Ai cũng  muốn đạt những mong muốn.  Nhưng  khi khơi sự hành động tức thời người ta  bị công việc lôi cuốn. Bị vướng mắc, bị hút vào một guồng máy không thể  dễ dàng  rút  lui ra được. Việc này  tương tự như  con dê  húc đầu vào một cái hàng rào, rồi bị khốn cái sừng trong hàng rào ấy. Nếu hành động  nóng vội do thiếu hiểu biết  cặp sừng sẽ  bị đau (Luy kỳ giác): Người muốn đạt những ham muốn nhanh chóng bằng cách  lường gạt, hoặc  trộm cướp, tất sẽ  bị trừng phạt đau đớn cả về thể xác, tinh thần. Liên hệ  hình ảnh con dê với người trai trẻ rất phổ biến thời trước như  Hồ xuân Hương đã víết:

Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”   

   

  1. Cửu tứ: Trinh cát, hối vong.Phiên quyết bất luy.   Tráng dư đại dư chi phúc.

(Theo C1)  Dịch: Hào 4 dương: Theo điều chính thì tốt, hối hận mất hết; dậu đã mở không khốn nữa, mạnh mẽ tiến lên, như ngồi cỗ xe lớn mà trục xe vững vàng.

Giảng: Hào này dương cương qua khỏi nội quái là Càn mà lên ngoại quái là Cấn, là tráng thịnh đến cực điểm; nó ở trên hết  các hào dương  làm lãnh tụ đám Quân tử, sợ nó hăng quá mà lầm đường nên dặn kĩ: Giữ điều chính thì mới tốt, khỏi ân hận.  Ở trên nó là là hai hào âm, âm đã đến lúc suy, dễ đánh đổ; như cái dậu trước mặt hào 4 đã mỡ, không còn bị khốn nữa; nó có thể dắt ba hào dương ào ào tiến lên dễ dàng, thuận lợi như ngồi cỗ xe lớn mà  trục xe vững vàng.

(Theo C2)  Dịch nghĩa: Hào dương bốn: Bói được hào này mọi sự tốt đẹp, không có gì phải hối tiếc, (con dê) đã húc sập cả hàng rào rồi (nếu) không biết  kiềm chế nó (thì ngay cả) trục bánh xe lớn cũng có  thể bị nó húc gãy (không thể đi được nữa)

Giải thích: Quyết có nghĩa là “mở ra”. Đại dư là xe lớn.  Phúc là trục bánh xe. Trinh = Xem bói

Trương lập Văn giảng “Quyết” là “phá hoại”, ông giảng hào này tương tự như ở trên.

Trong hào này hình ảnh lọan động của con dê dùng ám chỉ bọn tiểu nhân, nếu không chế ngự ngay từ đầu, sẽ dẫn đến tai họa khó lường.

(Theo C3) Hào 4 dương: Chính bền tốt, hối tiếc hết. Hàng rào không làm khốn cái sừng. Mạnh ở giữa trục xe lớn.

Ở cửu tam “Trinh Lệ”. Cửu tứ  “Trinh Cát ” hai việc Trinh khác nhau.

Phiên trong cửu tam “Luy kỳ giác” ở cửu tứ thì: Phiên quyết bất Luy = hàng rào không làm đau cái sừng.

Cửu tam xấu vì làm sai. Cửu tứ tốt vì hành động đúng, tuy cùng là: “Đê dương xúc phiên” cả. 

Mỗi người  do tìm hiểu, hoặc được dạy, tin vào một số điều. Rồi tự  cột mình vào những tin tưởng đó. Con dê húc cặp  sừng mắc vào một cái hàng rào, cũng như người bị mắc vào các điều tin tưởng, bị ràng buộc chặt chẽ, không thấy được điều gì khác. Nhưng nếu các tiên kiến này không sai, hiểu biết đúng. Chính bền với những mục tiêu “Tốt”.  Trong tâm thoải mái, không  hối hận vì những việc mình làm. Khi đó  tuy cũng mắc vào một  cái hàng rào, nhưng  cái hàng rào không làm khốn cái sừng  

 Nhờ hiểu biết đúng, như  sức mạnh  tập trung  vào nơi trục xe, xe tiến nhanh, người ta đi được xa.

                                                     

  1. Lục ngũ:  Táng dương vu dị. Vô hối.

(Theo C1) Dịch: Hào 5 âmLàm mất sự hung hăng của bầy cừu bằng cách vui vẻ dể dãi, thì sẽ không ân hận.

Giảng: Hào này ở vị chí tôn, nhưng vốn âm nhu, không thể áp đảo được 4 hào dương ở dưới, phải vui vẻ dễ dãi với họ, thì họ sẽ hết hung hăng. Sở dĩ phải có thái độ đó vì ngôi của 5 quá cao đối với tư cách âm nhu của nó.

(Theo C2) Hào âm năm: (Cho dù) bọn rợ Hữu Dịch có cướp mất dê, cũng chẳng có gì phải hối tiếc.

Giải thích: Các bản việt ngữ dịch là “vu dị” nhưng ở đây theo Trương lập Văn khẳng định là chữ Dịch có nghĩa là rợ Hữu Dịch. Sau khi bị cướp mất dê phải đi nơi khác lại chăn nuôi tốt hơn trước, nên không phải hối tiếc.

(Theo C3)  Hào 5 âm : Mất dê  dễ dàng.  Không  hối tiếc.

Dương là  con dê cũng là dương  khí làm nên mọi sự việc, nhưng mất đi rất dễ dàng.  Không nên hối tiếc.

Thời Đại tráng con người hoặc sự việc ở lúc cường thịnh nên có thể làm được  nhiều việc lớn. 

Nhưng dương khí làm nên mọi việc lại không bền vì tính dễ  di động, đến thời khó, nhưng mất đi lại rất dễ.  Mọi việc có thể dễ dàng mất đi dù  đang thời cường thịnh tưởng rằng không thể mất được. Người Việt ở miền nam năm 1975 ai cũng có hiểu biết sâu xa về điều này.

Nên: Không hối tiếc.  Hoặc: Có hối tiếc cũng không được.   

            

  1. Thượng lục:  Đê dương xúc phiên.

Bất năng thoái.  Bất năng toại. Vô du lợi. Gian tắc cát.

(Theo C1) Dịch:  Hào trên cùng âm: Cừu đực húc vào dậu, mắc kẹt, lui không được, tiến cho toại ý cũng không được, không có lợi gì cả; chịu khó nhọc thì tốt.

Giảng: Hào này ở trên cùng quẻ Đại Tráng là hết thời lớn mạnh, mà cũng ở trên ở trên cùng ngoại quái Chấn, là rất ham động mà bất lực (âm nhu); như con cừu đực hung hăng húc đầu vào  dậu, mắc kẹt, muốn lui không được, tiến lên cho toại ý cũng không được, không lợi ở chỗ nào cả.  Nếu bỏ tính hung hăng húc quàng đi mà chịu khó nhọc thì tốt.

(Theo C2)  Dịch nghĩa: Hào âm trên cùng (Hoàn cảnh giống như) Con dê đực húc đầu vào hàng rào, (bị kẹt cứng) kéo lui cũng không được, đẩy tới cũng không xong, chẳng được tích sự gì, (tuy) khó khăn (trước mắt như vậy) nhưng (về sau) mọi sự sẽ tốt đẹp thôi (khó khăn bị hóa giải).

Giải thích: Toại có nghĩa là tiến lên.

Tông chỉ của quẻ này bàn những khó khăn phát sinh, những sự cố, trong đời sống chăn nuôi gia súc, nhưng cũng có những hào từ chẳng liên quan đến đến đề tài này, như hào sơ cửu, cửu nhị, và thậm chí cả quái từ (Thoán từ) đều giảng chuyện bói toán …..Phong cách tư duy trong quẻ này cũng như hầu hết các quẻ khác, một mặt phản ánh những phương diện khác nhau trong sinh hoạt văn hóa cổ đại, một mặt phản ánh mô hình tư duy hình tượng chỉnh thể (model of imagistic- holistic thinking) rất đặc thù trong cấu hình tư duy Trung Hoa. . .Trang xuân Ba cho rằng Chu Dịch đã bảo tồn được phong cách tư duy nguyên thủy của nhân loại, trong đó tư duy dựa trên lý tính và thần bí vẫn song hành tịnh hợp với nhau. Mông Bồi Nguyên cho rằng mô thức tư duy căn bản trong Chu Dịch là mô hình chỉnh thể, chủ thể. Mô thức này cố nhiên là thuộc về phong cách tư duy mang tính tổng hợp kinh nghiệm thực tế.

(Theo C3)  Hào 6 âm- Con dê húc đầu vào hàng rào.  Không lui được. Không được vừa ý. Không đi đâu có lợi hơn. Gian nan được tốt.

 Thời Đại Tráng người ta hành động theo hai trường hợp  khác biệt nhau: Cửu tam hoặc cửu tứ, Trinh lệ hoặc Trinh cát.  Dụng Võng hoặc dụng Tráng. Luy kỳ giác hoặc Phiên quyết bất luy. Nhưng các trường hợp  đó cũng  đều là: “Đê dương xúc phiên”. Vì cả hai, trong tư tưởng và hành động đã tự cột chặt  mình vào những  việc phải làm, khiến cho muốn lùi cũng  không được. Tuy không được toại  ý.  Nhưng không  đi đâu có lợi hơn, không  làm gì khác  được.

 Gian tắc cát = Gian nan được tốt. Đại Tráng là thời Năng lượng nhiều, vật chất hoạt động mạnh nên - Người ta phải làm việc  để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.  Nhưng từ công việc sẽ nảy sinh những khó khăn do tự mình và xã hội  ràng buộc.  Gian nan tốt vì  trong cuộc sống,  trải qua  gian nan  mà không bị đào thải  còn tồn tại sẽ phát triển tốt hơn.  Người qua nhiều gian nan  còn tồn tại  là hạt giống tốt cho đời sau.

Đó là hào sáu thời Đại Tráng, thời  mạnh mẽ như sấm nổ ngang trời. Nhưng người ta bị lôi cuốn vào việc đáp ứng những nhu cầu vật chất. Người ta mắc đầu vào những cái “hàng rào” lùi không được, không được vừa ý về hoàn cảnh của mình, nhưng không  đi đâu  có lợi hơn.

Sự  hoạt động của người ta dù Trinh lệ hay Trinh cát, cũng do mình đặt ra, cột chặt vào tư tưởng, giới hạn nhãn quan của mình.  Nhưng đã vào trong guồng  máy, bị lôi cuốn đi không thể lùi lại được. Tuy gian nan, nhưng tốt, vì: Qua gian nan người ta sẽ  hiểu biết  hơn. 

Tóm lược lại,  qua 3  lời giải khác nhau:

  • Cách 1: Nguyễn Hiến Lê trong Kinh Dịch – Đạo của người Quân tử – giảng các hào từ  theo ý khuyên người  Quân tử  nên làm việc Trung chính, biết thời thế. Tránh hành động như kẻ Tiểu nhân ở địa vị thấp mà  ưa dùng sức mạnh làm việc sai quấy. Âm nhu ở địa vị cao không tốt nên bỏ tính hung hăng, chịu khó nhọc thì tốt. Đây là người Quân tử học cách Tu Tề Trị Bình trong Kinh Dịch.
  • Cách 2: Dương Ngọc Dũng + Lê Anh Minh  trong - Kinh Dịch, cấu hình tư tưởng Trung Quốc - cho biết: “Tông chỉ quẻ này bàn những khó khăn phát sinh, những sự cố, trong đời sống chăn nuôi gia súc, nhưng cũng có hào từ chẳng liên quan gì đến đề tài này, như hào sơ cửu, cửu nhị, và thậm chí cả quái từ (Thóan từ), đều giảng chuyện bói tóan, ngón chân cái  bị thương... có thể ám chỉ đến chiến tranh giữa Chu và Thương.  Chẳng hạn hào sơ cửu ám chỉ việc bản thân đã bị thương tích, việc xuất quân chinh phạt phải gặp hung hiểm.  Nhưng từ cửu tam đến thượng lục rõ ràng đều bàn những sự cố phát sinh trong đời sống chăn nuôi.  Riêng hào cửu ngũ, theo Cố hiệt Cương còn đề cập đến chuyện Vương Hợi, tiên vương nhà Ân, chăn dê, bò tại Hữu Dịch mà bị giết về chuyện dâm lọan nên mất hết cả đàn dê, bò.  Phong cách tư duy trong quẻ này cũng như hầu hết  trong các quẻ khác, một mặt phản ánh những phương diện khác nhau sinh họat văn hóa cổ đại, một mặt phản ảnh mô hình tư duy hình tượng chỉnh thể (model of imagistic- holistic thinking) rất đặc thù trong cấu hình tư duy Trung Hoa”. “Tìm hiểu Kinh Dịch chính là phát hiện cấu hình tư duy của người Trung Quốc... Kinh Dịch là một quyển cẩm nang chính trị bằng lời lẽ bí hiểm của vu thuật chiêm bốc, được sáng tác để giáo huấn các bậc quân vương về phương pháp an dân trị quốc. Đọc Kinh Dịch theo hướng này, chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc thấy rằng những lời giáo huấn đó  không hề mất đi giá trị theo thời gian, mà trái lại vẫn có thể được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng trong khoa học về lãnh đạo cho thời hiện đại. tr 9”
  • Cách 3: Làm một thí dụ về cách hiểu theo quan điểm mới:
  • Kinh Dịch là sách nói về Sự Sống được tạo nên do tác động của  Năng Lựơng trên Vật chất.
  • Đạo của Dịch Lý:  Qui Luật của Sự Sống. 
  • Đạo vô hình được thể hiện thành hữu hình qua sự sống của muôn loài và con Người là một tác phẩm, một công cụ hoàn chỉnh  nhất của Đạo, được tạo nên với trí khôn có nhiệm vụ tìm hiểu v lm sng tỏ Đạo.

Ta thấy Kinh Dịch đã được  ứng dụng:

  1. Trong bói toán, bốc Dịch, Phong thủy hàng ngày.
  2. Trong Y học, Tóan học ….
  3. Là sách dạy về Dưỡng sinh,  khí công , luyện thần trong Đạo gia.
  4. Là cẩm nang giáo huấn các bậc quân vương về phép an dân trị quốc. Là Đạo dạy người Quân tử - phò vua giúp nước.
  5. Trong sự sống  mỗi người. 
  6. Hòa hợp sự sống của mọi người.    

   

Điểm đặc biệt là với cách  hiểu biết nào Kinh Dịch cũng giải đáp được những thắc mắc, đáp ứng được mong đợi của người đọc. Với quan điểm mới ta thấy các Hào từ  trong kinh Dịch có ý nghĩa đôi khi khác hẳn với ý của các sách đã được dày công nghiên cứu từ trước. Tuy nhiên điều này như trên đã nói, đó là tùy quan điểm và mục đích của người đọc nên thấy ra  những điều khác nhau  mà thôi.  Các Hào từ của Kinh Dịch dưới nhãn quan của người “Quan ngã sinh” thấy chứa đựng toàn là những nhận xét về sự sống của con người. Tuy nhiên, trong các  quẻ chỉ  đưa ra những nhận xét, cho biết  tính chất sự việc với  lời khuyên chung  mà thôi. Hành động thế nào  là  tùy  người  tiếp thụ.

Trong quẻ Đại Tráng này, qua 6 hào:

Hào 1+Thời sơ Đại Tráng, khi thấy chân mạnh  có thể đi được, chưa nên tiến đi ngay, cần có hiểu biết, có lòng tin  trước khi đi:  Người ta phải học hỏi để biết cách làm việc.

Hào 2+ : Cửu nhị  Đại Tráng, hành động phải có sự  Trung chính, lâu bền.

Hào 3+Cửu tam Đại Tráng, người ta bị các nhu cầu tiềm tàng trong  cơ thể lôi cuốn, vướng vào những điều có khi sai lầm, đem những gánh nặng quàng lên đầu mình.

Người  nóng nảy dễ vướng mắc vào  những sai lầm  khiến cho thân, tâm đau đớn khổ sở.

Hào 4+ : Cửu tứ Đại Tráng, người  có lòng tin  chính bền, không bị hối tiếc về việc làm  của mình. Những người này không bị các gánh nặng làm cho đau đớn. Có thể tiến nhanh, tiến mạnh trong công việc.

Hào 5 -- : Tuy nhiên tất cả mọi sự đều không bền vững lâu dài mãi được .  Mọi việc đều có thể dễ dàng mất đi  ngay trong thời Đại Tráng.  Khi đó dù có mất  cũng không nên hối tiếc.

Hào 6-- : Người  ta dù dại hay khôn cũng đều vướng trên đầu những hàng rào, muốn rút lui cũng không được. Tuy không được toại ý, nhưng không đi đâu có lợi hơn.  Gian nan là con đường tốt. 

Quẻ Đại Tráng cho biết  lúc mạnh mẽ nhất  mọi  người  làm gì, kết quả ra sao:

-Người ta  làm việc để đạt  điều mong muốn, không nề gian khổ, thực hiện cho được sự mong ước. Nhưng nhìn từ  một hướng khác lại thấy: Những  tin tưởng của người ta là chủ quan, tự  nghĩ  ra, tự ràng buộc lấy mà thôi.  Không khác nào con dê  húc đầu vào một  cái hàng rào  mắc dính  cặp sừng vào trong  đó.  Chính sức mạnh  bên trong thúc đẩy người ta hành động như thế, không thể  nào làm gì khác hơn được.

Muốn tìm ra “sự thật” trong thời Đại Tráng, với sức mạnh  vật chất và tinh thần trong mình là không thể  được, vì  ai cũng nghĩ: “Đã sinh ra ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”,  dù: “Bất năng toại - vẫn - Bất năng thoái”  không thể  ra khỏi những  ràng buộc, những  định kiến của bản thân, gia đình, xã hội. Muốn nhận ra điều khác với quan niệm của thời Đại Tráng  phải nhìn từ bên ngoài, từ phía ngược lại, hoặc là sau khi đã trải qua 6 giai đọan của thời Đại Tráng rồi quay đầu nhìn lại. 

Đối nghịch với “Lôi Thiên - Đại Tráng” là  “Thiên Sơn - Độn”.   Độn nghĩa là: Trốn đi.

Đối nghịch với Đại Tráng đi không có nơi dừng,   Độn là   dừng lại lánh đi.

Tránh khỏi việc tự húc đầu vào một cái  hàng rào rồi thấy rằng trên đời không có gì vui thú hơn là được mang cái hàng rào  này trên đầu  mãi mãi.

“Trốn” đi đâu? - Có năm cách:

  • 1- Độn vĩ:        Trốn ở  đuôi.
  • 3+ Hệ Độn:Trốn khỏi những ràng buộc
  • 4+Hiếu Độn: Trốn khỏi những tốt đẹp.
  • -5+ Gia Độn: Trốn một cách khôn khéo
  • 6+Phi Độn:     Trốn một cách nhanh chóng

Các quẻ trước và sau quẻ Đại Tráng – cũng có ý nghĩa liên hệ:

14 -      Hằng = 001 110

15-       Đại Tráng = 001 111

16 -      Tị = 010 000                                

Có ý là: Phải trưởng thành (Hằng) tới mức nào mới mạnh (Đại Tráng) được. Khi mạnh rồi, muốn tiến  hơn nữa phải tụ tập (Tị) lại. Các quẻ đối ứng trong kinh Dịch đều ràng kết với nhau tương tự như vậy.                                    

Kinh Dịch có 64 quẻ  hợp thành 32 cặp (Thí dụ: Truân-Mông, Nhu-Tụng, Sư-Tị, Thái-Bỉ, Đồng Nhân-Đại Hữu, Khiêm-Dự, Tùy-Cổ, Lâm-Quan, Bác-Phục, Hàm-Hằng, Kiển-Giải, Tổn-Ích, Trung phu-Tiểu Quá, Ký Tế-Vị Tế). Tên của các quẻ đã diễn ý đối nghịch, và  bổ túc cho nhau. Các Hào từ  cho biết về những sự việc sảy ra trong quá trình sinh  trưởng, họat động nơi mỗi Người.  Những từ: Cát, hung, hối, lẫn,...cho biết việc được đánh giá thế nào. Sau khi  biết tính chất của sự việc, người ta với ý thức  hành động để cải tiến cuộc sống của mình. Hành động có ý thức  sau thời gian dài, thấm nhuần trong cơ thể chuyển sự hiểu biết từ  ý thức đến  vô thức.

 Vô thức làm việc tích cực và hiệu quả nhất. Người ta không biết mình lớn lên thế nào. Người phụ nữ không biết sinh con thế nào. Vậy mà mọi việc đều tự điều khiển rất hòan chỉnh nơi vô thức. Sự sống  gian nan khiến người ta muốn cải thiện  cuộc sống, cách sống. Phải  học - tập.  Hiểu được ý lời kinh  mới là khởi đầu.  Cần  có thời gian để đưa hiểu biết  vào vô thức.

Khi biết sự đồng nhất  giữa Dương Âm với Năng lượng Vật chất ta tìm được trong Kinh Dịch Đạo Càn – Khôn, làm sáng tỏ  những  sự bí ẩn từ trước không giải đáp được trong sự nhận thức về hữu hình và vô hình, những hiểu biết ứng dụng cho sự tu học.  Tưởng như huyền hoặc mà rất khoa học.  Thấy được  tác động của cái vô hình trên vật hữu hình. Thấy ta và người  tuy hai mà một. Thấy ta với ta tuy một mà hai. Nơi  đây  mở ra một cánh cửa, có thể đi  vào để tìm ra nhiều điều  mới.

 Người 3000 năm xưa với trực giác đã cảm biết được điều mà khoa học mới biết  cách đây 100 năm. Như vậy con Người Cổ, Kim, Đông Tây không khác biệt, tất cả đều  có cùng một nguồn gốc linh mẫn từ nguyên thủy. Kinh Dịch có thể giúp cho sự tìm hiểu về con Người thấu đáo hơn, thấy rằng mọi Người cùng là tinh hoa của Trời Đất: Thiên Hỏa Đồng Nhân.  Giúp ta hiểu được tính của mình và  tính của mọi Người. Giúp tìm ra một phương thức xử dụng các lợi ích  một cách hợp lý. Giúp cho sự sống được phát triển trong  Hòa Bình  trên tòan thế giới - như lời của quẻ Càn:

CÀN ĐẠO biến hóa các chính tính mệnh.

(ĐẠO CÀN biến hóa làm rõ tính và mênh muôn loài)                                                                                                                              

Bảo hợp THÁI HÒA, nãi lợi trinh

(Phát triển tốt đẹp lý THÁI HÒA, chính đáng các lợi ích)                                                                                                 

Thử xuất thứ vật, VẠN  QUỐC HÀM NINH.                                                                                        

(Từ đó làm ra mọi việc,  MUÔN NƯỚC HÒA  BÌNH)

Lê-Quý-Thụ  (CVA1957-1960)                      

Tháng tám- 2004

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Homepage:  http://home.Comcast.Net/KinhDichTangiai

Tài liệu tham khảo:

1-      Kinh Dịch- Đạo của người Quân tử, Nxb Văn Học, 1992.

2-Kinh Dịch và mã Di Truyền-Đỗ văn Sơn+ Đức Minh dịch- Nxb TP 2000.

 3-Kinh Dịch và  cấu hình tư tưởng Trung Quốc Dương ngọc Dũng+ Lê Anh Minh 1999.

 4-Kinh Dịch và hệ Nhị Phân. Hòang Tuấn. Nxb KHXH -1998.

Ghi chú: (1) Trong quẻ Bát Thuần Càn. Khi thay: Long = Rồng = Dương = Quân tử = Năng lượng.

Ta hiểu nghĩa các Hào từ Sơ cửu (1+) đến Thượng cửu (6+) Dụng cửu (7+) như sau :

1+Tiềm Long vật dụng = Rồng ẩn không dùng được = Năng lượng tiềm ẩn không dùng được.

2+ Hiện Long tại điền  = Năng lượng mới kết hợp với vật chất, còn ở điều kiện thấp, nhỏ.

3+ Quân tử chung nhật kiền kiền = Năng lượng làm việc ngày đêm không ngừng nghỉ.

5+ Phi Long tại Thiên = Năng lượng khi gặp điều kiện thuận lợi hoạt động ở trạng thái lớn mạnh.

6+ Kháng Long hữu hối = Năng lượng mạnh mẽ hoạt động có sai sót , có hối hận.

7+ Quần Long vô thủ = Bầy rồng không đầu =  Các nguồn Năng lượng đều vô hình.

Điều nhấn mạnh ở đây là Sự vô hình của Dương khí rất  phù hợp với sự vô hình của Năng lượng  qua hai hào  “Tiềm Long vật dụng” và “ Kiến quần Long vô thủ, Cát.”

* * *

 

Con Ve Sầu

CVA  Ham Học

    

Từ lâu rồi, chúng ta biết rằng Con Ve Sầu, từ con Nhộng nằm dưới đất dưới góc cây 17 năm, rồi mơí đục đất  bò lên thân  cây vào cuối mùa xuân, để ca hát suốt một mùa hè, làm việc truyền giống, rồi chết. Nhiêù nhà côn trùng học cho rằng những con Nhộng này đã nhờ một ‘cái đồng hồ‘ trong cơ thể để biết đúng ngày tháng mà đục đất chui lên.

      

Gần đây nhà côn trùng học Richard Karban thuộc Đại Học UC Davis (California) đã tin rằng những con Nhộng âý đã nhờ nhựa ở gốc cây mà biết được thời gian chính sác để lên mặt đất. Để thử nghiệm giả thuyết của ông, ông bèn đem những con Nhộng mới có 15 tuổi đặt vào tổ mơí ở dưới gốc cây đào khác. Sau đó ông dùng cách làm cho cây đào nở hoa hai lần trong một năm, thì quả nhiên những con Nhộng 15 tuổi đã đục đất mà lên. Nhờ thử nghiệm này, ông Karban kết luận rằng các con Nhộng, tiền thân cuả con Ve Sàu, nhờ số lượng và phẩm chất của nhựa ở gốc cây đào để đếm các năm tháng.  Tất nhiên là nhiêù nhà côn trùng học khác nữa sẽ phải làm đi làm lại thử nghiệm này, mới có thể đi tơí kết luận rằng giả thuyết cuả ông Karban là đúng.

* * *

   

Tuổi Già và Trí Nhớ

CVA Trương đăng Đệ

 

Bạn ra khỏi nhà ít bước chợt ngừng lại tự hỏi không hiểu mình đã khóa cửa chưa và quay về để kiểm soát lại cho chắc. Bạn vào kho để kiếm một vật đến khi tới nơi lại quên khuấy mình muốn tìm cái gì. Bạn đi chợ định mua 4 món đồ mà chỉ mua có 3 món, còn món thứ tư cố nặn óc mà không ra. Trong một party, một người tới gần bạn;  trông mặt rất quen nhưng bạn không nhớ tên người đó là ai. Bạn ngại hỏi tên và trò chuyện ít phút với người đó; khi người ấy đi khỏi, bạn chợt nhớ tên và ngay cả  nơi  trước kia gặp người ấy.

Những sự quên như vậy ngày càng tăng với tuổi, thường là từ 50 trở đi, và đôi khi làm bạn  lo đó là những triệu chứng của một bệnh nguy hiểm trong tương lai như bệnh mất trí (dementia) hay bệnh quên Alzheimer. Thực ra không có gì đáng lo cả. Nhưng thiếu sót của trí nhớ thường chỉ là những sự kiện thông thường của tuối già; nhưng trong khi sự già là điều không tránh khỏi, thì việc giảm trí nhớ là một điều khác hẳn, và có những biện pháp giúp bạn duy trì trí nhớ, và cả có thể làm tăng trí nhớ của bạn. Tại sao trí nhớ  suy đi với tuổi, bạn có thể làm gì để chống việc đó, và trong trường hợp nào bạn cần quan tâm tới sự giảm trí nhớ, đó là những điều chúng ta sẽ đề cập tới dưới đây .

A-                TẠI SAO TRÍ NHỚ SUY ĐI VỚI TUỔI GÌA ?

Những con đường giữa các tế bào thần kinh không thể vượt qua - Các khoa học gia thường nghĩ rằng sự giảm trí nhớ vỉ tuổi tác là do óc mất đi những tế bào thần kinh. Nhưng "những cuộc nghiên cứu mới nhất cho thấy đó là do sự suy yếu về chức năng, đặc biệt là tại những điểm nối tiếp giữa các tế bào thần kinh", bác sĩ Robert Butler, giáo sư về lão khoa tại trường Y khoa Mount Sinai ở New York nói. Não là một mạng  gồm hàng tỉ tế bào thần kinh và những điểm nối tiếp (synapses) chúng với nhau như hình dưới đây:                                                                  

Ta có thể so sánh các điểm nối tiếp đó như khoảng giữa 2 cực của một cái bougie, nơi phát sinh ra những tia lửa. Với tuổi tác, một số điểm nối tiếp đó bị hư hỏng, và giống như các chấu bougie bị than đóng lại làm tia lửa phát ra chậm hay không phát ra được gây trục trặc cho xe, hoặc một xa lộ với những làn (lanes/voies) đường bị đóng lại để sửa chữa, chúng làm sự di chuyển của những xung lực (impulses) trong các dây thần kinh bị chậm lại hay ngưng hẳn.

Gốc tự do: Những chỗ lồi trên mặt đường - Tựa như một cái đinh để ngoài trời dần dần rỉ đi, cơ thể chúng ta cũng rỉ với tuổi tác dưới sự tấn công của các chất gọi là gốc tự do (free radicals/radicaux libres); đó là những dạng của oxy được tạo ra trong sự chuyển hóa (metabolism) bình thường. Quá trình này được gọi là sự oxyhóa, nó góp phần làm hoạt động của não chậm lại. Các gốc tự do có thể phá màng các tế bào bất cứ  ở đâu trong cơ thể; ở não, chúng làm hư các điểm nối tiếp các tế bào thần kinh, khiến các tế bào này hoạt động  kém hay không còn hữu hiệu. Tuy cơ thể ta có sản xuất ra những chất chống oxyhóa để bảo vệ và sửa chữa các tế bào, chống lại sức phá hoại của các gốc tự do, nhưng với tuổi tác, việc sản xuất ra những chất bảo vệ đó suy đi.

Bệnh tật và sự lưu thông của máu - Quá trình làm rỉ  do sự oxyhóa  cũng có thể đưa tới sự cấu tạo ra một chất dính làm thành những mảng mỏng (plaques) trên thành các mạch máu, làm cản trở sự lưu thông của máu đi lên óc. Vì óc tùy thuộc vào nguồn tiếp tế liên tục oxy và các chất bổ dưỡng do máu đem tới, bất kỳ cái gì làm cản trở sự lưu thông của máu cũng làm gián đoạn chức năng của óc, và như vậy của trí nhớ. Nhiều bệnh liên quan tới tuổi già như tiểu đường, bệnh tim ảnh hưởng tới sự lưu thông của máu, đúng ra là làm máu ‘đói‘ chất bổ dưỡng. Hơn nữa, máu lưu thông chậm cũng làm tăng rủi ro bị những cơn ngưng máu âm thầm (silent strokes) gọi là những tai biến mạch não nhỏ (mini stokes). "Những tai biến gọi là âm thầm làm ta tưởng chúng vô hại, nhưng không phải vậy" bác sĩ Will Longstreth về thần kinh học tại Đại học Washington ở Seatle nói. Đúng ra, chúng nguy hiểm chính vì chúng âm thầm, vì chúng làm hại não mà không đưa ra một dấu hiệu nào cho ta thấy. Mỗi tai biến nhỏ làm tổn thương mạng  tế bào thần kinh não và các điểm nối kết các tế bào đó, và làm hoạt động của chúng  chậm đi. Về vấn đề này, nhiều cuộc nghiên cứu với những máy chụp cộng hưởng từ tính (MRI: magnetic resonance imaging) để chụp cắt lớp (scan) não của 3450 người tuổi từ 65 trở lên cho thấy chừng 1/3 bộ não có những thay đổi giống như những hư hại của não ở những người  bị tai biến mạch não dù chẳng có ai đã từng bị tai biến.  Những người này  rõ ràng đã bị những tai biến nhỏ, điển hình là trong nhũng cuộc khào sát về thể chất cũng như về nhận thức, họ  kém xa  những người mà máy MRI không thấy gì trong não. Và sự suy về khả năng nhận thức  đôi khi  là triệu chứng của bệnh mất trí. Nhiều cuộc nghiên cứu khác cho thấy quả những tai biến mạch não nhỏ có thể làm tăng rủi ro bị mất trí, gồm cả bệnh Alzheimer.

Những người bị bệnh về huyết quản (vascular diseases) kể cả bệnh áp huyết cao thường dễ bị những cơn ngưng máu ngắn (TIA: transient ischemic attacks) mà khuôn khổ bài này không cho phép chúng tôi nói tới nhiều, cho nên bệnh áp huyết cao cũng là một nguyên nhân làm giảm trí nhớ. Một cuộc nghiên cứu của Viện Lão hóa Quốc gia (National Institute on Aging) Hoa kỳ cho thấy những người  ở tuổi 50 hay nhiều hơn mà bị bệnh áp huyết cao có trí nhớ kém hơn  những người cùng tuổi có áp huyết bình thường.

Lơ đãng do tuổi già - Các người trẻ thường tự hào về khả năng làm nhiều việc cùng một lúc của họ. Họ có thể vừa đọc báo vừa nghe đài phát thanh hay nói chuyện qua điện thoại, và vẫn nhớ được những tin hàng đầu. Nhưng óc những người nhiều tuổi hơn thường dễ bị lơ đãng, ví dụ như nghe radio thì có thể ảnh hưởng tới khả năng tập trung để có thể nhớ những gì trong báo.  Điều này cũng giải thích tại sao những điều mới thu nhập thường vuột ra khỏi trí nhớ ngắn hạn, trong khi ta vẫn có thể nhớ những gì  đã được dự trữ vào trí nhớ dài hạn như những kỷ niệm đặc biệt hay các bài hát học trong thời còn trẻ. Đó là lý do bạn đứng trong kho mà mà không hiểu mình vào kho để làm gì. 

Thuốc dùng quá tải - Thuốc men cũng có thể  hại cho sự hoạt động của trí nhớ, đặc biệt là những thuốc an thần, những thuốc dùng để trị áp huyết cao, những xáo trộn của tuyến giáp trạng (thyroid). Nhiều loại thuốc trên gây ra những tác động phụ như lẫn lộn và buồn ngủ, cả hai chứng này ảnh hưởng tới sự tập trung; hơn nữa, chúng còn có thể lưu lại trong cơ thể một người nhiều tuổi  hai lần lâu hơn ở những người trẻ trước khi bị  thải ra, khiến các tác động phụ dễ xảy ra hơn và có thể nghiêm trọng hơn.

B - Những thói quen tốt để cải thiện trí nhớ

Bạn không thể phục hồi sự hoạt động của não trở lại như khi bạn 20 tuổi, nhưng "bạn chắc chắn có thể làm sự giảm trí nhớ chậm lại hay ngưng lại bằng một lối sống lành lặn", bác sĩ Gary Small, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Lão hóa và Trí nhớ Đại học Los Angeles nói. Và vài chuyên gia  còn tin rằng bạn có thể làm cho não tự ‘mắc lại dây‘ (rewire) để mở lại những con đường đã bị đóng và tạo ra những con đường mới. Sau đây là  một vài thói quen tốt có thể giúp bạn chống lại sự giảm trí nhớ, bất kỳ bạn ở tuổi nào:

  • Theo một chế độ dinh dưỡng có nhiều chất chống oxyhóa  như vit C, E, beta carotene và các loại vit B. Những cuộc nghiên cứu ở Thụy sĩ cho thấy những người khỏe mạnh ở lưa tuổi 60 hay hơn nữa mà máu có nhiều vit C và beta carotene thì dễ có điểm cao trong các cuộc sát hạch về trí nhớ. Và các nhà nghiên cứu ở Đại học Tuffs đã thấy rằng dùng nhiều các vit B6, B12  và nhất là folacin (cũng gọi là folate, hay khi dùng như một chất bổ sung thì gọi là acid folic) giúp cho trí nhớ hoạt động tốt hơn vì họ đặt giả thuyết rằng folate đóng vai trò cốt yếu trong việc tổng hợp các chất hóa học có nhiệm vụ truyền các thông điệp từ tế bào não này sang tế bào khác.

Vitamin E có trong các hạt (nuts/noix)như hạnh nhân, đậu phụng...  và trong các dầu ăn; vit C và beta caroten, trong  rau và trái cây; vit B6, trong chuối, rau, lúa kiều mạch (oat/ avoine), mầm lúa mì và các hạt ngũ cốc nguyên vẹn (whole grain entier) như gạo lứt; folate, trong rau, các sản phẩm bằng ngũ cốc được bổ sung thêm vitamin đó (fortified grain products); vit B12, trong thịt, cá, gà vịt, gan, trứng, đậu nành. Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy muốn có đủ vit B12  (và cả vit B6 và folate) thì người cao tuổi nên  dùng thêm thuốc bổ sung, vì  acid folic và vit B12 trong thuốc bổ sung được cơ thể hấp thụ dễ hơn là acid folic, vit B12  có sẵn trong thực phẩm.

  • Luyện tập thân thể: Một cuộc nghiên cứu lâu 5 năm mới đây với hơn 4000 người trên 65 tuổi cho thấy rằng những người hoạt động nhất ít bị bệnh Alzheimer, 50% ít hơn, và ít  bị bệnh mất trí, 40% ít hơn những ngưới không hoạt động. Các khoa học gia đưa ra giả thuyết là sự luyện tập thân thể bảo vệ  não bằng nhiều cách gồm có việc làm tăng sự lưu thông cuả máu, giảm áp huyết, giảm cholesterol và  do đó làm giảm rủi ro bị các bệnh liên quan tới trí nhớ. 
  • Luyện tập trí óc: Giống như tập tạ làm khỏe xương và bắp thịt, luyện tập về trí óc làm khỏe não. Câu cách ngôn "Không dùng thì mất" (Use it or lose it) cũng thật đúng đối với khả năng của trí óc. Các khoa học gia biết rằng những người có trình độ học vấn cao và thành công trong việc làm ít bị bệnh Alzheimer.  Một cuộc nghiên cứu mới đây do Trường Y khoa ở Ohio thực hiện với 550 cụ 70 tuổi trở lên cho thấy những người hoạt động nhiều về thể chất và tinh thần bị bệnh Alzheimer 4 lần ít hơn những người  thiếu hoạt động. Họ giải thích rằng não đáp ứng lại sự kích thích, làm tăng sự lưu thông của máu bằng cách tạo ra và làm các tế bào cùng các điểm liên kết các tế bào mạnh hơn. Luyện tập trí óc có thể là đọc sách, chơi ô chữ, đánh cờ,  mạt chược, học một  cái gì mới như một ngôn ngữ, điện toán..., bất cứ cái gì làm bạn phải suy nghĩ.
  • Tránh mọi căng thẳng về tinh thần: Những cuộc nghiên cứu về loài vật cho thấy sự căng thẳng thường xuyên và quá mức làm biến đổi cấu trúc của não khiến não dễ bị những gốc tự do làm tổn thương. Bị căng thẳng liên tục thường được thể hiện  bằng sự chán nản, lo âu, cả hai trạng thái này thường thấy ở người già và ảnh hưởng tới sự chú ý. "Chúng tôi thường thấy những vấn đề về chú ý được giải quyết khi chữa được tình trạng chán nản hay lo âu", giáo sư tiến sĩ Norman Abeles về tâm lý học tại Đại học Michigan nói. Để giải tỏa sự căng thẳng, ta nên tập thư giãn bắp thịt, trầm tư mặc tưởng (meditation), thiền, yoga hay tài chi. Cũng có thể nói những lo lắng của bạn với một người mà bạn tin cậy, và nếu cần thì với một bác sĩ chuyên môn.
  • Điều trị các bệnh kinh niênnhư bệnh tim, áp huyết cao, tiểu đường, những chứng này có thể làm cản trở sự lưu thông của máu và hại cho trí nhớ.
  • Nhờ bác sĩ kiểm soát lại các thuốc dùng để loại những thuốc không cần thiết có thể làm hại não. "Tôi yêu cầu các bệnh nhân đem tới phòng mạch của tôi  tất cả những thuốc họ dùng", bác sĩ Small tại Đại học Los Angeles nói. "Với những thuốc nào có hại hại cho trí nhớ, tôi có thể giảm bớt liều, thay bằng một thuốc khác hay bỏ hẳn đi".
  • Dùng những phương pháp để trợ giúp trí nh  - Sau đây là một vài  ví dụ:
  • Dùng một cái lịch để ghi những ngày giờ hẹn bác sĩ, hội họp...; làm một bản ghi những công việc phải làm, những món phải mua khi đi chợ...
  • Tập thành thói quen cho khỏi quên như  để chìa khóa, ví, ở một nơi nhất định để trước khi ra khỏi nhà thì mang theo;
  • Thư từ đem gửi, sách trả thư viện...dể ngay trên giày hay gần giày, hay cho vào một cái bao treo trên quả đấm cửa ra vào;
  • Nếu có thể, mua thêm một cái kính nhìn xa (đối với những người cần có kính để nhìn xa) để ngay trong xe hơi  để khỏi phải trở về lấy kính;
  • Tổ chức nơi đặt những đồ dùng như kìm, búa...ở một chỗ nhất định và khi dùng xong luôn luôn nhớ để lại chỗ cũ;
  • Để nhớ tên, hỏi một nguời bạn hay người nhà tên của những người sẽ gặp trong một buổi họp, một party;
  • Khi được giới thiệu một người bạn mới, hãy chú ý nghe và nhắc lại trong óc tên người đó với một đặc điểm nào đó của người ấy như bộ râu, cặp kính, vóc người cao hay thấp...
  • Khi học một cái gì mới như viết bài bằng máy điện toán, hãy  chú ý  nghe và theo dõi từng bước, tốt nhất là ghi thứ tự các bước đó trên một tờ giấy...

C -  trường hợp cần quan tâm khi trí nhớ suy:

Trong nhiều trường hợp, suy trí nhớ chỉ là do tuổi già. Tuy nhiên có những dấu hiệu mà sự quên cần được quan tâm vì chúng có thể là triệu chứng của một số bệnh nghiêm trọng như bệnh Alzheimer: 

-                      Không nhận ra bà con, bạn thân;

-                      Lạc đường trong một khu vực quen thuộc, có khi ngay trong phố mình ở.

-                      Mất khả năng học những điều rất đơn gỉản.

-                      Quên những điều đã biết rõ như số điện thoại của mình, hay cách làm 4 phép tính căn bản.

-                      Dễ bị lạc hướng đi.

-                      Một sự thay đổi đáng kể về trí nhớ trong một thời gian nào đó, như trong 6 tháng chẳng hạn.

-                      Làm những điều lạ lùng như cất bàn ủi trong tủ lạnh rồi không nhớ tại sao nó lại nằm ở đó, mặc quần áo ngủ để đi ra ngoài đường.

-                      Thay đổi tính tình một cách nhanh chóng như đang hiền lành bỗng nổi nóng hoặc vô cớ sợ hãi.

CVA Trương đăng Đệ                                                                           

   Tháng 11/2001 -  Sửa chữa và bổ túc tháng 9/2004

Tài liệu chính

  • Health & Nutrition Letter (Tuffs University) July, Aug. & Oct. 2001
  • Consumer Reports on Health  Sep. 2000

* * *

 

HIỆP ÐỊNH GENÈVE 1954 và những kinh nghiệm không được những người trong cuộc rút tỉa


CVA Phạm Cao Dương

(Friday, July 16, 2004)

            Trong lịch sử Việt Nam hiện đại nói chung và lịch sử Người Việt Hải Ngoại nói riêng, hai thời điểm 1954 và 1975 là hai thời điểm căn bản, hai khúc quanh lớn của lịch sử có liên hệ chặt chẽ với nhau trong những quan hệ nhân quả. Năm 1954 là năm Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc, mở đầu cho cuộc di cư của non một triệu người từ Bắc vô Nam. Năm 1975 là năm miền Nam sụp đổ trước sự xâm lăng bằng võ lực của miền Bắc, mở đầu cho phong trào dời bỏ đất nước ra đi của hơn hai triệu người Việt ngày nay sống rải rắc ở khắp nơi trên thế giới. Cả hai ngày đều đã được những người Việt Nam không Cộng Sản coi là Quốc Hận.

Nhưng từ sau năm 1975, người ta gần như chỉ còn kỷ niệm Ngày Quốc Hận 1975 mà không còn kỷ niệm Ngày Quốc Hận 1954 nữa. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ hầu như là đã quên, thậm chí là không còn biết đến Quốc Hận 1954 là gì cả. Có điều không hiểu Quốc Hận 1954, người ta không thể hiểu Quốc Hận 1975, từ đó những hậu quả và những bài học của những biến cố cực kỳ đen tối , cực kỳ bi thảm đã xảy ra trong lịch sử dân tộc Việt Nam trong non nửa thế kỷ vừa qua.

Bài này được viết với mục tiêu cung hiến cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ Việt Nam ở hải ngoại, một số những dữ kiện căn bản liên hệ tới Ngày Quốc Hận Thứ Nhất, đúng hơn Hội Nghị Genève và Hiệp Ðịnh Genève 1954 cùng những hậu quả của hội nghị và của hiệp định này, kèm theo đó là những kinh nghiệm đã không được người trong cuộc học.

Hoàn cảnh triệu tập:

Trong hoàn cảnh nào Hội Nghị Genève đã được triệu tập và Hiệp Ðịnh Genève đã được thông qua? Ðể trả lời câu hỏi này, nhiều người thường nghĩ ngay tới Trận Ðiện Biên Phủ và cho rằng Hội Nghị Genève đã được triệu tập một ngày sau khi người Pháp bị bại trận, tức ngày 8 tháng 5 năm 1954. Ðiều này không hoàn toàn đúng. Ngày 8 /5/1954 chỉ mở đầu cho giai đoạn thứ hai của một hội nghị Genève lớn hơn, có mục tiêu là cả vùng Ðông Á với Chiến Tranh Cao Ly là chính, bắt đầu họp từ ngày 26/4/1954 trước đó. Tất cả bắt nguồn từ sự thất bại của Hội Nghị Tứ Cường, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, để bàn về các vấn đề Âu Châu, trọng tâm là sự thống nhất nước Ðức vào đầu năm này. Ðây là thời kỳ Chiến Tranh Lạnh bao trùm thế giới. Hội Nghị Genève được triệu tập là do Nga đề nghị. Thành phần là các ngoại trưởng của Tứ Cường, thêm Chu Ân Lai của Trung Cộng, cũng do Nga đề nghị. Vào thời điểm này Trung Cộng mới vừa làm chủ được Trung Hoa lục địa được ít năm và chưa có một vai trò quốc tế nào. Mục tiêu của Nga là tạo dịp để đồng minh Á Châu của nước này được gián tiếp công nhận. Hoa Kỳ buổi đầu rất ngần ngại. Nhưng sau những giải thích của Nga và những mặc cả qua lại, hội nghị đã được triệu tập với mỗi nước mỗi chủ trương khác nhau và những mục tiêu khác nhau.


Chủ trương của các nước tham dự

  • Anh Quốc.

Anh Quốc tin tưởng vào đường lối hòa hoãn, đồng thời e ngại chiến tranh ở Việt Nam có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt cho các thuộc địa của nước này, đặc biệt là Hương Cảng nằm trong nội địa của Trung Quốc, sau đó là những vùng Anh có ảnh hưởng và quyền lợi nằm ở phía tây và tây nam bán đảo Ðông Dương với Mã Lai và Singapore là chính.

  • Liên Xô.

Liên Xô từ sau khi Stalin chết (5/3/1953) chủ trương mềm dẻo và muốn sống chung hòa bình với các nước Âu Châu chống lại Hoa Kỳ, từ đó tìm cách thuyết phục Pháp không tham gia Cộng Ðồng Phòng Thủ Chung Âu Châu. Khởi đầu, ngày 28 tháng 9. Liên Xô đề nghị tứ cường họp để giải quyết vấn đề thống nhất nước Ðức. Ðến tháng Giêng năm 1954 trước khi Hội Nghị Berlin nhóm họp, Ngoại Trưởng Vyacheslav Molotov thông báo cho Pháp biết là Nga sẽ giúp Pháp giải quyết vấn đề chiến tranh Ðông Dương nếu bù lại Pháp từ chối yêu cầu của Hoa Kỳ không tham gia Cộng Ðộng Phòng Thủ Âu Châu. Người ta không rõ người Pháp đã trả lời ra sao nhưng chỉ hơn một tuần sau Hội Nghị Genève Hạ Nghị Viện Pháp đả bác bỏ dự án tham gia tổ chức này, vào ngày 30/8/1954. Ðối với Á Châu, Nga cũng chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra khắp châu này, nhưng lại dành cho Á Châu một ưu tiên thấp hơn Âu Châu. Không những thế, Nga tự coi như không có khả năng kiểm soát mọi chuyện ở Á Châu nếu Mỹ cố ý leo thang ở Á Châu với sự thỏa thuận của Anh trong khi Nga không chủ trương leo thang. Ðồng thời Nga cho rằng một khi chuyện này xảy ra, các nước Tây Phương sẽ sáp lại gần nhau hơn trong một thế chống Cộng mới từ đó bó buộc Nga phải tham chiến để bênh vực Trung Quốc. Trong khi đó, vai trò đem lại hòa bình ở Ðông Dương sẽ tạo cho Nga một hình ảnh đẹp của một quốc gia mưu cầu hòa bình cho thế giới.

Với chủ trương kể trên, ngay khi Hội Nghị Genève bắt đầu, khi câu hỏi là đình chiến và giải pháp chính trị nên đước thảo luận chung hay tách rời thành hai vấn đề riêng biệt thì Nga đã ủng hộ Pháp là nên tách biệt với ưu tiên dành cho ngưng chiến trước. Molotov tỏ ra không lưu tâm tới vấn đề bảo đảm sự thống nhất của Việt Nam.

  • Nước Pháp.

Nước Pháp thì không còn hy vọng có thể thắng được Việt Minh Cộng Sản giành lại cả những thuộc địa cũ của mình ở Ðông Dương như trước được nữa, đồng thời nội bộ bị chia rẽ trầm trọng nên nhất thời chỉ muốn giải quyết cuộc chiến mà thôi.

Vấn đề chính trị sẽ giải quyết sau. Có hai lý do. Một mặt Pháp bị kẹt với chính phủ Quốc Gia Việt Nam của Cựu Hoàng Bảo Ðại vì ngày 4 tháng 6 năm 1954, Pháp đã ký với chính phủ này hai thỏa ước công nhận nền độc lập hoàn toàn và chủ quyền về mọi phương diện của Việt Nam, với tư cách này Việt Nam đã gia nhập khối các quốc gia liên kết với Pháp, đồng thời ngoại trưởng Bidault đã hứa bằng lời nói và bằng văn thư với Bảo Ðại là sẽ không có chuyện chia đôi lãnh thổ; mặt khác là vấn đề chính trị có liên quan đến những giải pháp cho Miên và Lào và quyền lợi trong tương lai của Pháp ở cả ba xứ Ðông Dương.

  • Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ thì muốn can thiệp hơn vào Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của thế giới Cộng Sản nhưng vẫn do dự và bất mãn với Pháp vì cho rằng Pháp không cho Hoa Kỳ biết rõ những gì đã xảy ra và Pháp chủ trương những gì trong giai đoạn tới.

Khi hội nghị được triệu tập, Hoa Kỳ chỉ tham dự như một quốc gia thân hữu với một vai trò phụ thuộc đối với các nước không cộng sản, tức các quốc gia liên kết và Pháp. Do đó vào cuối tháng Tư, Ngoại Trưởng Dulles chỉ lưu lại Genève có một tuần và chỉ để lại một phái bộ cấp thấp hơn sau đó với vai trò quan sát nhiều hơn là tham dự. Chúng ta cũng cần phải lưu ý là trước đó Washington đã rất quan tâm đến tình hình Ðông Dương và Ngoại Trưởng Dulles vào hạ tuần tháng 4 năm 1954 khi đến Paris họp Hội Ðồng Bắc Ðại Tây Dương đã nhận được lời cầu cứu khẩn cấp của ngoại trưởng Pháp Bidault để cứu vãn tình trạng nguy ngập của quân dội Pháp ở Ðiện Biên Phủ. Dulles đã hoạt động rất tích cực để có sự hỗ trợ của ngoại trưởng Anh Eden nhưng không thành công. Không những thế, những đề nghị của ông nhằm thiết lập một hiệp ước an ninh Á Châu và về các hành động chung cũng bị chính phủ Anh bác bỏ. Tổng Thống Eisenhower cuối cùng đã loan báo là Mỹ sẽ không làm gì trong khi chờ kết quả của hội nghị Genève. Không chấp nhận nhượng bộ lại không dám tham chiến khi không có sự thỏa thuận của đồng minh. Thái độ lơ lửng này của Washington đã làm cho sứ mạng của Dulles trở thành bất khả thực hiện. 

  • Trung Cộng.

Trường hợp của Trung Cộng thì phức tạp hơn nhiều. Trước hết Trung Cộng vào năm 1954 mới làm chủ được Trung Hoa Lục Ðịa được ít năm, chưa có được một vai trò quốc tế nào nên muốn có vai trò này, đồng thời vì nước này vừa mất khoảng một triệu quân ở chiến trận Cao Ly nên tìm cách ngăn chặn không cho Hoa Kỳ có cớ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam . Chưa hết, Trung Cộng còn muốn chứng tỏ cho Ấn Ðộ, Nam Dương và các nước không liên kết một thái độ ôn hòa, không bành trướng của mình, đồng thời thực thi chủ trương cố hữu của Trung Quốc là không muốn thấy một nước Việt Nam quá mạnh và muốn chia vụn khu vực Ðông Nam Á. Ðối với Nga, Trung Cộng rất cần viện trợ kinh tế của Nga nên phải hỗ trợ Nga trên chính trường quốc tế. Hội Nghị Genève là một dịp hiếm có để Trung Cộng thực hiện những chủ trương này. Trong hoàn cảnh đó, ngày 20 tháng 5, theo sự khởi xướng của Nga, Châu Ân Lai đã đồng ý tách rời hai khía cạnh quân sự và chánh trị của vấn đề Ðông Dương thành hai đề tài thảo luận riêng biệt. Sau đó, sang tháng 6, sau khi Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam là một nước hoàn toàn độc lập và có chủ quyền với tất cả những tính chất và những quyền hạn theo quốc tế công pháp thì Chu Ân Lai đã tuyên bố ngay là ông thừa nhận sự tồn tại của hai chính phủ tại Việt Nam và thỏa hiệp cuối cùng về một giải pháp chính trị cho Việt Nam sẽ do sự điều đình trực tiếp giữa hai chính phủ này. Châu Ân Lai cũng tỏ ra có ảnh hưởng mạnh mẽ với phái đoàn Việt Minh. Bằng chứng là khi bàn về sự hiện diện của quân đội Việt Minh ở Lào và Miên, lúc đầu Việt Minh chối bỏ là không hề có bộ đội xâm nhập vào Lào và Miên, sau đó, theo các nhà quan sát đương thời, dưới áp lực cưa Chu Ân lai, họ sửa lại là có một ít tình nguyện quân nhưng đã rút rồi, sau đó lại điều chỉnh là nếu còn có phần nào bộ đội của họ ở những nơi này thì các bộ đội này sẽ rút. Nhưng đóng góp lớn nhất của Châu Ân Lai vào sự thành công của Pháp và Nga ở Hội Nghị Genève là sự bay về Á Châu của ông để gặp và áp lực với Hồ Chí Minh để ông này chấp nhận những gì đã được các nước này thỏa thuận.

  • Việt Minh.

Việt Minh, hay dùng danh xưng chính thức của chính phủ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì tỏ ra rất và ngay cả quá tự tin, tự tin vào thế chiến thắng của mình, tự tin vào kinh nghiệm học được từ các nước Cộng Sản khác trong chiến thuật vừa đánh vừa đàm, rồi sau này là những xảo thuật vận động quần chúng một khi có tổng tuyển cử. Họ muốn dựa theo đà chiến thắng quân sự của mình đòi một giải pháp chính trị trước và để cho người Việt tự giải quyết những mâu thuẫn riêng với nhau. Họ cũng đòi cho những nhóm Pathet Lào và Khmer Issarak là những nhóm Cộng Sản ở Lào và Miên mà họ nâng đỡ được công nhận. Theo nhận xét của một tác giả Mỹ, trong suốt 25 năm trước đó, Cộng Sản Việt Nam đã trung thành theo những chỉ thị đến từ Mạc Yư Khoa thì ở Genève họ đã không đi ra ngoài khuôn phép ấy. Các tác giả của Pentagon Papers thì dẫn lời của Jean Chauvel, đại sứ Pháp ở Berne và là người trực tiếp điều đình trong phái đoàn Pháp ở Genève là ông này linh cảm rằng sau những buổi tiếp xúc riêng với phái bộ Trung Quốc thì phe Việt Minh đã thực sự ở đầu cuối sợi dây được những bàn tay từ Mạc Tư Khoa hay Bắc Kinh nắm giật.. Ðiều này không có gì là khó hiểu vì Hồ Chí Minh là người của Cộng Sản Quốc Tế và vì Việt Nam không hề có thực lực để theo đuổi cuộc chiến. Tất cả tùy thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.

  • Quốc Gia Việt Nam.

Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Ðại làm quốc trưởng thì tham gia với tư cách một chính phủ quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp bên cạnh các phái đoàn chính thức của Lào và Miên. Tuy nhiên, để củng cố thêm cho tính cách độc lập và uy thế của mình, trong thời gian này, phía Quốc Gia sau một thời gian dài tranh đấu và đòi hỏi, đã đạt được hai thỏa ước mới và riêng rẽ do hai thủ tướng Joseph Laniel và Bửu Lộc ký kết vào ngày 4/6/1954 về nền độc lập của Việt Nam và sự liên kết giữa hai nước. Hai thỏa ước này đã bổ khuyết và kiện toàn nền độc lập của Việt Nam trước đó đã được công nhận bằng hiệp định Elysée giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, với tư cách hai quốc trưởng. Khi Mendès France thay thế Laniel làm thủ tướng, Mandès France lại hứa tôn trọng những thỏa ước này mặc dầu nó chưa được Quốc Hội Pháp thông qua. Ðây là những thỏa ước ít được mọi người biết đến mặc dầu nó vô cùng quan trọng vì theo đó Việt Nam được Pháp công nhận là hoàn toàn độc lập và có chủ quyền với những tư cách và quyền hạn theo quốc tế công pháp (thỏa hiệp thứ nhất) và với tư cách một nước hoàn toàn độclập và có chủ quyền theo đó Việt Nam gia nhập khối các quốc gia liên kết của Pháp (thỏa hiệp thứ hai). Chúng ta cần phải nhớ là lúc đầu Pháp đề nghị một thỏa ước cho cả hai vấn đề nhưng phái đoàn Việt Nam đòi hai thỏa ước riêng biệt và Pháp đã nhượng bo. Rất tiếc là thời gian hai thỏa ước này được ký kết là quá muộn nên không ai nói tới về sau này nữa. Tuy nhiên chúng đã phản ảnh lập trường của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam trong suốt thời gian Hội Nghị Genève nhóm họp. Quốc Trưởng Bảo Ðại ngay từ đầu đã luôn luôn đòi hỏi người Pháp phải tôn trọng sự thống nhất lãnh thổ của Việt Nam và chống lại mọi sự chia cắt. Ông đã thành công trong việc đòi hỏi Ngoại Trưởng Bidault phải hứa bằng lời nói và bằng văn kiện là sẽ không bao giờ chia cắt Việt Nam coi như điều kiện để ông cử phái đoàn của Quốc Gia Việt Nam tới dự hội nghị. Về tư thế của phái đoàn Việt Minh khi phái đoàn này được mời tham dự hội nghị thì qua sự đòi hỏi của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Ðịnh sự hiện diện của phái đoàn này phải được coi là không có nghĩa là Việt Minh được công nhận. Lập trường của Bảo Ðại và của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam đã gây rất nhiều khó khăn cho người Pháp. Người Pháp đã phải mất rất nhiều thời giờ qua lại giữa Paris và Berne với Cannes rồi sau này là Evian để thuyết phục Bảo Ðại. Sau đó, trong thời gian điều đình, người Pháp đã luôn luôn tránh gặp Bảo Ðại và phái đoàn Quốc Gia Việt Nam mà phái nhờ người Mỹ làm trung gian thông báo tin tức. Ðiều này giải thích tại sao theo lời kể của Cựu Hoàng Bảo Ðại trong thời gian này có nhiều người Mỹ đã tới gặp ông trước và trong thời gian hội nghị để rồi sau đó không tới gặp ông như trước nữa. Người Pháp sợ bị Bảo Ðại và phái đoàn Việt Nam chất vấn và làm cản trở cuộc điều đình của họ. Một phần cũng vì vậy người Pháp chủ trương tách rời giải pháp chánh trị ra khỏi giải Pháp quân sự. Với giải pháp quân sự thuần túy, người Pháp có thể đại diện cho các nước liên kết thỏa hiệp được. Chúng ta cũng cần để ý là vào thời điểm này quân đội Quốc Gia mới được thành lập không được bao lâu và còn bị phụ thuộc nhiều vào quân dội Pháp, đồng thời sự chia rẽ giữa những ngườ Việt Nam không Cộng Sản rất trầm trọng. Bảo Ðại và phái đoàn của Quốc Gia Việt Nam do đó không ở vào một vị thế thuận lợi để nói lên và bảo vệ lập trường của mình.


Diễn tiến của các cuộc điều đình

Với những chủ trương rõ rệt kể trên, các phái đoàn Nga và Trung Cộng đã đóng những vai trò chủ động và tích cực trong những khóa họp khoáng đại hay những cuộc họp giới hạn của hội nghị cũng như trong các hoạt động ngoại vi, đúng hơn những cuộc điều đình mật. Tất cả là nhằm vào những quyền lợi riêng của họ. Trong tình trạng sinh hoạt phức tạp và không được qui định bằng những nguyên tắc rõ ràng này, người ta khó mà biết được một cách thật rõ ràng thứ tự của các cuộc mặc cả qua lại, nhưng mục tiêu giành quyền lợi riêng cho mình và hy sinh quyền lợi của đồng minh đã được phía Trung Cộng biểu lộ rất sớm. Chỉ mười ngày sau buổi họp đầu tiên, ngày 18/5/1954, một phụ tá của Châu Ân Lai đã trình bày với một nhân viên của phái bộ Pháp trong một bữa ăn tối là phái bộ của ông ta tới họp là để tìm kiếm hòa bình chứ không phải để làm hậu thuẫn cho Việt Minh. Không lâu sau đó họ Chu còn nói riêng với Anthony Eden, trưởng phái đoàn Anh, và Georges Bidault, trưởng phái đoàn Pháp, rằng ông chống lại chủ trương của Việt Minh nhằm kiểm soát Miên và Lào. Ðến ngày 23/6, ông đã dàn xếp để bí mật gặp riêng Mendès France ở tòa đại sứ Pháp ở Bern, thủ đô của Thụy Sĩ thay vì ở Genève trong một bộ Âu phục thay vị chiếc áo lãnh tụ thường mặc nhằm gián tiếp bày tỏ ý muốn nói chuyện để điều đình thực sự theo sinh hoạt quốc tế chứ không phải theo lối đấu tranh cách mạng. Trong cuộc gặp gỡ này, Châu Ân Lai đã nói rõ là ông chấp nhận đình chiến trước rồi sau mới bàn việc chính trị, đồng thời sẽ thúc đẩy Việt Minh chấm dứt can thiệp vào nội tình ở Miên và Lào, xa hơn là giải pháp chia đôi Việt Nam, đồng thới nhấn mạnh rằng Trung Cộng chỉ có mục tiêu duy nhất là hòa bình, hòa bình không điều kiện và không có tham vọng nào khác. Sau đó vào cuối tháng sáu ông đã bay trở lại Á Châu thăm Ấn Ðộ và Miến Ðiện là hai nước không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh để trình bày quan điểm sống chung hòa bình của Trung Cộng, và đầu tháng bảy, trong ba ngày từ 3 đến 5, sau đó mới trở lại Liễu Châu gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Những chuyến công du này không có mục tiêu nào khác hơn là quảng bá và giải thích chủ trương của Trung Cộng và thuyết phục Hồ Chí Minh chấp nhận lập trường ấy. Riêng với Hồ Chí Minh, đây phải là cuộc họp gay go và làø một sự bắt ép rất nặng vì theo Võ Nguyên Giáp cuộc họp này kéo dài hai ngày trong đó, trong khi bài thuyết trình của Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh đến thế chủ động của quân đội Việt Minh với trên bản đồ A cả miền Bắc và miền Trung Việt Nam hầu như toàn màu đỏ thì Chu Ân Lai chỉ nói tới tình hình Hội Nghị Genève với những dữ kiện làm cho Achúng tôi (Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp) đều ngỡ ngàng. Hồi ký của Võ Nguyên Giáp cho người ta thấy ngay từ thời điểm gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, vào đầu tháng 7/1954 này, Châu Ân Lai đã nghĩ tới vĩ tuyến 17 trong khi sự lựa chọn chính thức chỉ xảy ra về sau này, vào ngày 20/7, ở biệt thự tạm trú của trưởng phái đoàn Nga Vyacheslav Molotov với sự hiện diện của Mendès France, Anthony Eden, Châu Ân Lai và Phạm Văn Ðồng. Cuộc mặc cả bắt đầu với sự nhượng bộ của Phạm Văn Ðồng, từ vĩ tuyến 13 chuyển lên vĩ tuyến 16, trong khi Mendès France vẫn giữ vĩ tuyến 18. Cuối cùng do sự đưa đẩy của Molotov vĩ tuyến 17 đã được lựa chọn. Sang phần chính trị. Mendès France đề nghị bỏ ngỏ không ấn định thời hạn cho cuộc tổng tuyển cử. Phạm Văn Ðồng lúc đầu đề nghị sáu tháng, sau sửa lại thành một năm và có thể mười tám tháng. Cuối cùng Molotov đề nghị hai năm và đương nhiên là được đa số hiện diện chấp thuận.

Hiệp Ðịnh Genève: Hội Nghị Genève kết thúc với hiệp định đình chiến gồm 47 điều được ký kết và một bản tuyên ngôn cuối cùng đã được thông qua bằng miệng.

Hòa bình được tái lập nhưng đất nước bị chia đôi với vĩ tuyến 17 trở thành ranh giới giữa hai miền Nam Bắc, dân chúng được tùy nghi lựa chọn miền cư ngụ. Một Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã được thành lập với đại diện của Ấn Ðộ làm chủ tịch, của Gia Nã Ðại và Ba Lan làm hội viên. Bản tuyên ngôn cuối cùng đã đề cập đến vấn đề tổng tuyển cử để thống nhất đất nước sau hai năm dưới sự giám sát của Ủy Hội Quốc Tế. Quốc Gia Việt Nam đã không chấp nhận tham gia sự thông qua bản tuyên ngôn này và đã ra một bản tuyên ngôn riêng xác nhận sự tôn trọng hòa bình của mình nhưng đòi hỏi tổng tuyển cử phải do Liên Hiệp Quốc giám sát. Hoa Kỳ cũng vậy, cũng bầy tỏ thái độ yêu chuộng hòa bình nhưng nhấn mạnh là sẽ nghiêm trọng cứu xét nếu có sự vi phạm thỏa hiệp đình chiến.

Ðối với rất đông người Việt, sự chấp nhận chia đôi lãnh thổ quốc gia là một điều không thể chấp nhận được và là một sự phản bội vì đây là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của cuộc tranh đấu từ những ngày đầu của dân tộc bên cạnh nền độc lập.

Ngày 20 tháng 7 từ đó đã trở thành Ngày Quốc Hận và được cử hành hàng năm ở miền Nam cho mãi đến năm 1975 mới chấm dứt. Riêng ở hải ngoại ngày này đã được thay thế bằng ngày 30 tháng 4, ngày miền Nam sụp đổ vào năm 1975. Ðối với chế độ Cộng Sản, cái nhìn về ngày 20 tháng 7 có thể khác. Có điều họ đã không thành công ở Hội Nghị Genève như họ đã mong đợi. Hai nước đồng minh và là đàn anh của họ không những đã không ủng hộ họ, lại còn bắt ép họ phải nhượng bộ. Rút cuộc, Võ Nguyên Giáp thắng ở Ðiện Biên Phủ, nhưng Phạm Văn Ðồng đã thua ở Genève, dù cho ông này đã toát mồ hôi để bảo vệ lập trường của mình. Ðiều naỳ giải thích tại sao nhà cầm quyền Hà Nội sau đó đã không cho phổ biến những chi tiết về Hội Nghị Genève cũng như Hiệp Ðịnh Genève và đã mập mờ không nói rõ bản chất thực sự của các văn kiện. Nói cách khác, chánh quyền Cộng Sản Hà Nội trong thời gian điều đình cũng như sau khi Hiệp Ðịnh Ðình Chiến đã được thông qua đã không cho quần chúng, kể cả các cán bộ trung cấp biết Hội Nghị đã diễn tiến ra sao, lập trường các phe như thề nào, và nội dung gồm có nhưng khoản gì. Nhưng dù sao, từ những căn cứ ở sâu trong rừng núi, sau ngót chín năm chiến đấu bằng súng đạn và bằng mạng sống của trên dưới một trăm ngàn vừa bộ đội, vừa dân công. Hồ Chí Minh và những người theo ông đã về được Hà Nội đã chính thức được kiểm soát một nửa lãnh thổ của quốc gia. Ðây cũng đã là một thắng lợi lớn cho những người Cộng Sản rồi. Còn Pháp thì ngược lại. Ðược Nga và Trung Cộng ủng hộ, Pháp đã đạt gần hết những gì Phápï muốn, từ việc tách rời ngưng bắn ra khỏi chánh trị, loại Việt Minh và phe Cộng Sản Miên, Lào ra khỏi những quốc gia này, đến việc nâng đường ranh chia cắt từ vĩ tuyến 13 lên vĩ tuyến 17, bảo vệ được hải cảng Ðà Nẵng rất cần thiết cho Lào và Cố Ðô Huế cho miền Nam sau này.


Những kinh nghiệm không được những người trong cuộc rút tỉa:

Thái độ của hai nước Nga và Trung Cộng ở Hội Nghị Genève cho người ta thấy rất rõ một sự thực đơn giản là trong liên hệ giữa các quốc gia, quyền lợi mỗi quốc gia riên lẻ luôn luôn được đặt lên trên hết dù là giữa các quốc gia Cộng Sản. Cũng vậy giữa những nước lớn và những nước nhỏ, giữa những nước mạnh và những nước yếu. Kinh nghiệm này dường như đã không được những người Cộng Sản Việt Nam, mà đại diện trong một thời gian dài là Phạm Văn Ðồng, chú ý tới. Giữa những người Việt không Cộng Sản và người Tàu, người Nga, trong những năm sau đó, họ đã lựa chọn người Tàu, người Nga, không để ý tới yếu tố đồng bào ruột thịt. Họ đã cố tình vi pham hiệp định mà họ đã chấp nhận ngay tữ đầu bằng cách không cho tập kết hết cán bộ, quân lính của họ ra Bắc, trong đó có cả Lê Duẩn, người sau này đã trở thành bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam, dùng võ lưc chiếu cố miền Nam và đã tạo cơ hội cho nước Mỹ can thiệp sau đo,ù khiến cho chiến tranh bùng nổ trở lại. Hậu quả là hơn ba triệu người bị chết một cách oan uổng và thù hận giữa những người dân cùng một nước đã mỗi ngày một dày, mỗi ngày một sâu hơn. Con số người chết này mang rất nhiều ý nghĩa nếu người ta để ý tới con số tử vong chưa tới một trăm ngàn của Chiến Tranh Việt Pháp, 1946-1954, trước đó và những nạn dân gián tiếp vì là thân nhân, bạn bè của họ.

Con số nạn nhân của cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai do đó phải nhân lên từ năm tới mười lần. Ðiều này giải thích tại sao phong cảnh Việt Nam từ sau năm 1975 lại mang quá nhiều màu trắng của những nghĩa trang liệt sĩ và tại cứ gần tết ở các làng miền Bắc người ta lại giỗ đồng lúc các chồng con tử sĩ. Cũng vậy thay vì hỗ trợ cho miền Nam trong nỗ lực bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Ðồng lại công nhận hải phận mới do Trung Cộng vẽ lại vào năm 1958 rồi hoàn toàn yên lặng vào năm 1974 khi Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa. Nguyên nhân chính không ngoài sự tùy thuộc , hay trung thành của đảng Cộng Sản Việt Nam vào Cộng Sản quốc tế lãnh đạo bởi Nga và Trung Cộng để đổi lấy viện trợ của Nga và Trung Cộng. Giữa người dân và Cộng Sản Quốc Tế, Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn Cộng Sản Quốc Tế và đã trở thành nước duy nhất trong số bốn nước bị phân chia vì chủ trương Quốc – Cộng đã dùng võ lực để thống nhất lãnh thổ. Ðó là điểm then chốt của vấn đề và là kinh nghiệm mà lẽ ra ngay từ năm 1954 họ phải rút tỉa. Hậu quả ra sao, bây giờ mọi người đã thấy rõ. Riêng đối với người Việt Quốc Gia, mặc dầu không cản được sự chia đôi đất nước, họ vẫn có được một nửa thay vì chỉ có một phần ba lãnh thổ, từ vĩ tuyến 13 trở xuống, nhờ người Pháp, dầu cho thua trận, sớm muộn cũng phải ra đi, nhưng vẫn từng bước giữ lại những gì có thể giữ được cho đồng minh đã liên kết với mình. Ðây là một mảnh đất tạm dung cho những ngưới Việt không cộng sản trong 20 năm sau đó, trước khi giông tố lại đổ ập tới. Chính trên mảnh đất này, họ đã tom góp, tu bổ lại những di sản của cha ông, đã nuôi dưỡng hay sanh thêm những thế hệ mới, đã có dịp tiếp xúc, học hỏi từ thế giới bên ngoài. Bỏ qua một bên những gì thuộc giới lãnh đạo mà nhiều người không hãnh diện, những gì họ đã tom góp rồi bồi bổ thêm trong mọi lãnh vực, kể cả trong những lãnh vực sáng tạo như văn chương, âm nhạc, và nghệ thuật, đã trở thành những vốn liếng vô cùng quí giá và độc đáo để họ mang theo khi dời bỏ đất nước ra đi trong phần tư cuối cùng của thế kỷ hai mươi vừa mới chấm dứt. Những vốn liếng này, kèm theo những kinh nghiệm họ đã thâu lượm được về đủ mọi phương diện trước đó phải được nhìn như những dữ kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại, nói chung, và lịch sử Người Việt Hải Ngoại, nói riêng, trong một công trình nghiên cứu mà người viết nghĩ rằng rất nên và có thể thực hiện được. Riêng về những kinh nghiệm người Việt Quốc gia đã không rút tỉa được vì lý do này hay lý do khác là kinh nghiệm thiết lập ngoại giao với các nước trên thế giới. Trong thời gian họp Hội Nghị ở Genève, Ngoại Trưởng Trung Cộng Châu Ân Lai đã bày tỏ sự công nhận cả hai chánh phủ Việt Nam, sau đó trong buổi tiếp tân từ giã, họ Châu lại mời bào đệ của Tổng Thống Diệm là ông Ngô Ðình Luyện với những lời ngỏ có tính cách mở đường, bất chấp phản ứng của Phạm Văn Ðồng và phái đoàn của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chưa hết, sau này Châu Ân Lai còn gửi thư cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm muốn gợi ý cho một sự thiết lập bang giao giữa hai nước một lần nữa. Tất cả đều không được hồi âm. Vào những năm này, sự lơ là của các nhà cầm quyền ở miền Nam dù sao vẫn còn có thể hiểu được.

CVA Phạm Cao Dương

* * *
 
 
 
 
Vui buồn
 
Phạm Hữu Thuật

 

LTS: Cụ Phạm Hữu Thuật đã có bài đăng trên Đặc San CVA từ năm 1998 đến nay.  Xin trả lời thắc mắc của vài độc giả, cụ Phạm Hữu Thuật là thân phụ của Đồng Môn Hội Trưởng CVA Bắc California hiện nay.

 

Ai vui, vui hết phần ta,

Ta buồn, ta thấy nước nhà chia hai

Ai vui dinh thự xe hơi,

Ta buồn ta thấy bao người lầm than

Ai vui phú quý bình an,

Ta buồn thấy cảnh điêu tàn thảm thương

Ai vui tổ ấm uyên ương,

Ta buồn thấy cảnh tha hương nghẹn ngào

Ai vui chức trọng, quyền cao

Ta buồn nghe tiếng kêu gào dân đen

Ai vui yến tiệc liên miên

Ta buồn nhìn thấy mọi miền điêu linh

Ai vui đầm ấm gia đình

Ta buồn ta thấy Việt Minh bạo tàn

Ai vui đời sống huy hoàng

Ta buồn thấy cảnh nát tan cửa nhà

Ai vui say đắm xa hoa

Ta buồn nhìn cảnh bơ vơ khốn cùng

Vui là mưu sự vui chung

Vui đem tài đức giúp công sinh tồn

Vui nhìn thống nhất giang sơn

Vui trong dân chủ, hoàn toàn tự do

Vui nhìn dân tộc ấm no

Vui trong độc lập nước nhà vinh quang.

30-5-1956

* * *

 

Ôi Cái Lưng Đau Của Tôi!

Nguyễn Tranh Chiếu, CVA 1959

 

Tôi năm nay sáu mươi ba tuổi.  Hơn một lần tôi đã tự nói thầm trong miệng: “Si jeunnese savoir, si viellesse pouvoir!”  (Ước gì tuổi trẻ biết được, ước gì tuổi già làm được!)  Tại sao?  Tại vì, giống như bảy mươi phần trăm dân Mỹ, tôi bị chứng đau lưng dưới (lower back pain).  Nhiều năm trước đây tôi bị cụp lưng và phải nằm giường hai tuần lễ.  Vài tháng sau đó lại bị lại.  Hiện nay thì tôi khoẻ mạnh rồi.  Nhưng tôi biết đây là một vấn đề quan trọng cho nhiều người, nhất là những người lớn tuổi.  Vì vậy cho nên tôi mới bỏ công nghiên cứu lý do tại sao có chứng đau lưng và làm sao ngừa và trị nó.  Nhiều năm nay tôi có tập yoga và hiện nay đã học và lấy được chứng chỉ dạy và đang dạy yoga ở YMCA gần nhà nên cũng đủ hiểu biết để tin rằng yoga có thể giúp được trong việc này.  Do đó tôi đã tập trung nghiên cứu trong các sách báo về yoga cũng như về y khoa.

 

Tại sao lưng đau?

Nhìn vào hình vẽ của một bộ xương người, ta không khỏi ngạc nhiên là con người lại đi thẳng đứng được.  Nó như là một tòa kiến trúc cao với một khúc giữa mỏng manh chống đỡ một khúc trên đồ sộ nặng nề.  Tệ hơn nữa, lại có hai cánh tay dài luôn luôn tìm nâng, kéo những vật nặng!  Đứng về mặt công nghệ thì đây là một thiết kế rất dở!  Bước đi trên cả bốn tay chân -như thú vật- có lẽ là hợp lý hơn!  Và đi xe đạp có lẽ là tốt cho lưng mình—và cho môi sinh—hơn là ngồi lái xe!

Vậy thì tại sao đau lưng?  Sách về cơ thể học nói nhiều đến các đĩa liên sống (inter-vertebral dísks).  Đây là những đĩa sụn-xơ dẻo nối bất kỳ hai đốt sống nào liền nhau trong cột xương sống. White (1983) diễn tả nó như “gồm những sợi và sụn chắc bền với  phần giữa đĩa gồm một chất dẻo như jelly, giống như một bánh doughnut có nhân dẻo”.  Các đĩa liên sống chiếm một phần tư tổng chiều dài cột sống và hoạt động như một bộ phận giảm sốc (shock absorber.)  Như mọi mô tế bào khác trong cơ thể, các đĩa này là những tế bào sống, cần chất dinh dưỡng và cần bài tiết chất thải.  Vấn đề là ở đây không có mạch máu.  Theo Coulter (2001), các chất dinh dưỡng được “thu nhập” vào các đĩa này từ những cơ thể cột xương sống chung quanh, nơi có nhiều mạch máu chạy vào.  Quá trình thu nhập này người ta chưa biết rõ lắm, chỉ biết là trong những đĩa tốt thì có tới 70-80% chất lỏng và rằng cột xương sống thì ngắn hơn về ban ngày và trở nên dài hơn về ban đêm.  Từ những sự kiện này, Coulter cho rằng ban ngày khi các đĩa này bi ép lại bởi trọng lực và các bắp thịt thì các chất lỏng bị đẩy ra, và ban đêm khi nghỉ ngơi thì các đĩa nở ra, từ đó chất dinh dưỡng được hấp thụ vào và đĩa được bồi bổ trở lại.  Điều này giúp giải thích lý do các tài liệu y khoa đã viết là một trong những cách trị liệu hữu hiệu nhất cho bệnh đau lưng nặng là nằm nghỉ trên giường trong hai tuần lễ.  Chính tôi đã làm như vậy khi tôi bị cụp lưng cách đây đã lâu và nhờ vậy mà lành!

Khi ta còn trẻ -và chưa hiểu biết nhiều- ta dễ lạm dụng các đĩa liên sống này, làm cho vòng ngoài của đĩa yếu đi và chất dẻo ở trong rò ra.  Tuổi già và sự thiếu dinh dưỡng cũng làm cho vòng ngoài bớt tính đàn hồi và ruột dẻo ở trong khô đi.  Khi đĩa bị thoái hóa tới nỗi nó chạm tới giây thần kinh (chạy trong phần rỗng tạo bởi các khúc xương sống) thì ta bị đau lưng.  Đặc biệt là phần eo lưng (lumbar) dễ bị nhất.  Ở đây, các đĩa liên sống và các đốt xương sống được giữ chặt lại với nhau bởi cả một hệ thống dây chằng và bắp thịt.  Như trên đã nói, thiết kế công nghệ của bộ xương người xem ra không được hoàn mỹ cho lắm.  Khi ta nâng một vật lên với một cánh tay đưa thẳng ra thì lực tác động vào các đĩa liên sống đươc tăng lên gấp bội phần so với trọng lượng của vật vì nó cần phải đươc quân bình bởi các bắp thịt và giây chằng nằm sát bên xương sống.  Đó là luật của Vật Lý Học.  Theo White, khi ta có động tác xoay vẹo lưng mạnh, nhất là trong khi đang nâng vật nặng, thì không những các đĩa bị hư hại mà các dây chằng và bắp thịt lưng cũng có thể bị rách hay giãn ra.  Khi đó thì những đĩa thoái hóa có thể chạm vào giây thần kinh khiến cho những tín hiệu đau được chuyển ngay tới các bắp thịt bên cạnh khiến chúng  trở nên cứng hay co thắt lại làm cho ta đi đứng vẹo vẹo buồn cười!  Chính tôi cũng đã bị như vậy nhiều lần.

Tóm lại, ba nguyên nhân chính gây nên thoái hóa đĩa và giãn dây chằng trong vùng ngang lưng là:  sự lạm dụng cột xương sống, sự thiếu dinh dưỡng cho các đĩa liên sống, và cuối cùng, tuổi già.

 

Làm thế nào để trị và ngừa đau lưng?

Trong ba nguyên nhân đó thì ta không làm gì được với nguyên nhân thứ ba, tuổi già, nếu hiểu nó là số năm ta đã sống.  Tuy nhiên, cái già có thể có nhiều định nghĩa khác—ngoài đề tài của bài này—mà ta có thể ảnh hưởng được qua tác động lên  hai nguyên nhân đầu.

Trước hết, để ngăn ngừa sự lạm dụng các đĩa liên sống, ta phài luôn luôn cảnh giác trong mọi hoạt động hàng ngày.  Trong các sách báo, tạp chí, người ta nói nhiều đến những điều nên và không nên làm.  Ví dụ nên bơi nhiều (nhưng đừng bơi bướm—butterfly—vì dễ đau lưng), nên ngồi thẳng trên ghế có chổ dựa lưng ngang hông, khi nâng vật nặng thì nên giữ nó sát bụng, v.v..  Vấn đề là ta không luôn luôn nhớ tới những lời khuyên đó, nhất là trong khi đang chơi thể thao!  Đó là trường hợp tôi khi còn trẻ!  Bây giờ thì tôi luôn mang nịt bao lưng khi chuẩn bị làm việc nặng, nhiều khi chỉ là để nhắc nhở tới sự mỏng manh của cái eo lưng để đừng lạm dụng nó. 

Thứ hai là việc bồi bổ dinh dưỡng cho các đĩa liên sống.  Tôi đã tập yoga nhiều và thấy rằng có một số động tác và thế của yoga giúp ích rất nhiều cho việc này.  Hơn nữa, nó còn giúp tăng cường sức mạnh các bắp thịt và dây chằng quanh eo lưng và giúp cho xương cứng hơn. Tất nhiên khi đĩa đã suy thoái rồi thì cơ thể phải mất thời gian để bồi bổ nó lại.  Cho nên ta cần phải kiên trì trong việc này.

Cuối cùng lại thì tôi tin là một chương trình tập thể dục và một chế độ ăn uống tốt đề giữ cho người vừa gọn và khoẻ mạnh là hay nhất.  Chế độ của tôi hiện nay là hằng ngày bơi ít nhất là nửa giờ (nhờ vậy mà năm ngoái tôi thi bơi và đứng hạng 8 toàn nước Mỹ trong môn bơi nhái--breast stroke--50 mét, hạng tuổi 60-64) và tập yoga, cũng hằng ngày nếu có thể được.  Lưng của tôi hiện nay khoẻ, nhưng tôi không dám lạm dụng nó như hồi còn trẻ nữa.  Mình lớn rồi và biết nhiều rồi!

Muốn có một chương trình tập yoga phù hợp với sức khoẻ của mình thì hay nhất là phải có một người thầy dạy yoga tốt.  Với những người bị chứng đau lưng kinh niên,  tôi chỉ xin đưa ra vài lời khuyên sau đây:

  • Sáng sớm, khi mới tỉnh dậy và còn nằm trên giường, làm những động tác sau đây cho dây chằng và bắp thịt quanh lưng chặt lại và để chuẩn bị các đĩa liên sống cho một ngày mới:  Bắt đầu thở kiểu yoga (tiếng Sanskrit là ujjayi) thật dài hơi.  Khi thở vào thì gồng tất cả các bắp thịt, tay, chân, và cong lưng, ưỡn ngực lên.  Khi thở ra thì hạ lưng xuống, khóa chặt bụng dưới (core lock) và uốn xương cùng (tail bone) lên.  Làm như vậy vài lần.  Xong, làm thế cầu (Bridge Pose—Setubandha Sarvangasana).  Sau đó làm vài thế uốn lưng nhẹ nhàng (Reclining Spinal Twist—Jathara Parivartanasana) trước khi bỏ hai chân xuống giường và chống tay ngồi dậy.  Khoan tập những cử động mạnh trước khi cột xương sống đã được chuẩn bị cho rắn mạnh, sẵn sàng, ít nhất là hai tiếng đồng hồ sau khi ngủ dậy, theo ý kiến của White.  Điều quan trọng cho người yếu lưng là luôn luôn phải chú trọng tới việc sắp thẳng hàng (alignment) những đường nét của cơ thể mình:  lưng, vai, cổ, v.v..
  • Khi vào tập yoga thì tất nhiên ta phải chọn lớp cho phù hợp với khả năng của mình.  Đừng sợ là ta sẽ phải cố gắng vắt chân lên cổ như trong các hình vẽ về yoga!  Nói chung, cái hay của yoga là nó có nhiều thế có thể giúp kéo giản các bắp thịt bị co lại, tăng lưu thông máu, tăng độ dẻo và sức mạnh các cơ và dây chằng, tăng độ cứng của xương và làm các khớp bớt cứng đi.  Riêng về việc tăng sức cho phần sống lưng và bồi bổ các đốt liên sống, sau khi gom góp ý kiến các sách nổi tiếng về yoga, tôi đề nghị dùng thêm các thế sau đây:  Thế nằm đầu gối lên ngực (Reclining Knee-To-Chest Pose--Eka Pada Supta Pavanmuktasana), thế nằm cầm ngón chân cái (Reclining Big Toe Pose--Supta Padangusthasana), thế chó nhìn lên (Upward-Facing Dog Pose--Urdhva Mukha Svanasana), thế chó nhìn xuống (Downward-Facing Dog Pose--Adho Mukha Svanasana), thế đứng dạng chân gấp người (Standing Spread Leg Forward Fold--Prasarita Padottanasana), các thế vặn xương sống khác nhau (Spinal Twist poses), các thế núi đứng (Mountain Pose--Tadasana) khác nhau, thế tam giác đứng (Triangle Pose--Trikonasana) và những biến thế của nó.  Những thế này các thầy dạy yoga đều biết và các sách như của Iyenga (1977, 2001), Sparrowe và Walden (2002) đều có chỉ dẫn rõ ràng.

Để kết luận, tôi chỉ muốn nói thêm là trong bài này tôi chưa nói gì tới các lợi ích khác của yoga trong việc giúp cho tinh thần mình được yên tĩnh nhờ đó ta có được những giấc ngủ thật êm, đời sống thoải mái, cái già trốn xa...

Nguyễn Tranh Chiếu, Ph.D., CVA 1959

New Jersey, tháng 10 năm 2004

 

Tham Khảo

Coulter, H. David.  Anatomy of Hatha Yoga:  A Manual for Students, Teachers, and Practitioners.  Honesdale, PA, USA:  Body and Breath, 2001.

Iyengar, B. K. S.  Light on Yoga.  Revised Edition.  Schocken Books, 1977.

Iyengar, B. K. S.  YOGA, The Path To Holistic Health, A Dorling Kindersley Book, 2001.

Sparrowe, Linda and Walden, Patricia.  The Woman’s Book of Yoga and Health:  A Lifelong Guide to Wellness.  Shambhala, Boston & London, 2002.

White III, Augustus A., MD.  Your Aching Back.  Simon & Schuster, 1983.

           

PS.  Bản tiếng Anh của bài này được đăng trong website http://ww.highlandyoga.com, của Highland Yoga, nơi tôi học và lấy được chứng chỉ dạy yoga.

* * *

 

 

QUỲNH HOA

CVA Đàm Trung Phán

 

Em đến giữa đêm khuya
Tự cõi nào , Em về ?
Em hiện thân Lan-Huệ
Đưa ta vào Đam Mê .

Cớ sao tình nở muộn
Vài tiếng chẳng là bao
Thịt da Em ngọt ngào
Vội chào, Em vĩnh biệt !

Ta ngồi đây thương tiếc
Thật , Giả , hay Hư Vô ?

* * *

 

Ông Trời dốt tiếng Việt

Lý kế Duy (CVA 71)

     

            Chung cư 'Green Oak' tọa lạc trên một con đường lắm xe, không lớn lắm, khoảng chừng 200 căn, chỉ bằng một phần ba các chung cư tọa lạc kế bên. Nhưng đặc biệt hầu hết người mướn là người Việt. Vài năm trước nơi đây chỉ lác đác một vài đầu đen nhưng với sự phát triển của khu thương mại Việt Nam ở cuối phố người Việt ùn ùn kéo về và chẳng mấy chốc tràn ngập chung cư. Chung cư 'Green Oak'  có lối bố trí rất khéo, các hộ hai tầng được xây xoay quanh, đâu mặt vào nhau. Ở giữa là sân cỏ với ba cây sồi lớn che rậm rạp sân chơi của trẻ con với những nhà gỗ và cầu tuột cùng giây đu. Bên ngoài, ngay cạnh tường trái có một sân quần vợt. Đặc biệt là lầu hai có ban công chung cho tất cả các nhà, thành thử con nít có thể chạy trên ban công từ nhà này sang nhà khác mà  không phải xuống tầng trệt như những chung cư khác. Nơi đây lại cho giữ thú vật thả dàn, rất hợp với người Việt mặc dù giá có hơi đắt hơn những những chung cư kế cận đôi chút.

Chỉ một tuần sau khi Sáu Mén dọn vào chung cư,  cô Liễu, ở lầu hai ngay trên đầu gã, bị mất con chó vàng. 'Nhất mực nhì vàng tam khoang tứ đốm', cô Liễu nhất định con chó mình bị lão Ức dưới lầu ở cạnh phòng Sáu Mén bắt làm thịt. Lời buộc tội lúc đầu xem ra không có căn cứ nhưng đi sâu vào chi tiết có nhiều lý do vững chãi.

Lão Ức người quê Hưng Yên, sang Mỹ năm 1998 từ miền Bắc chứ không phải vượt biên từ miền Nam như nhiều người khác.  Lý lịch lão rất mù mờ. Có người đồn lão là dân nằm vùng. Kẻ khác nhất định lão là người của 'Xịa'. Riêng lão, lão bảo ông tổ lão tên Xu, ông cố tên Hào. Đến đời cha của lão là ông Đồng thấy nhà cứ nghèo mãi nên đặt tên cho cô con gái và ba thằng con trai là Ngàn, Vạn, Triệu và Ức. Lão rất tự hào về quê hương của lão, và xem ra lão có vẻ rất thích thịt chó. Có lần nhậu say lão nạt ông Thiềm ở cùng chung cư là “mấy ông chỉ cường điệu, quán Sống Trên Đời của mấy ông làm chó gì bằng mấy gánh hàng bán thịt chó trên đê Văn Giang của tôi ngoài Bắc. Rựa mận, chả chìa, dồi chó... ông muốn thức nào cũng có". Hôm bà Xuyến làm tiệc mừng đứa cháu ngoại đầy tháng nhìn thấy món giả cầy lão Ức nói ngay:

- Việc gì phải làm giả cầy. Sao không làm thịt chó thật có ngon hơn không?

Bà Xuyến cười:

- Bên này chứ có phải Việt Nam đâu, thịt chó đâu ra mà làm?

Lão Ức cười khà khà ra vẻ kẻ cả:

- Bà không biết chỗ mua thôi chứ đây thiếu gì, gà đi bộ, thịt chó thịt dê đủ cả.

Cô Liễu không có mặt trong buổi tiệc nhà bà Xuyến nhưng được chị Kim Nga kể lại đầy đủ chi tiết. Chị Kim Nga còn nhấn mạnh:

- Em thấy thằng chả rỡn với con Vàng hồi hôm qua, cho nó ăn nữa. Phải tới đòi ngay lại, nếu cần thì xuống nước năn nỉ hoặc trả tiền chuộc, để lâu họ làm thịt mất. Hồi xưa nhà em gần lò heo Chánh Hưng em biết rành họ chỉ giữ chó trong vòng mấy hôm, nuôi cho mập đúng tiêu chuẩn rồi làm thịt.

Không cần để ý tới lời nói có điểm vô lý của chị Kim Nga - lò heo mà lại làm thịt chó - cô Liễu đùng đùng sang nhà lão Ức đòi chó. Lần đầu cô nén giận chỉ hỏi dò:

- Con chó Vàng của tôi ông có giữ không?

- Giời ơi, cái cô này lẩn thẩn nhỉ? Chó của cô thì cô giữ chứ tôi làm sao mà biết được?

- Ông hay chơi với nó, không lẽ nào không biết nó thất lạc đâu?

- Thì chính tôi cũng tự hỏi mấy hôm nay không thấy nó đâu

Lần thứ hai cô sang vẻ mặt thiểu não hơn, xuống nước năn nỉ lão:

- Ông làm ơn trả con Vàng lại cho mẹ con tôi, tốn bao nhiêu tôi xin chịu.

- Ơ hay cái cô này lạ quá, tôi có lấy đâu mà bắt tôi trả chứ?

Chuyện cô Liễu mất chó truyền nhanh như điện trong chung cư. Chung cư chia làm hai phe, một phe ủng hộ cô Liễu, phe kia ủng hộ lão Ức, cãi nhau như mổ bò trên hành lang gần sân chơi trẻ con. Có người trong phe ủng hộ cô Liễu phát biểu:

- Lão Ức không lấy thì còn ai vào đây? Lão quanh quẩn chơi với con chó cả ngày. Đến lúc nó mất không hỏi thăm lấy một tiếng. Đáng nghi lắm

Phe kia phản đối:

- Bên Mỹ này chứ có phải Việt Nam đâu mà luật rừng. Ai cũng vô tội trước khi bị kết tội.

Thằng Phúc con bà Lan Huệ đứng gần đó chêm tiếng Mỹ vào để mọi người hiểu rõ:

- Du a ì-nó-sân ân-tin pu-vân ghiu- ti (*)

Ông Thiềm - làm nghề bảo vệ an ninh  cho một nhà hàng Trung Hoa dưới phố, lúc nào cũng diện đồng phục uy nghiêm như Tưởng giới Thạch - bực mình gắt:

- Luật lệ cái chó gì. Luật lệ càng lắm càng nhiều trộm cướp chứ hay ho gì.

Ông tiếp:

- Tôi vừa mới đi hầu tòa về, nhìn mặt thằng bị can biết ngay là ăn cướp. Tôi như ông tòa bỏ tù liền lập tức, việc gì mà phải lôi những mười hai người ra làm bồi thẩm đoàn bàn quanh bàn co cho lôi thôi. Mà lại mệt nữa, đi cả ngày được trả có sáu đồng. Bên này lắm thằng ngu không chịu được.

Rồi ông trở về đề tài chính:

- Không luật lệ lôi thôi gì hết, nắm cổ lão Ức ra đây hỏi xem lão có lấy con chó không, nếu không thì phải chứng minh ngày hôm ấy lão ở đâu!

Một người khác đốc:

- Suya là luý rồi, sà lù, moa đề nghị phải xét fri gi đe nhà luý.

Nói thì nói vậy nhưng không ai dám xô cửa nhà lão Ức hỏi tội vì có người nói bên đây ngay như cảnh sát có muốn vào nhà dân cũng phải có trát tòa, người khác bảo lão có súng. Có người gõ cửa nhà Sáu Mén hỏi thăm hy vọng gã có thêm chi tiết về lão Ức nhưng Sáu Mén đã đi làm từ sớm.

Nguyên một tuần trôi qua Sáu Mén sốt ruột thấy ngày ngày cô Liễu và thằng Bi con cô ra vào khóc lóc ủ dột như nhà có tang. Hắn để tâm theo dõi lão Ức, đồng thời chạy sang những khu lân cận xem con chó có đi lạc không, nhưng hơn một tuần trôi qua vẫn không thấy kết quả gì.

Trong khi đó chuyện lại chuyển sang một khúc quanh mới. Không biết lão Ức điều tra ở đâu mà biết đươc chị Kim Nga vu oan cho lão, đặt điều nói với cô Liễu để trả thù tội lão trêu chị là loại gái 'ăn ngửa' lúc trước. Chuyện này nguyên do như sau:

Chị Kim Nga nhân chuyến về thăm Việt Nam năm ngoái  có ghé một viện thẩm mỹ ở Sài gòn để 'nâng cấp' bộ ngực. Thực ra chị Kim Nga nhan sắc cũng dễ coi và ngực theo tiêu chuẩn Á Đông cũng không đến nỗi nào nhưng theo chị thì “rẻ quá mà, không sửa cũng uổng”. Sau khi trở lại Mỹ độ một tuần chị Kim Nga gặp lão Ức ở  phòng khách của chung cư. Chung cư có một phòng tiếp khách lớn cạnh văn phòng điều hành và hộp thư, dùng để tổ chức những tiệc tùng có đông người.  Phòng có một cái truyền hình loại lớn. Lão Ức đã về hưu, rỗi rảnh hay ra đó ngồi coi đô vật và nhất là đô vật nữ, Women Wrestling. Chị Kim Nga cũng hay tạt qua phòng để lấy thư khi chồng đi làm. Chị khó chịu vì lối nói thánh nói tướng của mấy thằng đô vật mập địt cộng thêm lối ồn ào của lão Ức nên đôi lần chị nói xấu lão với mấy người quen:

- Thằng chả già rồi mà không nên nết. Coi toàn cái thứ gì đâu. Mà có máu dê nữa, mỗi lần thấy tui đi ngang là soi mắt vào ngực tui.

Lần đó sau khi sửa ngực về gặp lão đang coi đô vật nữ chị ngứa miệng nói :

- Đổi đài khác đi, con gái gì mà vật lộn như con trai lại hở ngực hở mông ra khó coi quá hà!

Lão Ức từ lâu nghe chị Kim Nga nói xỏ xiên sau lưng mình thì vốn đã tức ngầm, nay nhân cơ hội ỡm ờ:

- Nhưng mà người ta người thật của thật chứ làm gì có cái loại 'ăn ngửa'.

Chị Kim Nga biết là lão nói móc mình nhưng không hiểu 'ăn ngửa' là gì nên không có phản ứng, đành nhịn về hỏi chồng là anh Tư Hí. Anh Tư Hí tên thật là Cương, tên Mỹ là Mai cồ (Michael) làm chuyên viên cho vay tiền ở một văn phòng tài trợ địa ốc dưới phố. Anh Tư Hí vốn gốc dân Chu văn An. Khi xưa học hết tiểu học ở Cần Thơ gia đình anh dọn lên Sài Gòn và anh thi đỗ ngay vào Chu văn An, bấy giờ là một trường công lập nổi tiếng nhất Sài Gòn. Anh thường nói nhiều câu thật thà làm mất lòng nhiều người, như: ‘Tui thi đỗ vô Chu văn An chớ hổng phải được đưa vô như mấy thằng khác, nhứt là mấy thằng con ông cháu cha’. Anh chỉ học được đến hết đệ lục thì phải di tản sang Mỹ. Tuy chỉ vọn vẹn sinh hoạt với dân Chu văn An có 2 năm nhưng anh Tư Hí đã học được hầu hết những đức tính đáng quý của dân trường này. Hai trong số những đức tính đó là tính chủ hoà đối với mọi người và tính chung tình với vợ. Cô Liễu nhiều lần nghe chị Kim Nga than là “tối nào ảnh cũng đòi mà em đâu có cho. Lâu lâu một lần mới quý”. Cô Liễu goá chồng mấy năm nay nghe xong chỉ thở dài trách ông trời bất công (thực ra cô Liễu không biết rằng chẳng phải riêng gì anh Tư Hí, dân Chu văn An hầu như người nào cũng rất kinh nghiệm và bền bỉ trong vấn đề gối chăn). Tối hôm đó anh Tư Hí nghe vợ hỏi mặt nghệt ra, ngẫm nghĩ một hồi rồi nhảy tưng tưng cười cười hô hố:

- Hay thiệt, lão này này thâm thiệt chớ hổng chơi.

Rồi anh giả bộ đổi giọng Bắc kỳ cười lớn:

- Nhưng tớ là dân Chu văn An làm sao mắc ‘miu’ lão được!

Chị Kim Nga cứ đòi anh giảng nhưng anh từ chối sợ chị giận. Sau cùng chị doạ tối nằm không cho anh 'đòi' nữa anh mới chịu giảng cho chị:

- ' Ăn' tiếng Tàu là 'xực', 'ăn ngửa' là 'xực ngửa', nói lái là 'sửa ngực'

Chị Y dậm chân kêu 'trời' đòi anh ra táng cho lão Ức một bạt tay nhưng anh tư Hí cười lớn:

- Dượng Ức nói trúng chớ đâu có sai mà em cự. Mình sửa thì sửa chớ sao bằng được tụi Mỹ.

Rồi anh hôn chụt chụt lên má chị ca:

Người ta đi sửa lấy công,

Còn em đi sửa cho chồng em thương

Chị Kim Nga đỏ mặt đẩy anh ra la lớn:

- Quỷ nà, quỷ nà, quỷ bắt anh đi!.

Bị lão Ức chơi xỏ một vố đau chị ấm ức trong lòng từ nửa năm nay. Nhân chuyện con chó bị mất, lại thấy rõ ràng lão Ức vờn vẽ với nó ngày hôm trước chị xúi cô Liễu sang đòi chó nhà lão. Về phần lão Ức cả tuần nay ra vào đều bị người ta nhìn như tội phạm, có đứa còn doạ báo cho hội bảo vệ thú vật, nên sau khi điều tra biết chị Kim Nga vu cáo mình lão đến đập cửa gọi chị  ra mắng:

- Đứa nào đặt điều nói điêu với cô là tôi bắt con chó hả. Nói ra ngay tôi sẽ xử lý tại chỗ!

Chị Kim Nga là người gốc miền Nam nghe không hiểu 'điêu' nghĩa là gì lại càng không rõ 'xử lý' là chi. Chị đang phân vân không biết nói gì thì anh Tư Hí nghe thấy to tiếng chạy ra giảng hoà. Không cần biết vợ có lỗi hay không anh  cũng nhiệt tình xin lỗi và bảo lão Ức:

-  Dượng cháu mình ra quán cà phê nhậu cho vui, để tui bao dượng một chầu

Đến quán cà phê nhậu ngà ngà say anh khề khà ghé tai lão nói nhỏ:

- Dượng với tui chỗ thân tình, nói thiệt tui không cự nự gì ráo đâu.

Anh dừng lại nheo mắt nhìn lão:

- Dượng có làm thịt con chó thì bí mật hú tui một tiếng. Lâu ngày không đớp thịt chó thèm quá, nhứt là cái món rựa mận

Chưa dứt câu lão Ức đã tái mặt đập bàn quát lớn:

- Thế ra mày cũng nghi tao ăn trộm con chó à. Đeo mẹ chúng mày cá mè một lũ. Ông bức xúc quá rồi, ông gọi công an xử lý chúng mày!

Chợt nhớ đây là nước Mỹ, làm gì có công an, lão hậm hực đứng lên quay ngoắt ra về, bỏ lại anh Tư Hí, ngạc nhiên không hiểu sao lão giận mình đến vậy. Sáu Mén tình cờ hôm đó cũng có mặt ở quán chạy lại định can nhưng lúc sang lão Ức đã bỏ về.

Cứ như vậy mấy tuần liền gặp cái mặt đưa đám của cô Liễu với cái nhìn oán hờn len lén tránh lão như tránh ăn cướp lão Ức khó chịu nổi gai cùng mình nhưng không biết làm sao hơn.

Chuyện con chó Vàng mất tích tưởng bế tắc như hoà bình Trung Đông ai ngờ một hôm Sáu Mén đi bộ sang chung cư bên cạnh thăm bạn, tình cờ thấy một xe bắt chó chạy ngang. Gã đập tay vào đầu mấy cái rồi chạy về nói với cô Liễu:

- Hay là cô gọi điện thoại cho sở thú vật coi sao, biết đâu con Vàng nằm trong đó.

Cô Liễu nói tiếng Mỹ không rành, phải nhờ chị Sương làm nghề y tá gọi dùm. Y như Sáu Mén đoán, con Vàng chạy rông ngoài đường bị xe bắt chó câu về. Cũng may cứu con chó kịp thời, để thêm một tuần nữa là người ta cho vô phòng hơi ngạt giết. Con Vàng được thả ra, tiền phạt là 90 đô cho ba tuần nằm trong đó. Chị Kim Nga đi quyên cả xóm mỗi người chung một đồng giúp cô Liễu. Việc này lại gây ra tranh cãi sôi nổi:

- Bỏ chó chạy rông thì xuất tiền ra mà trả chớ sao bắt người khác trả

- Theo tui nghĩ thì con Kim Nga vợ thằng Tư Hí phải xì tiền ra mà trả cho cô Liễu

- Moa thì moa đề nghị tiền quyên được ca đô cho me sừ Ức mới phải, luý mới chính là nạn nhân trong ca này

- Quyên, cái gì cũng quyên! Đẻ cũng quyên, chết cũng quyên, mưa cũng quyên, nắng cũng quyên. Bây giờ mất chó cũng quyên. Ông tức ông đếch cho đồng nào!

- Lá lành đùm lá rách mấy ông ơi. Cúng cho sòng bài mấy trăm thì không sao, cho người nghèo khó có một đồng mà cũng nói cạnh nói khoé.

- Bà nói ai nói cạnh nói khoé? Tôi nói thẳng vào mặt nó chứ việc chó gì phải nói cạnh nói khoé!

- Đeo, cho thì cho, không cho thì thôi, việc gì phải cãi nhau. Tiền cho có khai tax được không mới là vấn đề chính...

Mỗi người một câu, năm người mười ý nhưng rồi tiền cũng quyên được khá. Sau khi nộp phạt còn thừa mười hai đồng cô Liễu mua một cái xích chó bằng da giả cột vào cổ con Vàng. Con chó mấy tuần ăn đồ Mỹ lại gặm xương nhựa ớn tận cổ nay thấy xương phở nó mừng vừa gặm vừa quậy đuội nghe phật phật. Con Vàng sống sót trở về thằng Bi con cô Liễu còn mừng hơn cô, nó ôm lấy con chó lăn lộn trên bãi cỏ. Nhưng người mừng hơn cả là lão Ức. Từ đây lão thoát khỏi cái tộị bị người ta dòm ngó coi như tử tù. Cô Liễu làm thạch lá dứa sang biếu lão để tạ lỗi nhưng lão vẫn không nguôi giận mặc dù đã một mình ăn hết hai đĩa thạch lớn. Lão tức lắm, ở Việt Nam lão từ bé đến lớn lão bị xử ức chưa đủ, từ ngày đến đây đứa coi lão như dân nằm vùng, kẻ coi như CIA, rồi lại bị nghi ăn trộm chó.

Một sáng sớm mùa xuân trời mát lão Ức đi dạo quanh chung cư. Nhìn những tia nắng xuyên qua cành lá rậm rạp của những cây sồi lão chợt khám phá ra một chân lý: rằng ông trời không công bằng sáng suốt như người ta nghĩ. Ông bố đặt tên lão là Ức để mong trời cho lão giầu sang, hàng vạn hàng ức tiền đổ đi không hết. Ai ngờ ông Trời dốt tiếng Việt để lão chịu bao điều oan ức từ tháng này sang năm khác...

Lýkế Duy (CVA 71)

                                               

 (*) You are innocent until proven guilty

* * *


Một Mình Hai Mình

 

  Một buổi chiều                      Bạn đi hết  

               Như mọi ngày                      Họ mất việc

  Tôi ngồi đây                          Họ về hưu.

               Nhìn sự vật.                          Một mình tôi 

               Chỉ mình tôi                         Trao lại hết 

               Một mình ngồi                      Công việc trường.  

               Một mình nghĩ.                     Đời chuyển hướng 

               Hai con tôi                           Đi về đâu?  

               Đã lớn rồi                            Hồn sao đau  

               Cuộc đời tôi                         Một mình tôi 

               Tạm là xong.                        Chấp nhận hết.  

               Mình tôi biết                         Đời nhọc nhằn 

               Buồn vời vợi.                        Tới đoạn kết?  

               Sợi chỉ hồng                         Tới hồi vui 

               Buộc đời tôi                          Em ngủ vùi 

               Không còn nữa.                   Hãy tỉnh giậy 

               Bỏ nhà cửa                           Hãy đến đây  

               Sống một mình.                    Tôi đang đợi. 

               Những bình minh                 Đi cùng tôi       

               Những đêm tĩnh                   Đời còn lại.      

               Chỉ một mình                       Ta sẽ hết           

               Ngồi đọc sách                      Khoảng đời buồn. 

               Đi bách bộ                           Ta luôn luôn     

               Trong lặng thinh.                 Thương nhau mãi.       

               Lại một mình                                   

               Buồn vời vợi                        

               Hồn chơi vơi.                                  

               Một mình ngồi                      CVA Từ Sơn 

               Phòng làm việc                    Tháng 5 , 1997 

               Department chết.                  Seneca College, Canada 

* * *

 

 

CHỮ TÂM KIA MỚI BẰNG BA CHỮ TÀI

 CVA Ðàm Trung Phán

 

Khi còn học Trung Học, tôi rất thích mấy câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du:

“Có tài mà cậy chi tài,

Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Ðã mang lấy Nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì “

Thú thực là hồi đó, tôi chỉ cảm nhận thấy rằng tôi rất “gần gũi” với những câu thơ này nhưng thực sự tôi chưa thật thấu hiểu và cho đến  bây giờ với những kinh nghiệm đã sống trên 60 năm cuộc đời, tôi mới thấy “thấm” được ít nhiều những gì mà Cụ Nguyễn Du đã viết.

Tôi đã khôn lớn, ra trường rồi đi “vật lộn” với cuộc sống. Trong đời đi dậy, tôi đã có cái may mắn được gặp rất nhiều học trò thuộc các mầu da, tôn giáo và tuổi tác khác nhau để tôi quan sát và học hỏi từ chính họ. Hai đồng sự Canadian và tôi thường hay bàn cãi với nhau về nhiều đề tài khác nhau, nhất là những đề tài liên quan tới vấn đề Giáo Dục.  Chúng tôi cùng dậy trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại một Community College ở Canada, vì vậy mà chúng tôi đã từng dậy chung một số sinh viên trong những môn học khác nhau . Học lực và hạnh kiểm của học trò do đó mà chúng tôi cũng đều biết rõ. Thoạt đầu, chúng tôi lấy làm ngạc nhiên thấy một số học trò khi còn đi học đã được điểm rất cao nhưng sau khi ra trường và đi làm, họ lại rất là lẹt đẹt trong vấn đề “thăng quan tiến chức”, không những như vậy mà một số còn bị mất việc luôn. Tôi còn nhớ rõ khoảng đầu thập niên 80, có một anh chàng - tạm gọi tên là Les Hart - hay vặn lý sự với tôi là tại sao anh ta lại mất điểm (nhỏ thôi) trong các bài Assignments. Tôi đã giải thích cặn kẽ và cho hắn coi các “solution with marking scheme” của tôi. Chứng nào, tật nấy, một hôm tôi đang bận giảng bài trong lớp, anh chàng còn gây sự và to tiếng với tôi về cái vụ mất điểm. Tôi ngưng việc giảng bài và tôi “giảng” cho anh chàng một bài học về cách xử thế. Tôi nói:

-         Nếu “you” không thay đổi được cái thái độ của “you” khi cư xử với những người xung quanh “you”, tôi sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy “you” bị “fired” khi you đi làm! Tôi không chịu nổi cái tính hay bắt bẻ và thích ăn người của “you” lắm rồi!”

Khi tôi nói xong, tôi không ngờ cả lớp đều đứng lên vỗ tay đôm đốp và sau giờ học, một vài sinh viên ở lại lớp và nói với tôi:

-         Well said and thank you, Sir!

Họ còn cho tôi biết là anh chàng Les Hart này đã từng “làm mưa, làm gió” với các vị giáo sư khác và làm mất thì giờ của các đồng môn trong giờ học.  Hai năm sau khi Hart đã ra trường, một người học trở về lại trường thăm chúng tôi và anh ta cho biết:

-         Thầy biết không? Ðúng như lời Thầy nói ở trong lớp, Les Hart đã cùng làm chung tại Office với em nhưng đã bị Boss cho nghỉ việc rồi vì cả sở không ai chịu nổi được với hắn. Thật là tiếc, Thầy ơi vì Les nó rất thông minh nhưng lòng dạ lại chẳng ra gì!

Tôi nghĩ ngay đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:

Có tài mà cậy chi tài,

Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Ba đồng sự chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi học trò từ lúc họ còn đi học cho tới khi họ ra đời làm việc. Thế rồi, đầu thập niên 90, chúng tôi rất vui thú được đọc trên tờ Time Magazine một bài viết về “Emotional Intelligence” (EQ) mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Xúc Cảm ” (để đối nghịch lại với “Intelligence Quotient”, IQ, mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Trí Tuệ”).

Vậy thì Thông Minh là gì?

Theo tự vị Encarta, “Thông Minh” là danh từ mô tả khả năng của Trí Tuệ về lý luận, về giải quyết các vấn dề, về lối suy nghĩ trừu tượng, về học hỏi và hiểu biết những thứ gì mới lạ cũng như biết rút tỉa từ những kinh nghiệm (Intelligence: term usually referring to a general mental capability to reason, solve problems, think abstractly, learn and understand new material, and profit from past experience).

Các nhà trường ngày xưa thường đánh giá rất cao và chú trọng đến IQ trong các địa hạt của khả năng sinh ngữ (linguistic), lý luận (logical), toán học (mathematical). Giáo Sư Howard Gardner trong Phân Khoa Giáo Dục của Ðại Học Harvard cho rằng con người còn có những tài năng (gifts) khác như tài năng sáng tác của các nhà văn, kiến trúc gia, nhạc sĩ, người sáng tạo kiểu mẫu (designers), vũ công (dancers), người buôn bán (entrepreneurs), hay là bất cứ tài năng nào để giúp cho đời sống con người được hoàn mỹ hơn.

Năm 1983, GS Gardner đã là người tiền phong về Multiple Intelligences (tạm dịch là “Thông Minh Ða Dạng”). Ông nêu ra 8 chiều thông minh hay tài năng dưới đây:

-         Tài năng về Ngôn Ngữ (Linguistic Intelligence): Năng khiếu về ngôn ngữ, viết lách

-        Tài năng về Lý Luận-Toán Học (Logical-Mathematical Intelligence): Năng khiếu về phần các con số -lý luận, toán học .

-         Tài năng về Không Gian (Spatial Intelligence): Năng khiếu về hình ảnh và hội họa

-         Tài năng về các động tác động chuyển của thân thể ( Bodily-Kinesthetic Intelligence): Năng khiếu về các động tác của chân tay, chạy, nhẩy …

-         Tài năng về âm nhạc

-         Tài năng về cách xã giao (Interpersonal Intelligence) : Khả năng biết cách đối xử với người khác (people smart)

-         Tài năng Nội Xét (Intrapersonal Intelligence): Khả năng về biết cách tự đương đầu với nội tâm và cách suy diễn từ nội tâm (self smart)

-         Tài năng hiểu biết về Thiên Nhiên , Vạn Vật (Naturalist Intelligence)

Community College của chúng tôi đã khuyến khích các nhà giáo chúng tôi nên áp dụng các phương cách của Multiple Intelligences trong các bài giảng dậy (Lecture notes), các bài thi Tests (bài thi trong Cá Nguyệt, Term) và Final Exams (bài thi cuối Cá Nguyệt, Term) để Ban Giảng Huấn chúng tôi thực sự “measure” (lượng sức) được học lực của học trò.

Việc bàn cãi về Thông Minh vẫn tiếp tục. Năm 1986, 25 nhà khảo cứu rất thông thái về đề tài “Thông Minh” đã cho rằng Thông Minh của con người bao gồm các lãnh vực như: - khả năng về cách ứng xử với các vấn đề nan giải mới có trong  cuộc đời (general adaptability to new problems in life) ; - khả năng suy nghĩ trừu tượng (ability to engage in abstract thinking); - biết cách ứng biến trong mọi hoàn cảnh (adjustments to the environment); - khả năng trí tuệ   và khả năng hiểu biết những gì đã có (capacity for knowledge and knowledge possessed); - khả năng biết tự tập, suy nghĩ độc đáo và hiệu nghiệm trong suy tư (general capacity for independence, originality, and productiveness in thinking); - biết cách tạo thêm khả năng (capacity to acquire capacity); - thấu triệt các mối liên quan thích đáng ( apprehension of relevant relationships); - khả năng biết xét đoán, thấu hiểu và suy luận (ability to judge, to understand and to reason) - khả năng suy diễn các mối tương quan ( deduction of relationships); - khả năng thiên bẩm về nhận thức tổng quát (innate, general cognitive ability).

Người Tây Phương đã quan niệm rằng họ có thể “đo lường” được trí thông minh con người qua cách khảo nghiệm ( IQ test - tạm dịch Intelligence Quotient là “Thương Số Thông Minh Trí Tuệ”) và nhiều người thường cho rằng những người có IQ cao thì sẽ thành công khi đi học cũng như khi đi làm.  Cho mãi tới thập niên 90, các nhà khảo cứu khoa học nhân văn tây phương mới thấy là phần “Thông Minh Xúc Cảm” (Emotional Intelligence- viết tắt là EI- được đo lường qua Emotional Quotient- viết tắt là EQ- tạm dịch là “Thương Số Thông Minh Xúc Cảm”) mới giúp con người đi đến thành công hơn trong công ăn, việc làm.

Có trí khôn (Intellectual Intelligence) vẫn chưa đủ, nhất là khi ra đời làm việc và theo sự nhận xét của GS Daniel Goleman thuộc Ðại Học Hardvard thì lòng ganh tị, bực tức, buồn rầu, lo sợ, thắc mắc, khắc khoải … thường ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của con người. Có nhiều người mặc dù phần trí tuệ (IQ) rất cao nhưng đến khi phải đương đầu với các vấn đề tình cảm khó xử, họ lại hoàn toàn mù tịt chẳng biết cách ứng xử ra sao hết. Nhiều người đã phải đi đến ly dị, sức khỏe tâm thần của họ bị bê bết và còn có nhiều người đã tự tử luôn.

GS Goleman đã lên tiếng để cho mọi người biết những gì mình cần biết về chính mình để tránh những tai họa về sau. Ông kêu gọi nhà trường nên dậy học sinh những căn bản về  EQ , “Thông Minh Xúc Cảm .”

EQ bao gồm những gì? GS Goleman nêu lên 5 điểm chính sau đây:

1.     Tỉnh Thức (Self Awareness): Mình nên biết lòng mình (emotions) và những cảm nhận (feelings) mà mình đang có.

2.      Nỗi vui buồn (Mood Management): Cần biết cách đương đầu với những cảm nhận (feelings) đang xẩy ra để có thể đối phó và tự kiềm chế đúng lúc.

3.     Ý đồ ( Self motivation): Cần gom góp lại những cảm nhận (feelings) đang hiện hữu và đưa chúng tới một mục tiêu (goal) rõ rệt mặc dù mình đang trù trừ (self doubt), trì trệ (inertia) , hoặc đang hành động bốc đồng (impulse)

4.     Giao cảm (Empathy): Cần phải nhận biết được những cảm nhận (feelings) của người khác và tác động lại bằng ngôn từ (verbal cue) hay cử chỉ (non verbal cue) cho đúng cách.

5.     Cách Giao Tiếp (Managing Relationships): Cần có cách ứng xử (interpersonal interaction) cho hợp lý, hợp tình, biết cách hòa giải (conflict resolution) và thương lượng (negotiations).

GS Goleman còn cho biết “Thông Minh Xúc Cảm” không những giúp cho con người tránh được các hậu quả tai hại mà còn giúp cho con người sống hài hòa, an vui với vợ-chồng-con cái và thành công ngoài đời nữa. Ðiều đặc biệt là con người có thể học thêm và phát triển phần “Thông Minh Xúc Cảm” này nếu họ biết cách. Nếu không biết cách duy trì nó, con người sẽ còn giảm mất phần EQ nữa

Nói tóm lại, nhờ có “Thông Minh Trí Tụê” (IQ) mà con người có thể học hành dễ dàng hơn nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ. Ðó mới là phần “Trí”. Con người cần phải có thêm phần “Thông Minh Xúc Cảm” (EQ) thì mới biết cách ứng xử và thăng tiến kể từ khi bắt đầu đi học cho tới khi ra đời làm việc và về hưu. Các lãnh tụ, các chính trị gia thường có cả IQ lẫn EQ rất cao. Họ có thể rất là không ngoan, đức độ mà họ cũng có thể rất là gian hùng và tàn ác. Cả IQ và EQ không đặt trọng tâm vào vấn đề Ðạo Ðức của con người. Cái nguy hại là trên thế giới hiện nay, nhà trường đã quá lơ là đến các vân đề thuộc về phần “Công Dân Giáo Dục” cho nên học trò đôi lúc rất là … khó dậy vì họ chỉ nghĩ đến các lợi lộc cho riêng cá nhân họ và nhiều lúc họ đã thiếu mất phần căn bản của “Tiên học lễ, hậu học văn”!

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Sang đến Thế Kỷ 21, người Âu Mỹ đã “đi thêm một bước nữa”: họ cho ra đời phần thông minh mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Tâm Linh” (Spiritual Intelligence, viết tắt là SI và được đo lường qua Thương Số Thông Minh Tâm Linh - Spiritual Intelligence Quotient viết tắt là SQ).

IQ có thể ví như là phần thông minh của máy điện toán Computer, EQ là phần thông minh của loài người và vài loài động vật có vú thượng đẳng (mammals), trong khi đó SQ (Spiritual Quotient) thì chỉ loài người mới có được mà thôi vì SQ liên quan đến phần Tinh Thần và Tâm Linh của con người. Các nhà khảo cứu về Khoa Học Nhân Văn cho rằng phần SQ là phần căn bản nhất so với IQ và EQ. Con người cần phải có phần “Thông Minh TâmLinh” này để phát triển lòng mong muốn tìm hiểu: - về ý nghĩa của sự vật,- về sự việc nhìn xa trông rộng và - về chân giá trị. Nhờ có SQ mà con người có những ước mơ và cố gắng đạt nguyện chúng. SQ đặt vấn đề về phần tâm linh và vai trò của đạo giáo trong đời sống của con người. Vì “mới ra lò” sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc và tương lai của SQ ra sao.

Như vậy người Tây Phương mới chỉ nói tới IQ, EQ, SQ nhưng theo tôi nghĩ thì trên phương diện giáo dục họ chưa thực sự trú trọng để tâm tới phần Ðạo Ðức qua chữ “Tâm”  và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam và Phật Giáo của chúng ta. Tôi cảm nhận được phần tinh hoa về “Ðạo Làm Người” của tổ tiên Việt Nam chúng ta trong cách dậy dỗ con người từ đời nọ đến đời kia. Tôi cũng cảm nhận thấy rằng tôi đã rất may mắn được hấp thụ nền đạo lý và phần tâm linh sâu sắc này.

Trong bài viết này, tôi muốn dùng lối suy nghĩ của Tây Phương và Ðông Phương để giải thích một vài điều mà chính tôi đã thấy tận mắt. Tôi cũng muốn đem so sánh quan niệm của Việt Nam và Tây Phương về “Thế nào là Thông Minh”. Tôi mạo muội viết ra đây những gì tôi biết một cách thô thiển về chữ “Tâm” của  Phật Giáo và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam cội nguồn. Xin quý vị bỏ qua cho lối “múa rìu qua mắt thợ” này và nhất là những sai lầm của tôi, xin đa tạ trước.  Theo tôi nghĩ, muốn duy trì cái “Ðức”, con người cần có cái “Tâm” trong    sáng (nói nôm na là “Tấm Lòng tốt, đạo đức, trung thực, trong sáng, dễ dãi ...” trong tiếng Việt) để nhận diện được sự việc một cách trung thực và luôn luôn để ý đến các hành động của chính mình cho thích hợp với “Ðạo làm người” trong đời sống hàng ngày .

(Xin kính mời Quý Vị bấm vào Website ở dưới đây để xem hình)

http://www.pbase.com/tamlinh/image/31974053

            Theo Tự Ðiển Phật Giáo của Tác Giả Ðoàn Trung Còn, chữ “Tâm được định nghĩa như sau:

“Chữ tâm có những nghĩa về vật chất và về tinh thần.

            Về vật chất, tâm là:  

- Trái tim. Như trong Bồ Tát giới kinh có nói: Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời gièm pha phá hủy Phật giới, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình.

- Chỗ chính giữa. Cũng như trái tim ở chính giữa thân thể, cái chi ở chính giữa sự vật, gọi là tâm, trung tâm, trung tâm điểm.

            Về tinh thần, tâm thường dịch nôm là lòng, nghĩa là:

- Lòng dạ, nỗi niềm cảm động. Như: An tâm, loạn tâm, ưu tâm, hỷ tâm.

- Nội: bề trong, đối với ngoại: bề ngoài. Như: Tâm nhãn.

- Chí, lòng cương quyết. Như: nhứt tâm, chuyên tâm, tâm lực.

- Ý: Phạn: Citta, tức tâm ý. Như: tham tâm, sân tâm, si tâm, Bồ đề tâm: Bodhicitta.

- Thức: Phạn: Vijnna tức tâm thức. Như trong Bát thức: Tám thức, người ta thường gọi các thức A lại da là tâm.

- Trí, tức trí thức, Tâm trí. Như: Phàm tâm, Vọng tâm, Thánh tâm, Phật tâm, Chơn tâm.

- Cái linh giác chung của: chúng sanh, vạn vật, vũ trụ, tức là tâm linh, thần hồn. Như trong Niết Bàn Kinh, quyển 34, Phật phán: Những chúng sanh ở đời làm thiện hoặc làm ác, khi xả thân, thì Tứ đại đều tan rã hư hoại. Lúc ấy, người nào đã làm Nghiệp thuần thiện thì cái tâm đi lên, kẻ nào đã làm nghiệp thuần ác, thì cái Tâm đi xuống.

- Căn bổn, chỗ phát sanh, chỗ trụ cốt. Như: tâm địa tâm vương.

- Tánh, tức tâm tánh. Như: tâm bình, tâm trực.

- Chỗ bí mật. Như: tâm sự, tâm truyền. Tâm đối với: sắc, trần, cảnh, thân. “

Tôi nghĩ rằng chắc Quý Vị cũng giống như tôi, trong cuộc sống hàng ngày, có những lúc mình thích có cái này, có cái nọ đến độ như tham lam, có những lúc mình thấy bực tức, oán hờn, ghen tị, sợ hãi, vui vẻ … Những lúc này thật khó cho mình có thể bình tâm mà chăm chú vào một việc gì khác được vì đầu óc mình nó còn ở đâu đâu. Cũng chỉ là vì cái “Tâm”( hay nôm na ra là lòng dạ) của mình nó đang lăng xăng ở đâu đâu nên khó lòng mà mình sống thật yên ổn bên trong được. Nếu mình gọi đó là cái “Tâm”, vậy thì “Tâm” trong Ðạo Phật là gì và “nó” đang ở đâu? Câu hỏi này không dễ gì mà trả lời được.

Tác giả Phạm Công Thiện đã viết về “Tâm” theo quan niệm Phật Giáo như sau:  “Cái Tâm là cái gì?

Chúng ta thường nói rằng mọi sự đều do tâm tạo ra. Điều này lại càng chính xác hơn nữa, nếu chúng ta đừng bao giờ đồng nhất và đồng hóa với cái bản ngã hay cái "tôi" nội tại của chính mình. Hiểu được tâm là gì chính là điều khó khăn nhất trong những điều khó khăn nhất của kiếp người. Cái lòng của mình hay cái lòng của người đời không phải là chuyện dễ hiểu như chúng ta thường tưởng như vậy. Đừng bao giờ tự nhận rằng mình tự hiểu cái lòng mình hay hiểu được lòng người; có ý thức trọn vẹn như vậy thì mới có khả năng tạ ơn, ngưỡng mộ, và tôn kính tất cả những gì khó khăn và khó hiểu nhất hiện nay. Mỗi khi mình vừa tìm cái tâm thì tâm đã đi mất rồi. Tâm không phải là cái mà mình có thể đạt tới được trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Điều bí mật lạ thường là cái tâm không ở thời gian và không ở trong không gian mà vẫn bừng sáng liên tục.

Điều đầu tiên cần hiểu về cái tâm là cái tâm không là một cái gì cả mà tâm lại không là hư vô. Nói về bản chất hay về tính thể của cái tâm là tạm dùng danh từ dễ hiểu để gọi một cái không hề giống như cái mình tưởng nhận lầm lạc. Nói theo danh từ Phật Pháp thì tâm không có tự tính, vì không có tự tính (vô tự tính) nên không có thực thể, không có hữu thể. Tâm là Không Tính mà Không Tính lại chính là Tâm. Điều cuối cùng cần nhớ thường trực: cái Tâm vốn là trống trải, trong veo, sáng ngời, vô ngại, thông đạt. Sự trống rỗng ở đây không phải là không có gì cả mà lại biết được tất cả, sáng và sướng đồng lúc.”

Tôi xin trích một đoạn viết về cái “Tâm” trong Tạng Thư Sống Chết dưới đây:

.”… Lúc đó tôi chừng chín tuổi. Thầy tôi gọi tôi đến và bảo tôi ngồi trước mặt ông. Chỉ có hai thầy trò chúng tôi. Thầy tôi bảo:

- Bây giờ ta sẽ khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm.

Cầm cái chuông và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy. Rồi thầy bắt đầu khai thị. Bỗng chốc thầy ném vào mặt tôi một câu hỏi không thể trả lời:

- Tâm là gì?

Thầy nhìn xoáy sâu vào mắt tôi. Tôi hoàn toàn kinh ngạc. Tâm tôi tan ra. Không còn ngôn từ, tên gọi, ý tưởng nào ở lại – Không có tâm nào hết, quả thế. Cái gì xảy ra trong giây phút đầy kinh ngạc ấy? Những ý niệm quá khứ đã chết, tương lai chưa đến; dòng tư tưởng của tôi bị cắt ngang đột ngột. Trong cú sốc đó một khoảng trống mở ra, trong khoảng trống ấy chỉ có một giác tính tuần túy trực tiếp về hiện tại, một cái gì hoàn toàn vượt ngoài mọi bám víu chấp thủ. Giác tính ấy đơn giản, sơ nguyên và căn để. Tuy vậy sự giản đơn thuần túy đó cũng tỏa sáng đầy sự ấm áp của một niềm bi mẫn bao la.

Biết bao nhiêu điều tôi có thể nói về giây phút ấy! Thầy tôi rõ ràng đang đặt cho tôi một câu hỏi, nhưng tôi biết thầy không chờ đợi một câu trả lời. Tôi chưa săn tìm giải đáp thì đã thấy rằng không có giải đáp nào có thể tìm kiếm. Tôi ngồi thộn ra trong kinh ngạc, nhưng trong khi ấy một niềm tin vững chắc sâu xa sáng chói tôi chưa từng biết đến, đang dâng tràn trong tôi.

Thầy tôi đã hỏi: “Tâm là gì?” và vào lúc ấy tôi tưởng chừng ai cũng biết rằng, không có chuyện có hiện hữu một cái tâm nào cả, làm sao tôi có thể tìm ra. Vậy, dường như đi tìm tâm thực là phi lý. Sự khai thị của thầy tôi đã gieo một hạt giống sâu xa trong tôi. Về sau tôi mới biết đấy là phương pháp khai thị được dùng trong truyền thống chúng tôi. Tuy nhiên, vì lúc đó tôi không biết, mà những gì xảy ra có vẻ hoàn toàn bất ngờ, và do đó càng kinh hoàng mãnh liệt.”

http://www.pbase.com/tamlinh/image/31974413

Như vậy có phải rằng ta chỉ có thể cảm nhận được cái “Tâm” của ta mà thôi?  Làm sao mà cảm nhận được cái “Tâm” của mình nhỉ?

Khi tôi đã trên 40 tuổi, có lắm lúc tôi thấy rất mệt mỏi, buồn bực, lo âu, đời đầy áp lực …Tôi muốn ngủ mà ngủ cũng chẳng được vì đầu óc bị căng thẳng. Tôi không muốn uống thuốc ngủ và một người bạn đã chỉ cho tôi cách thực tập Transcendental Meditation: mình phải cố gắng làm sao cho đầu óc ngăn chặn được những ý nghĩ đến liên tục trong đầu óc để hy vọng là mình không còn phải vướng bận gì nữa (blank out the mind). Những khi tôi làm được như vậy, tôi thấy như được tiếp sức bởi một luồng energy sảng khoái, đầu óc tôi trong sáng và nhẹ nhàng, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay và khi tôi ngủ dậy, tôi thấy rất khỏe khoắn , giống như cái “battery” được “fully recharged “vậy . Tuy nhiên, cũng có lúc tôi không thể “concentrate” nổi để chặn đứng những ý tưởng đang khởi niệm trong đầu óc vì tâm trí tôi bất an , lòng dạ rối bời và khi ngủ dậy, tôi cảm thấy mệt mỏi.

Tới tuổi 50, tôi đi dự khóa Thiền của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cách Thiền rất là đơn giản: trong một căn phòng tĩnh mịch, ngồi trên một cái gối (Tọa Cụ), hai chân xếp lên nhau (thế Kiết Già), mắt lim dim và bắt đầu đếm hơi thở (Thí dụ: 1 là thở vào, 2 là thở ra, 3 là thở vào, 4 là thở ra …Ðếm đến 100 thì lại bắt đầu đếm lại từ đầu…). Thực tập theo lối này (Thiền Chánh Niệm, Mindfulness Meditation) tôi thấy đơn giản, dễ dàng và nhẹ nhàng hơn vì tôi không phải luôn luôn cố gắng xua đuổi ý nghĩ trong đầu gì hết. Ngồi đếm hơi thở, tự nhiên con người từ từ mang phần hồn (tâm trí) về lại với phần thân xác vì đầu óc chỉ chú trọng tới việc đếm hơi thở mà thôi. Khi tâm trí mình an trú trong thân xác, người ngồi Thiền đạt được Chánh Niệm (Mindfulness) và tự nhiên mình biết mình đang làm gì, đang ở đâu mà không còn suy nghĩ vẩn vơ nữa.  Tiếp tục thực tập lối Thiền Thở này, con người sẽ sống trong tỉnh thức (Self awareness) ,  biết mình đang làm gì, đầu óc đỡ bị rối bời hơn  và có thể tự kiềm chế được lòng mình…

Tôi đã thực tập Thiền theo lối này được hơn 10 năm. Mỗi lần Thiền như vậy, tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng bên trong và tôi có thể tự ý mang ra những xúc cảm như vui, buồn, sầu, lo, ai oán … để đối diện với chúng rồi tôi có thể tìm ra những nguyên do tại sao tôi lại có những cảm xúc (feelings) như vậy. Những hôm khí hậu tốt và tôi có thì giờ rảnh rỗi, tôi đi bộ (Thiền Hành) trong những nơi thanh vắng. Tôi đã từng ngồi đối diện với chính tôi bên dòng nước, trong công viên, trong căn phòng… Những lúc này, tôi chỉ muốn được “totally left alone” để tự mình ngồi “soi bóng” chính mình tôi mà thôi. Có lẽ đây là những giây phút mà tôi hằng ao ước để thấy đời thanh thảng,  không vướng bận vào bất cứ việc gì để rồi bất chợt tôi “thấy” được nhiều điều mà tôi đã hằng muốn biết trong nhiều năm qua .

Có những đêm, sau khi ngồi chấm bài hay soạn bài, nếu không ngồi Thiền trước khi đi ngủ, và khi tôi thiếp đi, tôi thấy đầu óc tôi chứa đầy các dòng chữ, các con số và nhiều thứ đã làm tôi bận tâm trong ngày hôm đó.. .Buổi sáng sau khi thức dậy, tôi cảm thấy lừ đừ, mệt mỏi vì giấc ngủ của tôi bị “phân tâm”. Nếu tôi ngồi Thiền trước khi đi ngủ -chỉ cần 15 phút mà thôi-, tôi ngủ một giấc thật ngon, không hề thấy các dòng chữ, các con số ... trong giấc ngủ và tôi cảm thấy khỏe khoắn khi tỉnh dậy.

Trong đời dậy học, tôi cũng đã thấy một số sinh viên khi thi  Term Test (Thi trong Niên Khóa) hay Final Exam (Thi tổng quát cuối Niên Khóa) thường hay bị “nervous” (lo quýnh lên) đến nỗi có người đầu óc của họ đã quên hết và không còn nhớ được điều gì đã học nữa (blank out) . Rút tỉa từ kinh nghiệm này, tôi chỉ cho họ cách ngồi đếm hơi thở ở ngay trong lớp học: Thở vào một hơi thật sâu (thở vào bụng!) và từ từ thở ra cho tới khi bụng xẹt xuống. Chỉ cần “Thiền Thở” như vậy 5 phút mà thôi. Học trò tôi rất ưng ý với phương pháp này.

Sinh viên trong Phân Khoa Kỹ Thuật của chúng tôi cũng thường phải qua các “job interview” trong các “Co-op Term” (Trong Cá Nguyệt này, học trò đi làm thay vì đi học) hay khi đi xin việc làm sau khi đã ra trường. Ðể tránh cái vụ “feeling nervous” (lo “cuống đì!”), tôi khuyên họ nên “Thiền Thở” trong khi chờ phiên họ được “interview”. Họ thấy được an tâm hơn trong lúc chờ đợi và khi họ được “interview”, họ đã “perform much better” (ăn nói lưu loát và có vẻ tự chủ hơn) vì họ thấy rất bình tĩnh và tự chủ, tự tin trong lúc “job interview”.

            Trong 5 năm cuối trước khi tôi về hưu, tôi thường phải lái xe mất ít nhất 45 phút trên xa lộ mỗi lần đi và mỗi lần về. Có những buổi chiều, trên đường về trong xa lộ, tôi thấy mệt đừ sau một ngày làm việc mà mặt trời còn chiếu thẳng vào mặt tôi và xe cộ chạy rầm rầm xung quanh tôi nữa. Tôi hay nhìn đồng hồ và tự nhủ:

-         Trời ơi, còn những 30, 20, 15 ... phút nữa mới tới nhà sao?

Xe cộ càng ngày càng đông làm tôi thấy “nervous” và mệt nhọc hơ n (đó là chưa kể đến những hôm trời bão tuyết hãi hùng!). Tôi nhớ ngay ra cách thức “Thiền Thở” và áp dụng liền: vừa lái xe và để ý tới cái “lane” của tôi, vừa tiếp tục đếm hơi thở ngay trong lúc lái xe. Thật là nhiệm mầu: tôi về đến nhà lúc nào không hay mà tôi chẳng còn thấy mệt mỏi gì nữa vì tôi đã hít được nhiều Oxygen vào trong cơ thể do đó các bắp thịt của tôi trở nên thư giãn hơn!

            Tôi chẳng biết tôi đã kiếm ra được cái Tâm của tôi hay chưa, có điều tôi biết rất rõ là tôi ngủ rất dễ, giấc ngủ rất ngon và tôi ngủ một mạch cho đến sáng luôn. Lâu lâu, tự nhiên tôi “thấy” rõ được những ý tưởng mà ngày xưa tôi chưa hề “thấy rõ” được chúng mặc dù là tôi đã từng đi tìm kiếm trong nhiều năm.  Tôi xin chép vào đây vài vần thơ tôi ghi lại trong một đêm tỉnh giấc sau khi tôi ngồi Thiền rồi ngủ thiếp đi.

 

MỘNG THƯỜNG

 

Nửa đêm về sáng

Tự trong cơn mơ

Tôi thức giấc

Viết bài thơ nàỵ

 

Có những giấc ngủ say

Và đầy mộng mị

Tôi không thấy kinh dị,

Không vui mà cũng chẳng buồn.

Không sầu, không lo,

Không thương, không tiếc.

Tôi không nghe thấy tiếng mình nói

Mà chỉ lắng nghe trong tĩnh lặng.

 

Tôi đã được trở về

Như một đứa trẻ thơ:

Cali, Sài Gòn, Hà Nội, Sydney…

Gặp Cha, thăm Mẹ

Và rất nhiều người thân

Mà đã ra đi vĩnh viễn từ lâu.

Gặp nhau không âu sầu,

Không nhớ, không thương.

 

Tôi chỉ muốn luôn luôn

Được sự êm đềm

Trong Mộng Tưởng.

Giấc mộng không vấn vương

Giấc mộng bình thường.

 

Đời vui, đời buồn,

Đời vời vợi,

Đời nhiều vấn vương,

Đời đầy áp lực

Đè nặng con người,

Đi vào Tâm Thức.

 

Khi Đời lắng xuống

Trong giấc ngủ hồn nhiên

Hay trong lúc ngồi Thiền

Tôi cảm thấy …

Đời người như sợi tơ trời

Nhiều sắc, nhiều mầu

Bập bềnh

Trong Không Gian, Vũ Trụ

Biến đổi không ngừng

Theo thời gian và không gian.

 

Giấc ngủ nhẹ nhàng hơn

Là phải sống

Trong Cõi Chết

Của đời sống

Văn Minh, Máy Móc

Hàng ngày.

 

Vô Không Sept. 1996

http://www.pbase.com/tamlinh/image/32398951

Xin Quý Vị lượng thứ bỏ qua cho những gì mà tôi viết làm nhàm tai Quý Vị. Cũng xin cám ơn Quý Vị đã kiên nhẫn đọc những dòng chữ này.  Xin chúc Quý Vị được Thân Tâm An Lạc

Tài liệu tham khảo:

            1. Intelligent Quotient: Encyclopedia Article

http://encarta.msn.com/encyclopedia_761570026/Intelligence.html#p26

            2. Multiple Intelligences

http://www.thomasarmstrong.com/multiple_intelligences.htm

            3. Emotional Intelligence

http://www.funderstanding.com/eq.cfm

            4. Spiritual Intelligence by Khalil S. Khavari, Ph.D.

http://www.wmpub.ca/khavari.htm

            5. Phật Học Tự Ðiển Ðoàn Trung Còn

http://www.vietshare.com/tusach/tudienph.asp

            6. Tinh Tuý trong sáng của Ðạo Lý Phật Giáo

Những Lời dạy thực tiễn của Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ ATISA lúc truyền Đạo Phật vào Tây Tạng.  Tác giả: Phạm Công Thiện - Viên Thông California Xuất Bản 1998

http://www.thuvienhoasen.org/tintuytrongsang-00.htm

            7.Tạng Thư Sống Chết

The Tibetan Book Of Living And Dying.  Sogyal Rinpoche - Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch. Nhà xuất bản Thanh Văn Hoa Kỳ 1992 và Nhà xuất bản Xuân Thu Hoa Kỳ 1996

http://www.thuvienhoasen.org/tangthusongchet

CVA Ðàm Trung Phán

Feb 29, 2005

Mississauga, Canada

* * *

 

Đại Cương Về Thái Cực Quyền (Tai Chi)

CVA Trần Ngọc