Đặc San 2005 phần II

(Tiếp theo phần I)

 

Còn Nụ Cười Nào Cho Anh

CVA Nguyễn Thọ Chấn

 

            Anh nằm đó, bất động. Ðầu anh quấn trong cuộn băng dầy. Một bên mắt bầm tím, sưng vù. Mắt kia nhắm nghiền. Môi khô, nứt nẻ. Máu ứa ra từ những vết nứt đọng trên khoé mép. Cả nửa thân người anh cũng cuốn trong một lớp băng. Anh nằm thoi thóp. Cơn hôn mê đã kéo dài ba ngày. Anh chỉ tỉnh lại được một giấc thật ngắn vào tối hôm qua. Da tay anh xanh xám. Bùn đất còn đọng trong kẽ những móng tay. Chân phải bó bột được kéo lên ngang thành giường, lòi ra những ngón chân đen xạm. Sợi dây truyền nước biển chảy thõng xuống lưng bàn tay. Cô nấc lên, nghẹn ngào. Cô cắn răng nuốt nỗi đau quặn buốt nơi trái tim mình, nhưng nước mắt vẫn trào ra. Cô rên thầm:' ' Quỳnh ơi! Ðừng bỏ em mà đi nghe Quỳnh!!...; những người như anh không thể...'' Thoáng nghĩ tới đây, cô bỗng khựng lại. Chỉ mới tháng trước, cô đã có một quyết định táo bạo: cô quyết định lên thăm anh ở nơi trung đoàn anh đang hành quân. Khi ấy, đơn vị của anh vừa thoát một trận phục kích. Cô đã có ý định cho anh tất cả. Thời chiến, không ai biết ra sao ngày mai. Với anh, cô không có điều chi phải giữ gìn. Cô tin nơi anh. Cô tin ở tình yêu của anh. Những lần về phép, ghé thăm gia đình cô, đưa cô đi phố, anh chiều cô mọi thứ, nhưng anh không hề đòi hỏi ở cô bất cứ điều gì. Với cô, tình yêu anh dành cho cô không khác những ngày đầu.

********************

            Năm Linh học đệ tứ thì người anh thứ ba của cô dắt về nhà một bạn học thời trung học. Anh cô xong Tú Tài Hai, học Triết ở Văn Khoa, rồi động viên vào khoá 24 Thủ Ðức. Ra trường, Sơn về một tiểu đoàn Chiến Tranh Chính Trị thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long. Bạn anh là Quỳnh, lúc đó đang theo học chứng chỉ Hoá ở Ðại Học Khoa Học. Mới nói chuyện với bạn anh mình một lần, cô đã có cảm tình. Ðó là một thanh niên có nét mặt tươi, cặp mắt sáng và đôi môi đầy đặn. Anh đùa với cô như với một đứa em gái nhỏ bé. Còn bố cô, ông trung tá già một đời lăn lộn trận mạc thì ông thấy ưa thằng bạn con ông ở chỗ lễ độ, biết trên, biết dưới, và cũng vì nó là cháu của một ông tướng đã có lúc là đơn vị trưởng của ông. Ông không hạp lắm với thằng con ' Chiến Tranh Chính Trị'. Mồm nó quàng quạc như một con gà mái. Ông không hiểu nhiều về Chiến Tranh và Con Người, nhưng ông hiểu rõ những chiến trường và cái giá bằng máu mà những người lính phải trả. Ông thuộc nằm lòng những thằng lính trận ba gai của ông, cũng như ông đã quá quen thuộc những cuộc hành quân cấp đại đội, tiểu đoàn. Ông thường hay kể cho các con ông những trận đánh lớn mà ông đã từng tham dự: từ trận nhảy dù xuống Lai Châu, Nghiã Lộ cho đến những cuộc hành quân truy lùng Ba Cụt. Cô đã từng nhìn thấy bố cô đánh lính. Ông dùng ba toong quật tới tấp lên lưng, lên đầu mấy gã lính bặm trợn; ông bợp tai, đá đít, giộng vào mặt; ông đánh cho bò lê bò càng. Ông chửi: '' Ð.m. mày, lính mà đi phá làng, phá xóm à? Tao đánh thấy con đĩ mẹ mày; lưu manh, côn đồ, tao trị theo lưu manh côn đồ. Sắt tao còn uốn được nữa là...'' Ông dữ vậy, nhưng bọn lính trẻ vẫn yêu ông. Nhiều lần ông ở trần nhậu xả láng với bọn chúng, và có lần chúng còn đưa ông lên xóm chị em ta ở Ngã Ba Chú Iá. Ông là 'Bố Già' của chúng. Nhưng mỗi lần Quỳnh lại nhà chơi, ông đều khuyên nhủ:'' đời lính gian nan và nguy hiểm lắm; còn học được ngày nào thì rán mà học cháu à.'' Ông đã nói như bất cứ một bậc cha chú nào thương con cháu mình. Có điều, anh nghe trong giọng nói của ông như có tiếng vọng của một người lính già mệt mỏi. Mẹ cô, một phụ nữ tần tảo lớn lên ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, là điển hình của những bà mẹ VN chỉ biết chồng và những đứa con. Những khi cô đỏng đảnh, làm đỏm trước khi ra khỏi nhà, bà lại mắng yêu cô con gái: '' Bố mày, con nhà lính mà tính nhà quan''. Những lần như thế, cô cong cớn:'' Thế Bố chẳng là quan là gì?''

            Quyết định nhập ngũ của Quỳnh làm mọi người trong nhà ngạc nhiên, trừ cha anh. Xong chứng chỉ Hoá anh đã có thể tiếp tục xin hoãn dịch, nhưng không hiểu sao anh đã trình diện khoá 26 T.Ð.. Cha anh là một nhà viết sử. Ông đã giải ngũ từ lâu. Bà đã mất. Ông ở vậy nuôi các con. Ông tôn trọng tự do của các con về mọi mặt, từ chuyện yêu đương, đến chuyện xã hội, nghề nghiệp. Ông chỉ dặn : '' sống sao cũng được, miễn cho ra người; và nhất là lúc nào cũng phải cố gắng.'' Bà chị của Quỳnh nghe vậy, quay qua cười, nói với các em: ''Ba vậy mà chẳng phải dễ dàng đâu; sống cho ra người khó lắm đấy nghe tụi bây!'' Còn Quỳnh, sau này vào Thủ Ðức, mỗi lần nghe hô 'Tan hàng, cố gắng,' anh lại thấy tức cười. Năm Quỳnh học đệ nhất, ngồi vào bàn học, dở một vài trang 'Luận lý học' của linh mục Trần văn Hiến Minh, ông xà vào, liếc thấy có tên Platon, Descartes,...ông đã bàn ngang: '' Những suy tư có tính cách triết học có thể làm người ta khôn ngoan ra, nhưng làm quen với nó sớm quá cũng có thể khiến người ta dễ bị do dự trong nhiều việc.'' Với ông, không có chỗ cho những kẻ lưng chừng. Hoặc anh ở bên này, hoặc anh ở bên kia. Làm gì có chuyện 'không Tư bản mà cũng chẳng Cộng sản'. Ðiều đó chỉ có trong trí tưởng của mấy anh trí thức gàn dở. Với bọn này thì vừa nhử bằng cà-rốt, vừa quất bằng roi là chúng chừa cái tật hoang tưởng, tự cao tự đại của chúng. Ông ở hẳn về phiá bên này: anh em, họ hàng, bạn bè ông đều ở bên này cả. Ðến phiên anh, khi anh lại nhà bạn chơi, thấy cô em bạn nay đã lên đệ nhất, trong tay cầm cuốn Tâm lý học, cũng của cha Minh, anh đã nói đùa: '' Học Triết không khó đâu em, nhưng học sống khó lắm.'' Cô chẳng cần biết học sống ra sao; nhưng cô thấy học triết rắc rối, phức tạp, khó khăn quá chừng. Cô thấy thèm nhớ những tháng học thong thả đầu năm đệ nhị ở trường Nguyễn Bá Tòng, và những câu chuyện lí lắc mà con bạn ngồi cạnh cô thường kể với cô về anh chàng bồ không quân những lần chúng nó đi chơi với nhau vào cuối tuần. Từ năm đệ tam đã có nhiều đứa bạn cùng lớp rắp ranh bắn sẻ ,nhưng với cô, bọn chúng chỉ là lũ nhí học đòi làm người lớn. Cô nghĩ đến anh. Anh là người bạn đàng hoàng nhất trong đám bạn nhốn nháo cuả các anh cô. Ðã có lúc cô thấy nhớ nhớ, nhất là sau hàng tháng anh không lại nhà chơi, từ khi anh cô đổi xuống Vĩnh Long.

***************

            Quỳnh bất ngờ tạt ngang nhà Linh khi anh từ Thủ Ðức được về phép cuối tuần. Sơn đã đổi về Sàigòn. Sơn rủ Linh đi coi phim 'Tần Thủy Hoàng', đang trình chiếu ở rạp Rex. Tiện có cô em gái ở nhà, Sơn rủ em cùng đi, nhưng đến khi sắp ra khỏi nhà thì Sơn nhận được một cú điện thoại từ đơn vị. Sơn phải vào trình diện đơn vị gấp. Quỳnh đã đưa Linh đi coi chiếu phim. Cô thấy lúng túng, mà lòng cô thì đang reo vui. Hình như định mệnh cũng đã an bài : Linh theo sau Quỳnh bước vào rạp. Ngang chỗ soát vé, cô bỗng vấp phải gờ cửa. Cô chới với níu lấy anh. Ngực cô ịn vào bờ lưng dầy và ấm của anh. Anh nghe thấy hơi thở nóng và gấp của cô bên tai mình. Anh vội xoay người đỡ lấy cô. Anh nhìn cô! Cô nhìn anh! Hai người nhìn nhau mà như chẳng thấy chi cả! Họ chỉ thấy trong đáy mắt nhau những tia sáng lấp lánh hắt xuống từ những ngọn đèn trang trí trên tường bên trong rạp như một trời sao vời vợi. Bất giác anh thấy bàn tay cô xiết chặt lấy bàn tay anh và anh cũng từ từ nắm thật chặt lấy những bàn tay nhỏ, ấm và mềm mại đến vô cùng ấy. Suốt buổi phim, khi đã vào ghế ngồi, họ không nói với nhau một lời; nhưng anh đã nghe mùi chùm kết ngan ngát toả ra từ bờ tóc dầy của cô. Cô đã tựa đầu vào vai anh tự lúc nào...

            Ra về. Họ dìu nhau dưới những tàn me lớn. Anh nghe rõ tiếng lá me xôn xao rơi rất đỗi nhẹ nhàng trên vai áo nàng. Còn nàng, nàng thảng thốt nghĩ đến lúc chia tay gần kề, khi anh phải trở lại quân trường.  Anh đưa nàng về nhà. Cô dáo dác nhìn quanh. Nhà trên không có ai. Cô ghì anh xuống hôn lấy, hôn để. Và khi anh đã ra khỏi nhà, cô còn cảm thấy hơi ấm của anh đọng trên ngực mình. Cô vội vào phòng rửa mặt. Cô nhìn lên gương. Mặt cô hơi tái đi, môi son đã lợt; cô ôm lấy ngực, mắt nhắm lại. Cô thì thầm: '' Em yêu anh, Quỳnh ơi!'' Cô nuốt thật chậm ngụm nước bọt đã hoà với mật ngọt trên môi anh. Cùng lúc đó mẹ cô từ dưới bếp đi lên, bà thấy khuôn mặt sững sờ mà hưng phấn của con gái bà. Bà đã hiểu.

            Những lần về phép sau này, anh lại nhà thăm nàng đều đặn. Những lần ấy nàng như một con chim nhỏ. Nàng tíu tít kể cho anh nghe đủ chuyện ở trường, ở nhà. Nàng đã sửa soạn đồ ăn, thức uống từ ngày hôm trước. Nàng hỏi anh đủ thứ về đời sống quân trường. Anh không trả lời nàng nhiều, nhưng anh thường nói: '' ở quân trường khá cực, nhưng lúc ra khỏi quân trường mới đáng ngại kià.'' Nàng thoáng thấy trong ánh mắt anh một chút tư lự, cái bậm môi nhẹ nhàng trước khi hai khoé môi thõng xuống. Nàng yêu lắm cặp môi của anh.

****************

            Anh là viên chuẩn úy duy nhất có chứng chỉ Hoá khi về trình diện trung đoàn. Trung đoàn trưởng là một sĩ quan xuất thân Võ Bị Ðà Lạt. Khi anh trình diện, ông ta đã ngờ rằng anh là một kẻ thất tình; nếu không, hẳn cũng phải là một gã bất bình thường. Anh còn có thể tiếp tục được hoãn dịch, vậy mà anh đã đâm đầu vào lính, mà lại là lính tác chiến thứ dữ. Anh cũng không màng nhờ đến sự can thiệp của ông chú là một ông tướng ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trung đoàn của anh là khắc tinh của những đơn vị chính qui và điạ phương của địch. Hai bên, trong nhiều năm , đã tìm mọi cách lừa nhau, tiêu hao sinh lực của nhau trên một điạ bàn đầy những núi rừng trùng điệp. Họ tìm đủ cách xoá sổ lẫn nhau. Trong hai năm ở với đơn vị, anh đã ba lần nhận những tân binh bổ sung quân số, và không ít lần đứng lặng người trước những người đàn bà méo mó, xộc xệch, khóc giật từng cơn trước thi thể của chồng, con, cha, anh mình. Anh nhớ lại lời cha anh : '' chiến tranh chẳng phải là một trò đùa, và chiến trường chẳng phải là chỗ người ta dạo mát.'' Chiến trường quả đúng chẳng phải là chỗ dạo chơi, nhưng cuộc chiến mà anh tham dự, nó hệt như một trò đùa. Một trò đùa oan nghiệt. Những trận đánh tàn khốc giữa đơn vị anh và các đơn vị địch không cho phép cái đầu anh nghĩ xa hơn nữa. Trước mắt, phải sống còn; phải lì lợm và xoay trở nhanh hơn đối phương; phải dành được người dân sống quanh mình và người lính sống với mình. Về phương diện này, anh là sĩ quan xuất sắc của đơn vị. Trong trận đánh xảy ra cách đây hơn một tháng, tiểu đoàn anh đã thắng đậm trong một trận phản phục kích tuyệt vời. Anh đã chỉ huy đại đội đánh bạt gọng kềm trái mà địch đang khép lại và bọc trở lại đánh tan đơn vị địch đang xung phong vào bộ chỉ huy tiểu đoàn. Ðến lúc này thì trung đoàn trưởng ngạc nhiên là anh đã không chọn binh nghiệp ngay từ khi xong trung học. Anh là một cấp chỉ huy gan dạ, quyết đoán và có những quyết định hữu hiệu bất ngờ trong những tình thế tưởng chừng tuyệt vọng. Nhưng khi tàn trận, trực thăng đã tải đi thương binh và tử sĩ, anh đứng nhìn những hố bom đạn cày xới tan nát một khoảng bià rừng, những thân cây dập nát, gẫy đổ, và những mảnh áo quần lính trận cùng thịt xương bầm dập vắt vẻo trên những lùm cây, anh thấy đầu óc anh như đông cứng lại, và anh nghĩ đến Linh. Anh nghĩ đến số phận của những người vợ lính. Anh nhìn rừng già mờ mịt trước mặt, và những dãy núi xám xẫm lẫn trong hoàng hôn tím mà thấy ngậm ngùi.

*************

            Linh đi nhờ xe của một sĩ quan trên Quân đoàn xuống hậu cứ của trung đoàn. Trung đoàn trưởng biết bố cô. Khi nghe tin đơn vị của Quỳnh bị phục kích, lòng cô như bị lửa đốt. Cô lo lắng, hoang mang. Cô tìm mọi cách nhờ người đưa cô lên đơn vị của anh. Tới hậu cứ cô đã thấy một vài phụ nữ, mặt mày hốc hác, ngồi đợi ở nhà khách trung đoàn. Ðó là một căn phòng vách ván nằm ở đầu hồi một dãy lán dài, nóc lợp tôn. Những lán nằm phiá sau là trại gia binh. Tường ván quét hắc ín đen xỉn. Chung quanh là vài lớp rào kẽm gai phòng thủ. Hậu cứ nằm ở ngoại biên thành phố. Một thành phố cao nguyên đất đỏ. Cô nhìn ra phiá xa, phiá thung lũng trước trại, và nhìn thấy những lớp bụi đỏ mù mịt đuổi cuốn theo nhau. Cô đang nói chuyện với một thiếu nữ, học sinh một trường trong vùng, là người yêu của anh chàng chuẩn úy dưới quyền anh thì từ xa chiếc xe Jeep ào vào. Anh từ xe jeep nhảy xuống, nón sắt có lưới ngụy trang dắt lá trên đầu, quần áo trận nhàu nát, đôi giầy trận bạc phếch, mũi giầy đầy bùn đất, và bên hông lủng lẳng khẩu colt. Nàng chạy bổ ra sân, ôm chầm lấy anh, trước cặp mắt thông cảm của những người phụ nữ còn lại. Ðêm đó, anh và cô ở trong căn phòng của một sĩ quan độc thân đang đi phép. Chiều xuống rất nhanh, một cơn mưa ập xuống như lũ rừng, và bóng tối dầy đặc bao quanh vòng đai phòng thủ của hậu cứ. Cô ôm cứng lấy anh như thể ngày mai không bao giờ cô còn được ngồi với anh như thế nữa. Cô hôn anh mạnh mẽ như chưa bao giờ được hôn. Những sợi râu lởm chởm cà vào má cô, vào môi cô, vừa nhột nhạt, vừa bồn chồn. Khi buông nhau ra, anh châm một điếu thuốc, và sau ngụm cà phê còn nóng mà cô mới pha hồi nãy, anh nhìn mông lung ra phiá lô cốt trước mặt. Chỉ còn một ngọn đèn leo lét rọi sáng cổng trại, được chặn phiá ngoài bằng bốn rào kẽm gai. Anh bỗng thấy xót xa cho đời lính, và anh bỗng thấy thương cảm cho người yêu. Anh thấy rõ cả nỗi bất lực của mình trong cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc này. Anh bực dọc nghĩ đến lời khai của gã tù binh bị bắt tuần trước: hắn đã nằm lòng bài học phải trả lời khi bị bắt. Anh bắt đầu nhận ra lối nhồi sọ con người của đối phương, hệt như anh đã từng nhận ra những cách biệt quá đáng trong đời sống của nhiều tầng lớp dân chúng Miền Nam. Bất giác anh ôm ghì lấy nàng. Linh cũng ép người mình vào chàng. Nàng bấu chặt vai anh, nàng ghì tóc anh xuống, nàng nhìn thật sâu vào mắt anh trong bóng đêm, nàng thì thầm vào tai chàng:'' Em muốn cho mình,...''. Nàng luồn tay xuống ngực anh. Nàng thấy một vết sẹo phía trên ngực phải, dấu vết của một lần anh bị thương nửa năm về trước. Nàng mân mê, rồi ghé môi hôn lên vết sẹo ấy. Còn anh, trong một thoáng, anh bỗng thấy bần thần. Một nỗi ham muốn mơ hồ cùng với nỗi bất an thảng thốt qua nhanh trong đầu anh. Nếu anh có mệnh hệ nào?..!!! Từ ngày anh về đơn vị, đã bốn sĩ quan ra đi vĩnh viễn. Anh gỡ tay nàng ra, nhưng nàng dằng lại. Nàng dứt khoát:''Em cho mình mà,...''. Nàng ghì anh xuống, rồi chính anh ghì lấy nàng, hôn như mưa bấc trên khuôn mặt nàng bồng bềnh theo ánh sáng của ngọn đèn bão treo sát vách tường. Anh quấn chặt lấy cái thân hình mềm mại của nàng, đè nàng xuống, ngấu nghiến. Anh thấy hơi ấm của nàng truyền qua từ những phần thịt da nồng nàn. Còn nàng, nàng thấy như từng tế bào cuả thân xác nàng mọng căng lên, đón nhận những dòng chất lỏng sền sệt cuả nỗi đam mê bất ngờ, trong khi ngoài trời tối đen, gió lồng lộn rít qua kẽ tôn cuả lán trại. Anh nghe tiếng rên nho nhỏ của nàng, như hạnh phúc và đau khổ quyện vào nhau. Thỉnh thoảng tiếng đại bác bắn đi phiá đồi bên kia làm rung đến tận khu trại bên thung lũng này, và ngoài xa, hoả châu bập bùng toả sáng ngôi làng nằm dọc theo con suối chạy ven quốc lộ.

**********

            Trên trần chiếc Marelli cũ vẫn quay đều. Mắt bên phải cuả Quỳnh hé mở. Anh thấy một khuôn mặt nhạt nhoà, như loãng ra đằng sau một khuôn cửa kính đục đang bị nước mưa hắt vào. Rồi khuôn mặt ấy rõ dần. Anh nhìn ra Linh. Nàng đang cười. Nàng đi ngược chiều anh giữa đồi cỏ lộng gió. Rồi nàng giơ tay chạy nhanh về phiá anh, gần hơn, gần hơn nữa. Lúc anh giơ tay ôm choàng lấy người nàng thì anh không thấy nàng đâu nữa. Rồi anh lại thấy nàng đang đứng cách xa anh bằng khoảng cách một con đường. Nàng yên lặng buồn rầu nhìn anh. Mặt nàng như mặt Mẹ Maria đang ngước lên nhìn Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Anh nhoài người về phiá nàng, thì bỗng nhiên, anh bị một cơn lốc cuốn đi, ném anh xuống bià rừng. Anh thấy cả đại đội đang dàn hàng ngang vượt nhanh qua trảng cỏ trước mặt. Phi cơ gầm rú trên trời, và những trái bom nổ ngay phòng tuyến địch, chỉ cách đại đội anh vài chục thước. Lửa, khói, tiếng nổ của đủ loại súng, và tiếng lựu đạn át cả tiếng hô xung phong, lẫn tiếng kèn thúc quân của phiá địch. Tiếng người bị trúng đạn như bị thụi rất gọn vào ngực. Rồi anh nghe thấy tiếng kêu thất thanh của mẹ anh- người mẹ đã lâu lắm anh không hề gặp. Anh bỗng thấy mình bị một khoảng không gian tối đen hun hút lao vun vút về phiá mình. Anh chỉ kịp hụp vội người xuống đủ để thấy mình đang bám vào bờ đất của căn hầm trú ẩn. Rồi khuôn mặt của Linh lại hiện ra, tươi cười, rực rỡ. Nàng dơ tay kéo anh ra khỏi hầm.

            Linh ngồi bên cạnh giường. Nước mắt lăn dài trên má. Cô thấy mắt anh mở hé ra, rồi lại nhắm nghiền lại. Anh ú ớ trong họng. Tay anh như muốn giơ lên, rồi lại hạ xuống. Cô nắm lấy tay anh , giữ nhẹ bên mép giường. Mạch vẫn còn đập. Rồi bỗng cô thấy một giọt nước mắt ứa ra bên khoé mắt cuả anh. Môi anh mấp máy. Hình như anh đang gọi ...Linh ơi!!!

CVA Sầu Đông

* * *

 

Đò trăng

 

Khép vòng tay, nối chân mây

Rót nghiêng túi hận ắp đầy thuyền trăng

Chất thơ lên, khua chèo nhanh

Chở theo sương gió ngày xanh lưu đày

Giã từ đất mượn đường vay

Nẻo về hoa cỏ chắp tay gọi mời

 (trích trong tập thơ “Đò trăng” đã xuất bản)

CVA Ngô Đức Diễm

* * *

 

Những Kỷ Niệm Quân Trường

CVA Việt Bằng

1

Tôi gặp quá nửa các bạn Chu Văn An trong Khóa Giáo Chức 9 tuần dành cho Giáo sư Ðệ Nhị Cấp Trung  Học và Giáo sư Ðại Học từ  01/09/1969 đến 01/01/1970. tại quân trường Quang Trung.

Tiểu đoàn 556/GC có 4 Ðại đội A,B,C,D. Tiến sĩ Lê Trọng Vinh, thứ trưởng bộ giáo Dục là khóa sinh tiểu doàn trưởng. Ðại đội D gồm 37 khóa sinh, tất cả là giáo sư tiến sĩ của 24 phân khoa thuộc Viện Ðại Học Saigon ngoại trừ một bạn khác và tôi  là GS Ðệ Nhị Cấp. Các đại đội A.B,C  1/5 là giáo sư Ðại học và 4/5 là giáo sư Ðệ Nhị Cấp.

Tại quân trường này tôi gặp rât nhiều bạn Chu Văn An, cùng lớp, cùng ban: GS Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, hiện là giảng viên Ðại Học George Mason VA, GS Tiến sĩ Tạ Văn Tài, giảng viên Ðại Học Havard, Massachusetts, BS Trần Hữu Nghiệp, giảng viên Ðại Học Y Khoa Saigon trước 30/04/1975, và rất nhiều bạn khác lớp tôi đã quên tên vì lâu ngày không gặp v.v...

2

“Chà láng” là bài học đầu tiên của tuần lễ thứ nhất. Hàng ngày, kẻng tập họp vào lúc 5 giờ sáng, khóa sinh tập trung đội ngũ chỉnh tề rồi nhẩy xuống hào bao quanh các doanh trại của Trung tâm Huấn Luyện Quang Trung để chà láng cả đáy và bờ hào. Những ngày trong tuần đầu, Khóa sinh học về đội hình hàng ngang, hàng dọc, di hành và thực tập tác xạ.

Ðối với các khóa sinh không có giấy phép rời trại về thăm nhà, ngày chủ nhật là ngày vui nhất trong tuần, tại vườn tao ngộ, người có gia đình có thể gặp bạn bè, vợ con, người độc thân gặp bạn gái,.

Ðang chạy bộ, Tiến sĩ Thủy hỏi tôi:

- Chuyện tình cảm của cậu có gì đặc biệt không?

- Không, có ma nào đến thăm mình đâu mà đặc biệt.

- Con gái, mỗi người là một hành tinh nhỏ, mình đã lạc vào, không tìm được lối ra và làm mình mất thì giờ kinh khủng.  Ði chơi một chút, mất cả buổi, cả ngày, gọi điện thoại thì mất cả giờ. Vì vậy tớ phải “kính nhi viễn chi” Tháng  3/1970, tớ trình bầy thêm một luận án tiến sĩ về Vi Sinh Vật tại Ðại học Irvine California. Ngày 20/02/1970 cậu sẽ nhận được giấy mời họp bạn của tớ để bạn bè có dịp bù khú với nhau trước khi đi Mỹ và ôn lại chuyện xưa, khi còn học Chu văn An.

3

Một sáng Chủ Nhật tuần thứ hai, thượng tuần tháng10/1969, tôi đang ngồi phơi nắng trên băng đá trong vườn Tao Ngộ, Trung Tậm Huấn Luyện Quang Trung, nhìn những người đẹp đang ríu rít trò truyện với những  sinh viên sĩ quan Khóa Giáo Chức, bất chợt một thiếu nữ đưa cho tôi  tấm hình một thanh niên và nói:

- Ðây là hình anh của em, mặt sau có số quân, anh có gặp không?

- Tổng số sinh viên sĩ quan 720 người, gần một nửa là bạn cũ nhưng tôi chưa gặp anh này bao giờ.

Tôi đưa nàng đến Phòng tiếp tân, nhờ một Thượng sĩ đọc số quân của anh nàng trên loa phóng thanh, bình thường chỉ 5, 7 phút thân nhân đến gặp ngay. Nàng chờ đến nửa giờ, không ai ra gặp. Tôi ái ngại nhìn nàng và nói:

  - Có lẽ cô ghi không đúng số quân, nếu đúng đã có người đến gặp cô rồi.

- Cảm ơn anh đã giúp đỡ, cũng đã đến lúc em phải về.

Nàng trìu mến nhìn tôi như muốn nói một điều gì, tôi mạnh dạn đề nghị:

   

- Cô ngồi đây, tôi đi  mua nước ngọt

- Em chỉ uống Limonade hay Café thôi, đừng mua thứ khác.

Sau khi mang về 2 chai Limonade, tôi đưa nàng đến một gốc cây xa xa ngồi nói chuyện.

- Tên em là Khánh Vân, sinh viên năm thứ tư trường Dược. Nhà chỉ có 2 chị em, Thúy Vân là chị, cũng học Dược, hơn em một lớp mới ra trường. Bây giờ anh nói về anh đi.

- Như em biết, anh là Khóa sinh Dự bị Sĩ Quan Khóa Giáo Chức, bảng tên trên ngực... Nàng ngắt lời tôi.

- Biết từ lâu, này anh Khóa này là Khóa Giáo chức Ðệ Nhị Cấp và Ðại Hoc phải không? Em đọc tin trong Báo Chính Luận. Vậy anh là G.S Ðệ Nhị cấp  hay G.S Ðại Học. 

- Em thất vọng rồi, anh chỉ là G.S  Ð2C chứ không phải giáo sư Ðại Học. Nếu em muốn gặp GS Ðại Học, chờ 1 chút, anh gọi mấy người bạn anh.

- Anh nói sai, em ưa người. Chức vụ, bằng cấp chỉ là những thêm thắt bên ngoài thôi.  Em chọn anh nói chuyện vì thích màu da hơi trắng của người miền Bắc và cái dáng dấp nghệ sĩ trí thức của anh, lại hơi bụi bụi nữa. Khuỷu tay áo sờn và bạc. Dây giầy buộc không kỹ, 1 chiếc giầy đã tuột dây. Tóc không chịu chải mà chỉ vuốt lên, kính trắng đeo không ngay mà hơi trễ xuống dưới lông mày v.v...

- Còn tội nào nữa, em kể tiếp đi

- Còn nhiều tội khác khi thân hơn em sẽ kể dại gì kể bây giờ, mất anh thì sao, vừa nói nàng vừa ngả đầu vào vai tôi.

- Em kiểm tra lại số quân của ông anh, lần tới đến sớm một chút, anh sẽ nhờ loa phóng thanh gọi khi chưa quá đông người. Tôi nhắc nhở.

- Thôi khỏi, em có anh nào đâu mà gọi, ngoài anh. Kiếm cớ làm quen vớI anh thôi. Thế mà có người dám nói “Thông minh nhất nam tử”. Nàng vừa nói vừa khúc khích cười.

- Mưu phụ nữ quỷ khốc thần sầu, chào thua em đấy.

Tiếng kẻng xa xa báo hiệu đã hết giờ thăm viếng, lúc đó 12:30 trưa, tôi đưa nàng ra tận cổng trại, cầm tay nàng xiết nhẹ. Nàng nhìn tôi, bịn rịn vẫy tay chào. 

Từ đó cho đến cuối khóa, Chủ nhật hàng tuần Vân đến thăm tôi mang nhiều quà bánh, tôi góp với các bạn trong đại đội ăn chung cho vui, hơn nữa quà bánh ê hề chẳng ai nghĩ đến ăn riêng. Trong đời sống quân ngũ, tình đồng đội quý hơn tất cả.

4

Hai tuần đầu, Khóa sinh chưa bén bảng đến “Hồ nước ăn” nhưng từ tuần thứ ba và thứ tư, khóa sinh đeo ba lô chạy trên những tuyến đường dài hơn, tập tành cũng cam go hơn cho đúng với khẩu hiệu “Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường  bớt đổ máu”, tự nhiên hồ nước ăn trở thành mục tiêu quí báu của khóa sinh, không lệnh nào ngăn chặn được.

Trước bữa cơm chiều, vừa hành quân về, nhiều khóa sinh bỏ cơm, tồng ngồng nhẩy vào hồ tắm rửa, quần áo nhà binh xếp từng đống phía sau hồ, trước ít, sau càng ngày càng nhiều.

Trước hồ, một con đường nhỏ tráng ciment, các cô nữ trợ tá thường đi qua để xuống nhà bàn, tự nhiên các cô rảo bước qua hồ, nơi mà khóa sinh gọi là “Vườn Ðịa Ðàng”, mắt các cô ngó thẳng và từ đó ít thấy các cô đi riêng rẽ, trong khi các khóa sinh đứng trên bờ kỳ cọ, bất chợt nhìn thấy “bóng hồng” đã đến quá gần, nhẩy xuống hồ ào ào...

Ngay hôm đó, Thượng sĩ nhà bàn lên văn phòng báo cáo và mời Ðại úy Minh xuống coi để giải quyết trường hợp này tại chỗ.

- Tôi biết khi đi qua hồ nước ăn chiều nay. Ðại úy nói.

- Nước sà bông váng trên mặt hồ làm sao nấu ăn? Thượng sĩ bực dọc.

- 12 giờ đêm, cho tạp dịch cọ rửa hồ thật sạch trước khi mở vòi nước chảy vào hồ, nếu buổi sáng sau mực nước còn thấp hãy gọi xe bơm nước, cưa sát mặt đất mấy cây rễ đã mục để xe dễ ra vào.

5

Tuần lễ thứ năm, ngày đầu tuần, Ðại Úy Minh khuyến khích khóa sinh làm báo tường như những khóa trước. Khóa sinh làm báo được hưởng quy chế tạp dịch được miễn ra bãi tập, ở lại doanh trai làm công tác của mình nhưng không được quá ba buổi liên tiếp.

Trưa hôm ấy tôi gặp Ðại úy Minh, trình bày:

- Chỗ dán báo tường loang lổ, cần phải quét vôi cả dẫy nhà, hơn nữa dẫy này lại trước cột cờ, có văn phòng của Ðại úy và cũng là mặt tiền của doanh trại.

- Vôi màu còn nhiều anh muốn chọn màu nào cũng được miễn cho đep mắt.

- Chiều nay, tôi cho người mang vôi màu đến văn phòng. Sáng mai khởi sự được không? Cần mấy người anh chọn trong danh sách tạp dịch này.

- Người quét vôi cần có ít nhiều kinh nghiệm pha màu, nếu chọn bất cứ ai, e công việc không bảo đảm. Tôi có thể chọn người của tôi được không?

- Ðược chứ, cho tôi tên khóa sinh.

- Nguyễn Ðông Ngạc, đại đội B, Lê Thủy và tôi, đại đội D.

    Ðêm ấy tôi báo cho mấy bạn tin này. Tiến sĩ Thủy reo lên:

- Cậu hay quá, tớ sẵn sàng theo đuôi. Cậu đã hỏi Ngạc chưa?

- Rồi, hắn đồng ý.

 Sáng hôm sau, Ðại Úy Minh đọc tên chúng tôi trên danh sách tạp dịch trong ba buổi sáng liên tiếp. Sau khi các bạn ra bãi tập, tôi đến chân tường hí hoáy pha màu nhưng không vừa ý, lúc vàng thẫm, lúc vàng nhạt gần như trắng.

- Cậu pha thế này thì không phải thợ cả, để tớ. Tiến sĩ Thủy nói.

- Cậu làm giùm đi.

Chưa đấy 5 phút, Thủy tạo ra màu vàng rất đẹp bằng cách thêm một chút vôi hồng. Tụi tôi phá ra cười. Thủy và tôi leo lên thang quét vôi từ mái xuống chân tường. Ngạc đứng giữa Thủy và tôi giữ thang cho chắc. Hắn khuân về những tảng đá thật nặng để giữ chân thang không nhúc nhích. Ba buổi sáng trôi đi rất mau, tôi đến văn phòng báo cáo công tác đã hoàn tất. Ðại úy Minh đi đi lại lại ngắm nhìn nhửng bức tường mới quét vôi và khen là đẹp. Bất chợt Ðại úy hỏi:

- Nhờ anh quét vôi luôn văn phòng sĩ quan trực nhật của tôi có được không? Tôi cho anh 3 buổi.

- Dạ, 1 buổi thôi.

- 2 buổi đi, làm cho kỹ hơn.

Thủy và tôi kéo dài việc làm cho đủ 2 buổi, Ngạc hơi buồn vì không có việc làm rõ rệt. Mỗi lần Ðại Úy Minh đến, Ngạc dùng 2 que ngắn khuấy cho sủi bọt 2 thùng nước vôi đã pha. Thấy vậy, tôi lấy chổi quét vôi kẻ vào mặt Ngạc mấy nét để nước vôi chảy từng giọt xuống màu áo xanh lính của Ngạc.

- Thế này mới giống lính thợ thứ thiệt, đúng không nào? tôi hỏi

- Thôi! đừng bầy trò nữa cậu.

6

Tuần lễ thứ sáu, chúng tôi phân công nhau làm báo. Tiến sĩ Thủy viết 2 bài biên khảo và giữ mục quan điểm, Ngạc 2 truyện ngắn, tôi 2 bài thơ, 1 truyện ngắn và giữ mục Sổ Tay Quân Trường.

Sau khi nộp bài cho tôi, nhìn nét mặt ưu tư của Ngạc, tôi hỏi:

- Cậu đau đấy à.

- Không, tớ phải về với tiểu đội ngay bây giờ để ra bãi tập kẻo rớt không được trả về nhiệm sở.

- Ðó là vấn đề chính sách, họ không trả mình về trường thì ai dạy học sinh không lẽ trường đóng cửa?

- Ðành vậy, nhưng có diểm khác biệt. Bộ Giáo Dục cần cậu hơn tớ vì cậu đứng lớp12, tớ 11.

- Ðừng nghĩ quẩn, ở lại với tớ 3 buổi thôi mà, không có gì đâu mà sợ.

Ngạc suy nghĩ  một chút, vẫy tay chào rồi đi.

- Cậu thấy chưa, chỉ có cậu với tớ dám uống thuốc liều, thiên hạ sức mấy mà bắt chước được tụi mình. Không chừng khi có kết quả tụi mình lại đậu cao đấy nhé. Thủy nói và cười.

- Mong vậy, diễn xuất không giúp được nhiều đâu nếu môn nào cũng không chiu tập, đậu cuối bảng là cái chắc.

7

Tuần lễ thứ 7, tôi thật bận rộn, đã quên đi chuyện làm báo tường. vài buổi sau đang đi trong hàng quân về trại, đại úy Minh gọi lại cho biêt Chuẩn Tướng Lê Ngọc Triển mới ghé thăm đứng đọc báo tường và khen bài có phẩm chất.

Tuần này, huấn luyện viên dạy 24 thế võ, mặc dầu biểu diễn rất chậm để khóa sinh có thể thấy rõ từng chi tiết của thế võ nhưng đa số chẳng nhớ được bao nhiêu.

Nghỉ nhiều buổi, tuần lễ thi cử lại tới gần Tiến sĩ Thủy và tôi cuống lên, mỗi khi di hành, chúng tôi gợi chuyện học lỏm đồng đội về những gì chúng tôi đã bỏ khi quét vôi, làm báo.

Cuối cùng chúng tôi tìm đến khóa sinh Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, người nổi tiếng có một trí nhớ siêu phàm, bài vở chỉ nghe qua một lần, không cần ghi trên giấy. Sau khi nghe Thủy và tôi trình bấy, anh cười và nhắc lại những điểm căn bản chỉ trong mười lăm phút, rồi nói:

- Chỉ bấy nhiêu, với trình độ của các anh, thừa sức làm bài rồi.

8

    Tuần lễ thứ tám là tuần thu hoạch, Ðại úy Minh phổ biến ngày thi các môn Tác xạ, bò hỏa lực, Leo giây, và Võ Tae Kwan Do cận chiến. Ngày đầu tuần, sáng sớm khóa sinh tập trung tại sân bắn thi tác xạ. Bia lên tôi bắn 5 viên đạn bằng súng Garand M1. Khi huấn luyện viên vẫy cờ cho đến bia xem kết quả, tôi được nghe giải thích:

- Anh có 1 viên trúng giữa hồng tâm, 2 viên vòng 2 và 1 vòng 3. Vết đạn của người thiện xa tập trung vào vòng 1 chứ không đi chơi ở vòng 2,3 như của anh. Ðiều này chứng tỏ viền đạn trúng hồng tâm là may, tuy nhiên anh cũng được điểm cao. Huấn Luyện viên nói với tôi.

Khi thi võ Tae Kwan Do, thấy khóa sinh loạng quạng, không nhớ được gì, Huấn Luyện viên ra đặc ân Khóa sinh chỉ phải biểu diễn 1 thế theo lệnh của ông va 1 thế nhiệm ý, để xếp điểm cao thấp, thi hay không cũng được và 2 khóa sinh có thể thi cùng một lúc.

    Tiến sĩ Thủy kéo tôi ra ngoài căn phòng dùng làm võ đường và hỏi:

- Cậu nhớ được mấy thế:

- 5 thế, tôi đáp

- Tớ cũng 5 thế căn bản như cậu. Tổng cộng là 10 thế, tụi mình chi ôn tập 10 thế này thôi. Huấn luyện viên hỏi bất cứ thế nào mình cũng chỉ biểu diễn 1 trong 10 thế mình biết. Coi như lộn thế, 24 thế làm sao nhớ hết được.

    Sau khi ôn tập với nhau 40 phút, chúng tôi bước lên bục gỗ thi võ:

- Thế 3, căn bản,  thế 16 nhiệm ý, Huấn luyện viên nói

Chúng tôi biểu diễn thế 3 thuần thục vì là 1 trong 10 thế căn bản, sau đó biểu diễn thế 6 nhuần nhuyễn.

Huấn luyện viên khen chúng tôi chịu khó ôn tập nhưng thế nhiệm ý ông thắc mắc không biết đã nói lộn thế hay chúng tôi nghe lộn và cho chúng tôi điểm tối đa trong khi nhiều khóa sinh bỏ không thi nhiệm ý.

Trưa và Chiều cùng ngày, Chúng tôi chỉ đat điểm trung bình về bộ môn “Bò Hỏa Lực” và ”Leo dây tử thần”

Ngày thứ sáu cuối tuần, Bảng Tổng Kết điểm thi được phổ biến, với đầy đủ điểm bộ môn, điểm tổng kết và thứ hạng của khóa sinh.

Tiến sĩ Thủy hạng 48/720 và tôi 46/720. Thủy nói với tôi:

- Thứ hạng này được đấy chứ.

- Cũng may rủi thôi. Tôi đáp

- Nếu tớ là thành viên ban chấm điểm, thì cậu được thêm điểm “mưu trí”.

- Thôi đi cậu, bể mánh bây giờ.

9

Tuần lễ thứ 9, tiểu đoàn giáo chức ôn tập liên miên về chiến thuật tác chiến trong thành phố, đêm di hành và đóng quân ngoài doanh trại.

Ðại đội đóng quân ở nghĩa trang, khóa sinh bốc thăm chia nhau trực gác đêm, mỗi người 2giờ. Sau ca trực từ 11 giờ đến  01 giờ. Tôi chọn một ngôi mộ cao, giải poncho nằm vì sợ rắn, quanh mộ xây đá hoa khá đẹp mắt. Mộ chí có ghi tên tuổi người quá cố, người nằm dưới mộ là một cô gái 17 tuổi.

- Ðể nhà thơ nằm với cô gái ma, nhớ đừng thượng mã phong, sáng mai chúng tớ mất công đào hố. Dưới này lâu lâu mới có một con nhái nhẩy lên mặt ngồi chơi, cầm nó dục đi là xong. Tiến sĩ Lê Thủy nói với đồng đội và tôi.

Nửa đêm có một cô gái áo bà ba xanh, quần đen đến, khều vai trái, tưởng là ma tôi định la lên, cô gái dúi vào tay tôi 3 gói đậu phọng rang, mỗi gói chưa đến mười hạt và nói 6$ tất cả. Tôi trả 10$. Cô gái mời ăn cháo gà để trong một cà men, tôi lắc đầu. Cô cảm ơn và đi chỗ khác bán hàng. Ðêm nào cũng vậy, như có hẹn lại đến, cô bỏ vào túi áo tôi 3 gói đậu phong nếu tôi ngủ, đêm sau tôi trả tiền cho cô.

Một đêm, cô gái đi sớm hơn, nói với tôi:

- Các anh đã đóng ở nghĩa trang 7 đêm, đêm nay là đêm cuối cùng ở đây, 3 gói đậu phọng này tặng anh đấy,

- Nhận như vậy bất công với cô, tôi vừa nói vừa trả 10$.

- Anh trả quà hay tiền là “khi” em, em muốn có một kỷ niệm với anh dù rất nhỏ nhoi vì biết chẳng bao giờ gặp lại anh nữa...

- Tặng cô một khăn tay Ý, tôi mới nhận được hôm qua

- Anh không tiếc chứ, cô gái rụt rè cầm khăn bỏ vào túi áo

- Tiếc đã không cho, cho thì không tiếc., tôi đáp

    Thấy cô gái ngần ngừ chưa muốn đi, tôi hỏi:

- Cổng nghĩa trang có cả tiểu đội lính gác, làm sao các cô vào trong bán hàng được?

- Ðúng vậy, không vào cổng chính được nhưng tụi em có thể trèo qua tường. Lúc đầu các chú lính không cho bán, tịch thu tất cả. Sau các chú thấy tụi em hiền như “ma soeur”, làm lơ cho bán hàng hơn nữa các chú cũng ăn uống vui vẻ với tụi em. Dần dần nhiều gánh hàng ăn tụ tập ở bên kia đường, anh muốn ăn thứ gì cũng có, kể cả muốn mua hoa nhưng em không làm nghề ấy vì còn đi hoc...hơn nữa còn muốn có một tương lai tươi sáng hơn.

Chợt nghe tiếng còi tập họp, lúc đó đã 11 giờ đêm, tôi lật đật gấp lại poncho, đeo ba lô chạy theo đồng đội. Tôi quay lại chào cô bé, người nhìn tôi với ánh mắt thật buồn...

Sau khi tập hợp, trong  hàng quân, dưới trời sao, Ðại Úy Minh nói:

            - Ngày mai, 7:30 sáng có 30 GMC tập trung trước cửa doanh trại đưa quí anh về Trung tâm Nhập Ngũ số 3, trong Biệt Khu Thủ Ðô. Từ đó quí anh có thể dùng phương tiện riêng về nhà. Từ 6:00 sáng, quí anh gặp tôi hay các sĩ quan trực nhận giấy trả về nhiệm sở. Quí anh có xe nhà đến đón, về lúc 6:30, đừng đậu lại trước cổng trại quá lâu gây trở ngại giao thông cho đoàn xe GMC. Ngay bây giờ, quí anh trở về trại đem trả hết quân trang, quân dụng và lấy lại những đồ dùng cá nhân đã mang theo. Ðêm nay sinh hoạt tự do.

Những tràng pháo tay vang lên tưởng như không bao giờ dứt...

Sáng hôm sau,  tôi đến Văn Phòng Trực rất sớm khi chưa đến 6:00, Ðại Úy Minh tươi cười trao cho tôi Giấy Trả Lại Nhiệm Sở và nói:

            - Em cũng là dân Chu Văn An, sau anh 3 lớp.

            - Tại sao chú không cho tôi biết khi mới nhập trại. tôi hỏi.

            - Không dám đâu, sợ anh vi phạm Kỷ luật, bắt anh “hít đất” giữa hàng quân, đau lòng cho cả hai. Phải đợi đến bây giờ, khi anh trở về đời sống dân sự mới dám nhận nhau, Em vẫn là đàn em của anh mà...

     10

Sau ba ngày nghỉ ngơi, tôi trở lại nhiệm sở làm công tác giảng dạy như thường lệ. Khi tôi xuống nhà xe để lấy Honda ra về, bàn tay con gái bịt mắt tôi:

            - Bàn tay này lạ lắm, Vân phải không? Bỏ tay xuống cho anh thấy đường kẻo đụng xe người khác tróc sơn.

            - Không bỏ, nói có bao nhiêu bàn tay quen, em mới bỏ.

            - Có bàn tay này thôi, lúc nãy nói lộn.

            - Có thế chứ, nên nhờ rằng em thông minh không kém anh đâu, Vân vừa nói vừa cười và bỏ tay xuống.

Sau đó Vân mời tôi ăn sinh nhật của Vân tại nhà hàng Thủ Ðô, đường Trần Hưng Ðạo. Bữa ăn hốm ấy, tôi dành toàn tâm toàn ý để hát bài Happy Birthday, và Que Sera tặng Vân.

      11

Hơn một tháng sau, Khánh Vân đến đón tôi về nhà dùng bữa trưa. Khi tôi đến nơi, bàn dã dọn ra với nhiều món ăn đặc sản của miền Nam. Thúy Vân, chị của Khánh Vân, vui vẻ kéo ghế mời tôi ngồi và nói:

            - Tụi em là người Cần Thơ, quận Ô Môn nên quen làm những món ăn miền Nam hy vọng lần sau có thể nấu những món ăn Bắc.. còn nữa, anh có nhận ra  cô gái xinh đẹp  ngồi đối diện với anh không?

            - Hoàng Quỳnh, cô em họ của tôi chứ ai...

            - Anh cảm động quá “khớp” rồi sao, giữa Thúy Vân và Khánh Vân không biết chọn ai có phải không? Hoàng Quỳnh vừa nói vừa tủm tỉm cười...

            - Lạc vào động Thiên Thai, gặp toàn tiên nữ, kẻ phàm tục này đâu có diễm phúc được lựa chọn.. Tôi đáp.

Sau bữa ăn, Hoàng Quỳnh đưa tôi về nhà, trên xe Toyota trắng mới mua, Hoàng Quỳnh nói:

            - Em với Thúy Vân là bạn cùng lớp, cùng tốt nghiệp Khóa Tháng 6/1969, ý em, Thúy Vân thích hợp vói anh hơn vì biết lo làm ăn, Khánh Vân còn quá trẻ, xí xọn, lý lắt như Hoàng Lan Chi vậy.

            - ...nhưng Khánh Vân có quá nhiều kỷ niệm với tôi ở Quân Trường.

            - Người chủ xướng đưa anh về gia đình này là Thúy Vân, buổi họp bạn tại nhà em, Vân đòi xem Album của gia đình, thấy nàng  ngắm nghía mấy cái hình của anh, Em và Hoàng Lan Chi chụp chung. Em hỏi Vân có muốn làm chị, mua tặng em Channel No.5. Nàng cười và đấm thùm thụp vào lưng em. Chai nước hoa em tặng anh là của Thúy Vân. Vì tính e lệ của Thúy Vân, Em và Thúy Vân cử Khánh Vân đi gặp anh ở quân trường không ngờ nước cờ cao ấy lại trở thành thấp vì Khánh Vân đi quá sâu vào tình cảm của anh.  Ðáng lý Khánh Vân đưa anh về, em phải dành lấy cơ hội này nói rõ cho anh biết để cư xử cho đúng.

           CVA Việt Bằng

* * *

 

Nơi Một Thủa Mùa Xuân Còn Ở Đó

   
Anh ngồi đó mơ thiên đường hạnh phúc,
nắng nhung mềm rõ nét dáng hình em.
Với em, anh muốn nói điều rất riêng
bên chồng sách chợ chiều đang phủ bụi.

Chưa gió nổi mà nghe lòng bối rối,
vì tình em trôi nhẹ nhẹ như mây.
Có thể nào ràng buộc được chân mây,
nơi một thủa mùa Xuân còn ở đó.

Anh sẽ về để nghe em nói nhỏ,
chuyện tình yêu - những chuyện ngắn, chuyện dài.
Và đặt nhẹ bàn tay trên bờ vai,
năm tháng đi mà tình không chia cắt.

Sương nơi ấy như triền mây trắng đặc,
anh vẫn chờ em trắng một bến sương.
Tưởng đã thân, mà ánh mắt hoang đường
Em có nhìn anh như người lạ mặt?

Những con chim khoác áo màu hong nắng,
tiếng hót bay cao rất đỗi lạ lùng.
Với anh, từ sâu thăm thẳm đáy lòng,
lời em nói như vẫn còn âm vọng...

 CVA VIỆT BẰNG

* * *

 

 

Hà Nội Trong Tôi

CVA Nguyễn Văn Khôi

 

Nếu ngày xưa, “Hàng năm cứ vào ngày cuối thu, khi lá vàng rụng nhiều, với bầu trời đầy sương thu và gió lạnh là lòng… của Thanh Tịnh… lại nao nao nhớ đến buổi tựu trường…”; thì bây giờ, mỗi khi nhìn hoặc nghe thấy bất cứ một cái gì dính dáng tới Hànội, lòng tôi cũng nao nao có một cảm giác bâng khuâng không kém!!!  Vì thế, mỗi khi nghe hoặc thấy một diều gì liên quan tới Hànội là tôi lại phải cố tìm xem hoặc đọc xem cho bằng được.

Tôi còn nhớ rõ ràng cuộc di cư lần đầu, từ Hànội vào Saigon năm 54, hồi đó khi chưa hết hạn 100 ngày di chuyển giữa Bắc và Nam, đài phát thanh Saigon luôn luôn cho hát bài “Hướng về Hànội” của Hướng Dương:

…“Hànội ơi hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo mầu tung gió chơi vơi, Hànội ơi…”  không hiểu với mục đích gì?

Để an ủi những tâm hồn lãng mạn của những người giầu tình cảm khi họ phải xa Hànội… hay là một mánh khóe của tụi ác ôn côn đồ Cộng Sản, chúng muốn lôi kéo trở lại những người đã chót ra đi không muốn ở lại với bọn chúng ???

Sau này lại có một bài ca mới nữa về Hànội của một chàng trai Hànội cũng vừa mới phải dứt áo ra đi để vào Nam tìm tự do. Tôi không nhớ tên tác giả bài này, (1) tôi chỉ nhớ là bài đó có những câu… “Tôi xa Hànội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…”. Lúc đó tôi đã 19 tuổi và cũng chưa từng yêu ai, nên khi hát bài này một mình tôi đã sửa lại lời ca một chút… “Tôi xa Hànội năm lên 19 chưa hề biết yêu…..”.

Tuy rằng tôi chưa hề yêu một cô gái Hà Thành nào cả nhưng tôi cũng không thể đành lòng xa Hànội, nơi tôi có biết bao là nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu. Hànội với những hồ Gươm, hồ Halais, hồ Tây, hồ Trúc Bạch…với những đường Cổ Ngư, đường Quan Thánh, đường Cửa Bắc, với những chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Đủi và những trường Nguyễn Trãi (trường Đồng Khánh tức là trường con gái cũ) các trường Đỗ Hữu Vị - tôi học ở cả hai trường D.H.Vị này. Trường Tiểu Học Đỗ Hữu Vị ở cuối Hàng Than và gần hồ Trúc Bạch, nơi tôi học những lớp Enfantin, Préparatoire rồi Moyen 1, Moyen 2 năm 1945 khi Nhật đảo chánh Pháp, và một trường Đ.H.Vị nữa ở cạnh đường Cửa Bắc, hồi Pháp thuộc là trường École Normale Sup, sau này là trường Chu văn An nơi tôi học những lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ

Năm 1952, tôi rời C.V.A. về Nguyễn Trãi, ở đây tôi là một cầu thủ đáng giá của trường về các môn bóng đá và bóng rổ. Ở trường này, tôi luôn luôn được dự những trận đấu bóng tại Sân Hàng Đẫy, một hai lần tại sân Mangin ở đường Cột Cờ hay tại sân Ếclaire ở đường Bờ Sông. Về Bóng rổ chúng tôi luôn luôn thi đấu tại Sân Tòa Thị Chính Hànội, cũng đôi khi tại những sân khác như Sân Chợ Gạo tại phố Hàng Khoai, sân của trường Albert Saraut. Trận đấu cuối cùng của chúng tôi tại Hànội là trận đấu với Sinh viên của trường Đại Học Hànội để khánh thành cái sân mới mở của trường Đại Học này.

Tóm lại, tôi phải đau đớn mà rời xa cái thành phố thân yêu này, cái thành phố có… nào là hồ Hoàn Kiếm với những hàng liễu rũ xuống mặt nước trong xanh đầy thơ mộng, nào là hồ Halais yên tĩnh nằm tách biệt hẳn với Phố Huế ồn ào nhộn nhịp, nào là con đường Cổ Ngư với những hàng cây cao, mát, nằm giữa hồ Trúc Bạch và Hồ Tây…

Để tìm lại những kỷ niệm xưa về chốn ngàn năm văn vật đó, lúc đầu, không sách nào viết về Hànội mà tôi không đọc, không buổi họp mặt nào của những người Hànội mà tôi không đi. Nhưng phải thú thật rằng tôi đã gặp phải không ít những điều thất vọng .

Trước hết tôi muốn nói đến một cuốn sách có tựa đề là “Phượng vẫn nở trên bầu trời Hànội” của một bà mà tôi dã quên mất tên, bà này là chị một bà bạn của vợ tôi. Dĩ nhiên là tôi đã không mua cuốn sách này, nhưng tôi cũng đã đọc qua vì bà xã tôi đã bị tặng cuốn sách này. Tôi nói rằng chúng tôi “bị” tặng vì…đáng lẽ theo như tên sách chúng tôi phải được thấy lại những hình ảnh thân thương của chốn cũ mỗi khi hoa phượng nở, đáng lẽ tôi phải thấy lại cái nhộn nhịp của mùa thi, cái không khí của những ngày sắp bãi trường. Thông thường là vào dịp này các trường thường hay tổ chức những buổi “đại hội Hè”- Hình như hè năm trước trường Chu Văn An có tổ chức một buổi đại hội như thế và trong đó Ban Hợp Ca của  nhà trường có hợp ca bài Hè Về của thầy Hùng Lân. Nhạc sĩ Hùng Lân là giáo sư dậy nhạc của trường C.V.A. cũng như nhạc sĩ Chung Quân là giáo sư dậy nhạc của trường Trung học Nguyễn Trãi. Hè năm đó thầy Lân đã soạn lại, hòa âm lại bài “Hè về” lúc đó đã được nổi tiếng của thầy và đích thân thầy hướng dẫn ban hợp ca của trường luyện đi, luyện lại nhiều lần. Lúc này tôi hãy còn là học sinh lớp Đệ Tứ của trường nên tôi đã được nghe ban hợp ca của trường này hợp ca nhiều lần, nhưng cuối cùng hình như không được vừa ý với ban hợp ca hay vì một lý do gì không biết, bài hợp ca này đã không được thầy Lân cho đem ra trình diễn trong ngày đại hội bãi trường năm đó. Tôi chỉ có thể nói là hình như thôi vì thú thực rằng tôi cũng không nhớ đuợc rõ lắm là bài này có được trình diễn hay không nữa, năm mươi mốt năm đã qua rồi còn gì !!! Nhưng dù có được đem ra trình diễn ở ngày đại hội hay không thì chúng tôi, những học sinh của C.V.A. cũng đã được thưởng thức bản hợp ca này nhều lần khi họ còn đang tập dượt trong căn phòng lớn của nhà trường nơi mà ở một đầu có thiết lập một cái sân khấu trong khi ở đầu kia, nơi gần các lớp học thì lại là nơi mấy bà vợ của những ông lao công trong trường đặt ra những quầy hàng để bán các thứ quà bánh cho học sinh trước giờ vào học hoặc trong giờ chơi. Tiếng ca của họ vang vang lên tận những lớp học của chúng tôi nên ai cũng được nghe hết… Vì  lúc này là những ngày cuối năm nên thầy Hiệu Trưởng Vũ Ngô Sán đã mặc nhiên chấp nhận điều này.

Mùa Phượng nở là mùa mà trai thanh gái lịch của Hà Thành phải kéo nhau ra hóng mát tại Hồ Gươm đi dạo mát quanh hồ, vào những quán dựng lên ở quanh bờ hồ để uống nước dừa… hoặc vào quán mụ Béo để ăn kem, ăn bánh tôm…, hay lên đường Cổ Ngư để bơi thuyền trên Hồ Tây. ọn học sinh chúng tôi lúc đó chỉ thường lên đó để ăn bánh tôm ở phía bên hồ Trúc Bạch…

Hoa Phượng nở đỏ rực trên bầu trời Hànội cùng với tiếng ve sầu kêu ran ran suốt ngày hẳn đã in sâu vào tâm khảm của những người Hànội. Nhắc tới mầu hoa phượng là phải nhắc đến những liên hệ của nó trong thành phố mới đúng, đằng này trong quyển sách trên  bà chị của bà bạn vợ tôi lại chỉ khoe khoang về cái giầu sang của nhà mình cùng là tự nói đến các sắc đẹp của chị em nhà mình, trong khi đó thì bà xã tôi lại nói là điều này hoàn toàn… sai sự thật  nghĩa là họ rất… không được như lời họ tả.

Về cái “sang” cái “qúy” thì tôi không muốn nói ra thôi chứ thực ra là gia đình nhà tôi mới thực sự là... sang, quý. Chúng tôi đúng ra là dòng dõi, con cháu nhà vua đó. Không phải là vì tôi mang họ Nguyễn đâu. Nhà Nguyễn của vua Gia Long thì có gì đáng hãnh diện đâu mà phải vơ vào. Công của nhà Nguyễn có chăng thì chỉ là mở đường cho người Pháp tiến vào Việt Nam qua ông Giám Mục Bá Đa Lộc hoặc có công diệt được dân Chiêm Thành cũng như chiếm được Thủy Chân Lạp của tụi Miên cùng với biết bao nhiêu là hành động không được nhân đạo cho lắm để ngày nay nhân dân Việt Nam ..lãnh đủ!!!

Không, chúng tôi ở một bậc cao hơn kia. Nói về dòng dõi của gia đình tôi thì không ai trong nước Việt Nam này có thể phủ nhận được. Thưc vậy ông tổ của chúng tôi là …18 đời Hùng Vương đó, điều này tôi không có khoe bậy phải không?

Về sắc đẹp thì chúng tôi phải thú thực là tôi không thể tự nói lên được, tất nhiên là không ai muốn tự nhận là mình xấu, nhưng chúng tôi cũng không thể tự khen là mình đẹp được dù rằng “Le Moi est toujours aimable”. Tôi không muốn nói ở đây là chúng tôi rất đẹp, thực sự thì tôi hồi xưa  cũng khá đẹp trai… nếu tôi không hơi có một chiều cao khiêm nhường và nhất là nếu tôi không bị hơi… còng. Tôi nhắc lại là tôi bị hơi còng chứ không phải là gù như anh bạn Nguyễn văn Nghi người cùng học với tôi ở C.V.A. nhận xét và nói lên khi tôi điện thoại sang Houston để liên lạc với  anh. Hôm đó sau khi nghe tôi khai ra bản “Lý lịch trích ngang” xong, anh nói rằng “À! Tôi nhớ ra rồi, là Khôi gù người nhỏ con và chạy thoắt một cái rất nhanh để theo bóng có phải không?”.

Tôi không muốn khoe khoang cái sắc đẹp của anh em chúng tôi để rồi có người biết chúng tôi lại phải lên tiếng phản đối. Tôi biết rằng tôi có thể nói đại là anh em chúng tôi ai cũng đẹp trai đẹp gái hết vì tôi sẽ không dại gì mà đưa hình của chúng tôi vào bài này như anh chàng  cựu phi công có tên là Trường Xuân Lê Xuân Nhị… còn những người thực sự biết chúng tôi thì… chắc không ai hơi đâu mà … lên tiếng, vạch trần cái láo lếu đó ra.

Quyển “Phượng vẫn nở trên bầu trời Hànội” đã là điều thất vọng đầu tiên của tôi về cái ảo tưởng là những gì viết về Hànội phải là đẹp đẽ lắm.

Về những buổi họp của những người Hànội thì… trong một buổi họp mặt tất niên của cựu học sinh C.V.A. dưới San José vào năm “chín mấy” khi tôi mới sang Mỹ được một hay hai năm gì đó và vợ chồng tôi được vợ chồng anh Trần Quang Lãng, nguyên Tổng Giám Thị của trường Chu Văn An cho tới 1975, mời xuống dự. Trong buổi họp năm đó tôi thấy có cả mấy thầy cũ lúc đó đã khá già …như thầy Nguyễn Đức Hiếu, thầy Nguyễn Khắc Kham…những người đã trên bẩy chục hoặc trên tám chín mươi cả - lúc đó tôi cũng đã gần sáu mươi rồi còn gì - Tôi phải nói hơi kỹ về tuổi tác của mấy thầy vì hôm đó có một mục “Diễu” và một anh tự xưng là cây diễu của C.V.A. đã lên diễu, chính cái điều mà anh chàng này…dĩ nhiên là trẻ tuổi hơn tôi nhiều… diễu làm cho tôi bất mãn. Bất mãn vì câu chuyện tếu của anh ta có vẻ tục tĩu quá khiến cho mấy bà phải nhăn mặt lắc đầu. Anh chàng này chắc là đã sang Mỹ từ hồi nhỏ nên đã tưởng rằng mấy trò tếu của Mỹ là hay và có thể đem áp dụng cho Việt Nam được nên đã đem ra trình diễn trước mặt những bậc thầy đã khá già của anh ta ….Nếu là trong  một buổi đại hội của các cựu quân nhân, hay cựu tù cải tạo thì còn có thể chấp nhận được, đàng này lại là trong một đại hội của các cựu học sinh thì lời diễu đó không thể tha thứ được. Bất cứ lời phát biểu nào trong một cuộc họp loại này phải có vẻ lịch sự và có văn hóa mới được chứ…. Tôi đã quá lạc hậu hay là đã quá bảo thủ nên đã không theo kịp đà tiến triển của thời buổi văn minh tiến bộ mới rồi chăng  ???.

Kể từ buổi đó tôi không muốn dự những buổi họp tất niên loại này nữa. Mãi tới năm ngoái tôi mới lại đi dự một buổi tất niên của cựu học sinh C.V.A. vì tôi muốn xuống San José để gặp lại thầy Lê Văn Lâm, người đã dậy chúng tôi môn Lý Hóa năm chúng tôi học lớp Đệ Nhất B3. Trong dịp này tôi mới biết là anh Đinh Tiến Lãng cũng là một giáo sư của C.V.A. Trước kia tôi tưởng là anh chỉ dậy ở các trường tư thôi. Anh D.t.Lãng này là sinh viên từ Hànội vào nên anh ở trong Đại Học Xá Minh Mạng số 320 Minh Mạng, thuộc quận 5 Chợ Lớn. Tôi quen anh khi tôi vào ở trong ĐHX này..

May mắn cho tôi là còn những cuộc họp khác nữa như các buổi họp tất niên hay tân niên của các cựu học sinh và cựu giáo sư và nhân viên của trương Nguyễn Trãi, các buổi họp này được tổ chức ở dưới Wesminster. Trong những cuộc họp này các cựu học sinh của chúng tôi tỏ ra rất dễ thương và chúng tôi nói chuyện rất đứng đắn về tin tức của những bạn bè còn ở lại. Đặc biệt là chúng tôi có nêu rõ trong bản nội qui là hội của chúng tôi chỉ là hội để trao đổi tin tức với nhau chứ tuyệt đối không bàn về chính trị.

Trong những buổi họp mặt này, những giáo sư người Hànội chúng tôi có dịp để nhắc lại vài kỷ niệm xưa cũ. Trong những người này thì thầy Lê Văn Quýnh là cựu giáo sư của trường Nguyễn Trãi Hànội còn tôi và anh Đỗ Đình Tuân lại là học sinh cũ của trường này ở Hànội. Giữa những học sinh cũ của Hànội với nhau thì chúng tôi có nhiều kỷ niệm để nhắc với nhau lắm…..

Đến đây tôi chợt nhớ tới một bài viết của ông Phan Lạc…gì đó (2) mà xin lỗi tôi quên mất tên rồi, trong đó ông ta nói là: “…Thanh niên Hànội năm 54 là những chàng trai với những mái tóc bóng lộn brillantine”. Không hiểu ông này có nhầm lẫn 54 với 45 không? Vào năm đó tôi đã được 19 tuổi rồi, không hiểu có được coi là thanh niên chưa hay vẫn còn là trong tuổi thiếu niên? Trong nhà, anh em chúng tôi không bao giờ có một lọ brillantine nào cả. Anh em chúng tôi đã vậy mà mấy người bạn của anh em chúng tôi cũng không có ai có cái đầu brillantine bóng lộn cả đâu. Trong những trường tôi học như Chu Văn An, Ngyễn Trãi và cả trong những trường như Albert Saraut, Puginier… các học sinh đàn anh của tôi trong những lớp trên. Những lớp Đệ Nhị Đệ Nhất, Première, Terminale tôi cũng không thấy ai có những cái đầu như vậy. Nếu cho là học sinh thì dù ở lớp nào đi nữa cũng chưa là “thanh niên” thì mấy anh Sinh Viên của Đại Học Hànội thì sao? Mấy anh này có phải là ai cũng chải đầu brillantine bóng lộn cả đâu? Chắc chắn là có một số thanh niên học sinh, sinh viên có những thói quen dùng brillantine như vậy nhưng nói là tất cả thì… không phải. Tuy nhiên cái điều này cũng chẳng có gì là đáng thắc mắc lắm vì cũng có thể là tôi sai vì đã không chịu quan sát kỹ và nhất là… đúng hay sai thì cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến cái “hình dáng của Hànội”. Cái thất vọng nhất của tôi là… mới đây trong một lần nghe mấy bản nhạc qua một cái website của Hànội “bây giờ”, tôi thấy trong đó có đôi lời nói về Hànội… trong đó có một bài hát tên là gì thì tôi không để ý mà chỉ nghe thấy hát những câu “…mùa Thu Hànội…ta nhớ mùa Thu Hànội …” của một tên cán bộ nói về những cái đẹp của Hànội. Anh ta nói giọng đặc Sè gòn. Anh ta khai rằng anh ta đã ở nơi ngàn năm văn vật này từ khi được tập kết ra Bắc và nay thì đang ở Saigon. Anh ta nói là Hànội đã cho anh ta nhiều kỷ niệm, đã khiến anh ta trở thành nhạc sĩ và nay làm bài này để nhớ về Hànội. Có điều là bài ca này cũng không có gì là hay ho cả không thể sánh với các bài “Hướng về Hànội” hay bài “…Tôi xa Hànội năm lên mưòi tám khi vừa biết yêu…”. Anh ta là nhạc sĩ Mộng Điệp thì phải. Trong thực tế thì anh cán bộ này là người đã ở Hànội tới hai chục năm; trong khi tôi thì chỉ được ở nơi này có hơn mười năm và ngày nay, tôi cũng như nhiều người Hànội khác thì lại phải lưu lạc tản mác khắp bốn phương trời, trên mọi nẻo đường thế giới.

Tôi có được nghe mấy anh bị ra cải tạo tại miền Bắc nói lại rằng: có một hôm, khi đi lao động tại một cánh rừng nào đó trên một “miền cao” ở ngoài Bắc, các anh đã được thấy có mấy người “bản xứ”, những người này ăn mặc hơi khác những người Thượng ở đây, họ mặc những quần áo tuy đã cũ nhưng là quần áo kaki và các anh thấy họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Các anh thấy lạ mới tìm cách bắt chuyện thì mới biết rằng họ là những người… mà xưa kia là dân Hànội và là những công chức của chính quyền Quốc Gia hồi năm 54. Họ đã chót dại ở lại để sau đó bị tập đoàn Hồ Chí Minh đẩy họ cùng với gia đình ra khỏi thành phố, nhường lại nhà cửa cho những tên thống trị mới. Thì ra sau Hiệp Định Genève chia cắt đất nước năm 54, một phần dân Hà Thành như chúng tôi thì vội vã di cư vào Nam, một phần thì bị Chính Quyền mới đẩy ra khỏi Thành Phố, chỉ còn lại một số nhỏ được ở lại mà thôi, trong đó có gia đình của mấy anh bạn học cũ của tôi như gia đình anh Trần Hùng con của họa sĩ NGYM trong Tự Lực Văn Đoàn…Tóm lại, phần lớn những người ở Hànội bây giờ là những người không phải là những người thực sự Hànội.

Nếu ngày xưa, hình như cụ Tản Đà Nguyẽn Khắc Hiếu có nói là “…Muốn ăn ngon thì phải có: Thức ăn ngon, nơi ăn ngon và nhất là phải có người ăn ngon thì mới thực sự ngon…” thì bây giờ tôi cũng có thể nói rằng: “Muốn là người Hànội thì phải có cái phong cách của người Hànội. Cái phong cách này được thể hiện qua những hình thức như sau:

…Trước hết thì Giọng nói phải là dịu dàng êm dịu, đúng ra thì phải là giọng Hànội nghĩa là một giọng của miền Bắc, dĩ nhiên. Lời nói thì phải ôn tồn lịch sự, khéo léo tránh những câu thô lỗ. Ăn mặc thì phải ăn mặc cho đứng đắn, không bao giờ mặc quần đùi, may ô hay mặc quần áo ngủ mà bước ra khỏi nhà dù chỉ là ra đầu phố để mua tờ báo chẳng hạn. Dĩ nhiên là ta nên tránh những lời nói, những lời mời đãi bôi của những người Hànội xưa, những lời nói không thật  …như khi được mời ăn mà mình không muốn thì chỉ nên nói là “Cảm ơn …xin anh chị cứ tự nhiên, lát nữa chúng tôi xin quay lại ”, chứ đừng nói là “chúng tôi vừa mới ăn xong” trong khi thực sự thì chúng tôi lại rất đang đói.

Tới đây tôi mới thấy rõ cái tội trạng của tên già Hồ. Đúng là con quỷ già này đã đưa cả nước Việt Nam trở lại thời kỳ “đồ đá”, làm cho những người Hànội cũ mất đi cái phong thái của người Hànội xưa. Thật vậy, vào năm1982 sau khi tôi mới ra từ được ít tháng thì ông bạn thân cũ của tôi ở Hànội vào Saigon để họp hành gì đó và có ghé lại tôi chơi. Thấy anh ta mà tôi phát ngán, ngày xưa anh bạn Trần Hùng của tôi rất xinh trai nhưng khi gặp tôi năm đó thì tệ quá… với bộ đồ bộ đội và cái nón cối sùm sụp trên đầu, ống quần thì kẹp lại, một tay thì giắt chiếc xe đạp… tôi thấy anh không giống ai hết…. Bây giờ già rồi thì dĩ nhiên không thể còn đẹp đẽ như ngày trước nữa nhưng ít ra nếu anh ta không ăn mặc như vậy thì trông cũng không đến nỗi nào.

Với thời gian thì mọi vật đều phải thay đổi, tôi biết là ngay như tôi ngày nay, tôi cũng không còn gì là người Hànội nữa, giọng nói của tôi tất nhiên không còn là giọng nói của người Hànội xưa. Con người tôi cũng vậy, sau 6 năm trong các trại Cải Tạo bây giờ tôi trông bệ rạc rất nhiều tuy vậy cũng không bệ rạc quá nhiều như anh bạn Trần Hùng của tôi dù anh ở bên phe chiến thắng, nghĩa là không hề phải đi Cải Tạo.

Điều này làm tôi nhớ đến lời của một bà chị một ông bạn tôi, bà Phạm thị Tự, Giáo Sư của Đại Học Văn Khoa Saigon. Khi mới ra tù tôi có đến thăm bà và trong một câu chuyện nào đó tôi có nói là “Em muốn ra thăm lại Hànội quá mà chưa có phương tiện” thì bà nói ngay với tôi rằng: “Cậu không nên ra, nếu cậu muốn giữ cái bonne impressions về Hànội cũ thì cậu không nên ra. Về phong cảnh thì Hànội bây giờ bẩn thỉu và cũ rích. Nhà cửa đã từ lâu không được sơn sửa lại, còn người Hànội thì bây giờ không còn là người Hànội cởi mở như ngày xưa nữa… họ ở dưới chế độ nghi kỵ quen rồi nên họ không dám thật lòng với cậu đâu nhất là cậu lại phải đi cải tạo lâu đến như vậy. Tôi còn bà mẹ già ở ngoài đó thì tôi phải ra chứ còn cậu thì không nên.”…. Nhiều người nói là ngoài đó bây giờ đã đổi khác rồi không còn như hồi đó nữa đâu, nhưng tôi vẫn không có ý định về thăm lại nơi đó nữa… dù là tôi vẫn nhớ Hànội sau năm mươi năm xa cách. Và ngay cả với Saigon, nói chung là với Việt Nam tôi sẽ không bao giờ về nữa khi chế độ cầm quyền hiện nay còn tồn tại. Tôi rất sợ nghe những lời tuyên truyền giả dối, nói láo trắng trợn của bọn chúng….Để vơi đi những niềm nhung nhớ đối với Hànội xưa tôi chỉ còn biết ôn lại những kỷ niệm trong lòng mình hoặc tìm những sách báo hay những gì nói tới nơi chốn cũ mà thôi, chứ nhất định tôi sẽ không trở về Hànội nữa.

                        Nguyễn văn Khôi

    San Francisco, ngày 07 tháng 12 năm 2004

 

(1)và(2)  Anh Tạ Quang Khôi mới cho tôi biết là bản “Nhớ về Hànội” là của Hoàng Dương, và thanh niên Hànội hồi đó thật sự có những cái đầu bóng nhẫy brillantine đúng như trong bài viết của Phan Lạc Tiếp.

              

 Đây là hình ảnh của chúng tôi. Những sinh viên ở phòng 2/1

ĐHX Minh Mạng Chợ Lớn. Tôi là người cuối cùng bên phải.

Đây là hình tôi chụp ở Houston                                                                                                                               

                                             Vào tháng 12-1990 khi tôi mới sang Mỹ

* * *

 

 

Tượng Đài Lưu Niệm “Crazy Horse” (Ngựa Điên),

Vị Anh Hùng Của Người Mỹ Da Đỏ

 

CVA Nguyễn Duy Hảo

 

Ở vào lứa tuổi trên 6 bó rưỡi như tôi hiện nay, khi mở đài truyền hình Mỹ, băng tần AMC (American Movie Classic), gặp những phim cũ có “mọi” da đỏ tấn công đoàn lữ hành khi đi qua vùng đất của họ, cuộc chống trả mãnh liệt của những tay súng cow-boys, đến đoạn tiếp cứu của đoàn kỵ binh Mỹ, tôi thật sự vẫn cảm thấy hồi hộp, hào hứng theo dõi bộ phim như thủa nào hãy còn 11, 12 tuổi, vào những năm 1950, 51 tại quê nhà.

Khi những người da trắng đầu tiên đặt chân lên Mỹ châu thì người da dỏ đã sống trên vùng đất này rồi. Bọn trẻ chúng tôi thường hay gọi những bộ lạc da đỏ là “mọi” cũng như những bộ lạc da đen ở Phi châu qua những phim Tarzan. Có lẽ danh từ “mọi” là để ám chỉ đến những người sống man khai với những phong tục tập quán kỳ dị, kém văn minh. Ảnh hưởng bởi các bộ phim Mỹ, người da đỏ Mỹ châu, người da đen Phi châu đều được coi là “phe gian”, chống lại “phe ta”, những tay súng cow-boys bách phát bách trúng, những nhà thám hiểm, những kẻ đi chinh phục, xâm chiếm những vùng đất lạ. Tuổi trẻ bị ảnh hưởng nặng nề bởi phim ảnh nên những đoạn phim mà mọi da đỏ phải tháo chạy khi đoàn kỵ binh xuất hiện, thể nào cũng có thêm những tràng pháo tay ủng hộ vang rạp của những khán giả thiếu niên như chúng tôi.

Tháng 7 vừa qua, nhân chuyến viếng thăm công viên quốc gia nổi tiếng Yellow Stones và Mount Rushmore, nơi có tượng vĩ đại của 4 vị tổng thống Mỹ được khắc vào núi, tôi lại có dịp được biết thêm về một tượng đài lưu niệm đã được khởi công và đang tiếp tục, một tượng đài cũng sẽ vĩ đại, để ghi lại một dấu chứng lịch sử về người Mỹ da đỏ tại vùng đất của họ. Tượng đài Crazy Horse (Ngựa Điên), vị anh hùng của người mỹ Da Đỏ đã được đục khắc trên núi như hình tượng của 4 vị tổng thống Mỹ trên Mount Rushmore.

Theo tài liệu, có đến hơn 500 bộ lạc da đỏ lớn, nhỏ khác nhau, sống rải rác khắp miền Bắc Mỹ châu. Nhiều bộ lạc sống hiền hòa nhưng cũng có nhiều bộ lạc rất hiếu chiến. Tên gọi của nhiều bộ lạc rất khó đọc vì phiên âm từ âm ngữ của họ nhưng tựu trung thì có nhiều bộ lạc quen thuộc với chúng ta qua tên gọi như Apache, Cherokee, Cheyenne, Comanche, Novaho, Sioux, Kiowa… Riêng bộ lạc Sioux rất nổi tiếng trong lịch sử nước Mỹ vì sự chiến đấu dũng cảm và dai đẳng của họ với chính quyền người da trắng, điển hình với dũng sĩ can trường Crazy Horse, người mà dân bộ lạc tôn thờ coi như thần tượng của họ.

 

VÀI HÀNG VỀ CRAZY HORSE (1842-1877)

Crazy Horse sinh khoảng năm 1842 tại Rapid Creek vùng Black Hills thuộc tiểu bang South Dakota bây giờ. Có tài liệu nói rằng ngày ông sanh ra đời có một con ngựa hoang chạy qua làng. Dân bộ lạc cho đó là một điềm lạ nên đặt tên cho ông là Crazy Horse (Ngựa Điên). Cũng có sách lại cho rằng tên ông là do cha ông đặt cho vì thủa nhỏ trên đầu ông có một cuộn tóc cứng như cái bờm ngựa. Cha của Crazy Horse lzà một thầy thuốc (medicine man) của bộ lạc. Nhân vật thày thuốc cũng quan trọng và nổi tiếng trong bộ lạc vì ngoài việc chựa bệnh bằng các phương pháp theo phong tục cổ truyền, đượm màu sắc lễ nghi kỳ quái, vị thày thuốc của bộ lạc còn kiêm nhiệm thêm nghề chiêm tinh bói thoán, phù thủy, tiên đoán vận mệnh của bộ lạc qua những điềm xuất hiện trên trời đất.

Lớn lên, Crazty Horse được mô tả là một thiếu niên dũng cảm, khôn ngoan như một lãnh tụ trưởng thành. Năm 12 tuổi, Crazy Horse đã chứng kiến một một binh sĩ người da trắng bắn chết một vị lãnh tụ bộ lạc Sioux có tên là Conquering Bear chỉ vì mất một con bò. Cái chết vô lý của vị thủ lãnh bộ lạc đã không phai mờ trong trí nhớ của Crazy Horase và đã làm cho sự thù ghét người da trắng và chính quyền của họ thêm sâu đậm.

Crazy Horse lấy vợ người bộ lạc Cheyenne, vì vậy mà bộ lạc Cheyenne luôn luôn là đồng minh sát cánh với ông trong việc chiến đấu chống người da trắng. Crazy Horse có một người con gái nhưng đã chết vì bệnh ho gà năm 4 tuổi.

Trong cuốn sách “The Compact History of the Indian Wars” của John Tebbel, Crazy Horse đã được mô tả là một tướng lãnh có tài điều binh bố trận, đầy mưu lược và dã chiến thắng trong cuộc chiến đẫm máu với binh đoàn hùng hậu của tướng Custer mà người da đỏ gọi là tướng Tóc Vàng (Yellow Hair) vào mùa xuân năm 1874.

 

CUỘC CHIẾN GIỮ ĐẤT CỦA BỘ LẠC SIOUX VỚI DŨNG SĨ CRAZY HORSE

Năm 1868 một hòa ước đã được ký kết giữa chính quyền Mỹ và bộ lạc da đỏ Sioux, trong đó đã có những điều cam kết rất mộc mạc và dễ hiểu như:”Khi nào nước sông còn chảy, cỏ còn mọc, cây còn trổ lá Paha Sapa, vùng Black Hills thuộc Dakota sẽ vĩnh viễn là thánh địa của người Sioux da đỏ”. Để đổi lại sự cam kết kể trên, người Sioux da đỏ đã thỏa thuận để người Mỹ da trắng lập đồn binh trên đất của họ và nhận sự bồi thường là 50 ngàn Mỹ kim, trị giá bằng thực phẩm hàng năm trong thời gian là 50 năm. Người Sioux cũng đồng ý rút về sinh sống tại các miền đất tập trung (reservations) xa xôi để tránh đụng độ với những người da trắng tới lập nghiệp.

Nhưng sự việc đã không diễn tiến tốt đẹp như lời cam kết. Năm 1873, vàng đã được tìm thấy tại vùng Black Hills, thánh địa của người Sioux. Lẽ dĩ nhiên là khi chính quyền mỹ trao vùng đất này cho người da đỏ, họ chỉ nghĩ rằng vùng này chẳng có gì là quý báu cả ngoài các dã thú để bộ lạc săn bắn mà sinh sống. Nguồn lợi VÀNG tại vùng Black Hills đã làm thay đổi tất cả, kể luôn cả hòa ước đã được ký kết. Lý lẽ của kẻ mạnh và tham lam đã được biểu lộ qua hành động của chính quyền Mỹ bằng cách tuyên bố tạm hoãn thi hành hòa ước, đồng thời ra lệnh cho tướng Custer tiến quân vào vùng Black Hills, kéo theo cả một tập đoàn, đủ mọi thành phần xã hội, đang lên cơn sốt vì vàng. Người da đỏ Sioux đã nhìn thấy chính quyền người da trắng xâm phạm hòa ước, tiến chiếm đất đai của họ, làm ô uế vùng thánh địa Black Hills nên họ đã phải vùng lên chiến đấu, giữ đất. Trong cuộc chiến này dũng sĩ Crazy Horse của bộ lạc đã nêu tấm gương sáng là không khuất phục trước bọn phản bội, quyết tâm bảo vệ bộ lạc để khỏi bị tiêu diệt. Tiếc rằng Crazy Horse đã không thắng được kẻ xâm lăng với binh đoàn hùng hậu nên sau nhiều cuộc chiến chống trả, ông và thủ lãnh bộ lạc Sitting Bull đã phải trốn chậy sang Canada. Năm 1877, mang cờ hiệu hưu chiến, Crazy Horse tới đồn binh Fort Robinson, Nebraska để điều đình. Crazy Horse đã bị một binh sĩ Mỹ đâm sau lưng (ám sát?). Crazy Horse chết ngày 6 tháng năm 1877, lúc đó mới 35 tuổi.

 

ĐIÊU KHẮC GIA KORCZAK ZIOLKOWSKI (9/6/1908- 10/20/12982)

Điêu khắc gia Korczak Ziolkowski sanh tại Boston, gốc người Ba Lan. Mồ côi từ năm 1 tuổi, ông lớn lên trong nhà Nuôi dưỡng. Ông tự học và chưa bao giờ theo một khóa học chính thức nào về Mỹ thuật, Kỹ thuật, Điêu khắc hay Kiến trúc. Tài nghệ điêu khắc của ông chỉ được biết đến khi ông đoạt giải nhất tại cuộc triển lãm quốc tế ở New York năm 1939 với tác phẩm “PADEREWSKI: Study of an Immortal”.

Ngày 3 tháng 5 năm 1947, điêu khắc gia Korczak nhận lời mời và đến thăm thủ lãnh Standing Bear của bộ laic Sioux. Xúc cảm về lời nói chân thành của thủ lãnh bộ lạc” “Tôi muốn người da trắng biết rằng người da đỏ chúng tôi cũng có một đại anh hùng” khi ông đánh giá về sự chiến đấu dũng cảm của Crazy Horse trong công cuộc bảo vệ đất đai của bộ lạc, điêu khắc gia Korczak đã quyết định thực hiện công trình xậy dựng tượng đài lưu niệm Crazy Horse tại vùng núi Black Hills. Đây là một công trình táo bạo và vĩ đại đòi hỏi nhiều công sức, tiền tài và thời gian. Ông đã gặp rất nhiều khó khăn về tài chánh và nhất là thành kiến về chủng tộc nhưng với lòng quả cảm và tin tưởng mạnh mẽ vào sự góp sức của mọi người, ông vững tin là công trình do ông đề xướng sẽ thành công.

Điêu khắc gia Korczak muốn rằng công trình xây dựng tượng đài Crazy Horse trên núi sẽ là một công trình bất vụ lợi vì công ích về văn hóa, giáo dục và nhân đạo. Ông không muốn người thọ thuế phải đóng góp vào công trình này nên đã 2 lần ông từ chối cả 10 triệu Mỹ Kim do quỹ liên bang tài trợ. Khi khởi cộng đục khắc vào núi năm 1948, điêu khắc gia Korczak đã 40 tuổi. Ông biết rằng công trình vĩ đại này sẽ phải kéo dài nhiều năm, có thể nhiều thế hệ mới hoàn tất được. Do đó ông và Ruth, vợ ông đã soạn thảo 3 cuốn sách viết chi tiết về kế hoạch xây dựng tượng đài để những thế hệ mai sau tiếp tục công trình vĩ đại này.

Kể từ ngày khởi công vào tháng 6 năm 1998, đầu và mắt của Crazy Horse đã hoàn tất và được khánh thành kỷ niệm. Tiếc rằng điêu khắc gia đã mất không còn có vinh dự được nhìn thấy thành quả công trình do mình đề xướng.

Công trình xây dựng tượng Crazy Horse trên núi vẫn đang được tiếp tục và nay đang khởi công với đầu con ngựa của Crazy Horse cao đến 22 tầng lầu của một cao  ốc.

Khi công trình được hoàn tất (không biết đến bao giờ) thì tượng của Crazy Horse trên núi sẽ có kích thước như sau:

Đầu: 87 ½ feet            Lông chim và mũ đội đầu dài 44 ft

Tay trái chỉ về đằng trước dài 227 Ft Bàn tay dài 33 Ft

Đầu ngựa cao 219 Ft

Nếu so sánh với tượng của Tổng thống Washington đã được đục khắc trên núi Mount Rushmore thì đầu của Tổng thống từ trán tới cầm chỉ cao có 60 Ft thôi. Có một điều là tượng Crazy Horse chỉ tay về phía trước, vùng đồi núi Black Hills là để trả lời một câu hỏi nhạo báng của một ngưởi Mỹ da trắng” “Đất của anh ở đâu?” và Crazy Horse đã trả lời hùng dũng:”Đất của tôi là nơi chôn vùi thân xác tôi khi chết.”

Dù cuộc chiến đấu ‘gĩu đất” của người da đỏ có hào hùng nhưng làm sao mà họ địch nổi với sức mạnh của người da trắng. May mắn thay cho họ là đã không bị diệt chủng, sống vất vưởng, cơ cực trong những vùng đất tập trung xa xôi, giới hạn. Cho đến ngày nay, những người cướp đất đã nghĩ lại, thưởng cho số phận hẩm hiu của họ để ra tay nâng đỡ… Nơi nào mà các bộ lạc người da đỏ còn tồn tại và sinh sống thì ở đó chính quyền địa phương (qua luật pháp) đã cho phép các sòng bài cờ bịch kiểu Las Vegas được mở cửa vui chơi với tên gọi là Indian Casinos. Mục đích của các sòng bài này là để tạo thêm công ăn việc làm cho người da đỏ cũng như thuế má thu được sẽ được chia sẻ cho các dịch vụ Y tế, xã hội, giáo dục của người da đỏ. Nghe thật công bằng và hợp lý!

Tại tiểu bang California, nằm sát vách với tiểu bang cờ bịch Nevada, nay lại sắp có dự luật mới cho phép các sòng bài trá hình gọi là Club, tọa lạc ngay trung tâm các thành phố lớn, được biến cải thành Indian Casinos với đầy đủ các giàn máy kéo, máy giật... Một ông tòa ở California đã phán: ”… Người da đỏ tuy không có đất ở trong thành phố nhưng họ có quyền thuê đất và đất họ thuê là đất của họ.” Nghe cũng hợp lý! Ước mong rằng trong tương lai, người Mỹ da đỏ sẽ khá hơn với sự giúp đỡ của chính quyền qua dịch vụ Indian Casinos để vị anh hùng Crazy Horse của họ được ngậm cười nơi chin suối.

            Viết tại California, tháng 10-2004

                        CVA Nguyễn Duy Hảo

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

1-                  The Compact History of the Indian Wars (John Tebbel)

2-                  The Indians (Benjamin capps)

3-                  National Geographic on Indians of the Americas (W. Laugdon Kihn)

4-                  The Brochure of Crazy Horse Memorial in the Black Hills.

* * *
 
 

NỖI BUỒN TIẾNG VIỆT

CVA CHU ÐẬU

 

Lời tòa soạn:  Chúng tôi nhận được bài này nhưng vì sơ xuất nên không rõ xuất xứ.  Mong tác gỉa Chu Đậu hoan hỉ miễn chấp.


Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội. Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi . Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng tư năm 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam. Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại. Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng; Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm.

 

Thế nhưng dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu?

 

Nếu sự thay đổi đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi . Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy.

 

Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng.

 

Hãy duyệt qua vài thay đổi xấu đã làm buồn tiếng Việt hôm nay:

 

1. Chất lượng: Ðây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality . Lượng là số nhiều ít, là quantity . Theo Hán Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu, thì lượng là: đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi . Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality . Mình đã có sẵn chữ phẩm chất rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ chất lượng. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta.

 

2. Liên hệ: Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại. Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là nói chuyện cho đúng và giản dị. Chữ liên hệ dịch sang tiếng Anh là to relate to, chứ không phải là to communicate to.

 

3. Ðăng ký: Ðây là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của họ. Ðến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước, Trước đây, ta đã có chữ ghi tên (và ghi danh) để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ đăng ký để dịch chữ register từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ ghi tên hay ghi danh cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu?

 

4. Xuất khẩu, Cửa khẩu: Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói xuất cảng, nhập cảng, chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọi là xuất khẩu, nhập khẩu. Bởi vì ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải Phòng, giang cảng Saigon, thương cảng Saigon. Chứ không ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương khẩu Saigon trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của mình, mà lại cứ copy y boong?

 

5. Khả năng: Chữ này tương đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta dùng chữ khả năng trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là trời hôm nay có thể mưa, thì người ta lại nói: trời hôm nay có khả năng mưa, nghe vùa nạng nề, vừa sai.

 

6. Tranh thủ: Thay vì dùng một chữ vừa rõ ràng vừa giản dị là chữ cố gắng, từ cái tệ sính dúng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ tranh thủ. Thay vì nói: anh hãy cố làm cho xong việc này trước khi về, thì người ta lại nói: anh hãy tranh thủ làm cho xong việc này trước khi về.

 

7. Khẩn trương: Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ nhanh chóng. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ nhanh chóng để dùng chữ khẩn trương. Ðáng lẽ phải nói là: Làm nhanh lên thì người ta nói là: làm khẩn trương lên.

 

8. Sự cố, sự cố kỹ thuật: tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như trở ngại hay trở ngại kỹ thuật hay giản dị hơn là chữ hỏng? (Nói xe tôi bị hỏng rõ ràng mà giản dị hơn là nói xe tôi có sự cố).

 

9. Tham quan: đi thăm, đi xem thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu? Sao không nói là “Tôi đi Nha Trang chơi, tôi đi thăm lăng Minh Mạng”, mà lại phải nói là “tôi đi tham quan Nha Trang, tôi đi tham quan lăng Minh Mạng”?

 

10. Nghệ nhân: Ta vốn gọi những người này là nghệ sĩ. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ nghệ sĩ, họ dùng chữ nghệ nhân. Có những người tưởng rằng chữ nghệ nhân cao hơn chữ nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ nghệ nhân là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa .

 

12. Tư liệu: Trước đây ta vốn dùng chữ tài liệu, rồi để làm cho khác miền nam, người miền bắc dùng chữ tư liệu trong ý: tài liệu riêng của người viết. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ tài liệu mặc dù nhiều khi tài liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta.

 

13. Những danh từ kỹ thuật mới: Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày . Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Ðức, tiếng Pháp) thì việc chuyển dịch trở nên tự nhiên và rõ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu . Ta hãy nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi . Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa . Ông cha ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta Việt hóa chữ pomp thành bơm (bơm xe, bơm nước), chữ soup thành xúp, chữ phare thành đèn pha, chữ cyclo thành xe xích lô, chữ manggis (tiếng Mã Lai) thành quả măng cụt, chữ durian thành quả sầu riêng, chữ bougie thành bu-gi, chữ manchon thành đèn măng xông, chữ boulon thành bù-long, chữ gare thành nhà ga, chữ savon thành xà-bông.

 

Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam, như:

 

a . Scanner dịch thành máy quét. Trời ơi! máy quét đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu?! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà!

b. Data Communication dịch là truyền dữ liệu.

c. Digital camera dịch là máy ảnh kỹ thuật số.

d. Database dịch là cơ sở dữ liệu. Những người Việt đã không biết database là gì thì càng không biết cơ sơ dữ liệu là gì luôn.

e . Sofware dịch là phần mềm, hardware dịch là phần cứng mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ hard trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là khó, hay cứng, mà còn là vững chắc ví dụ như trong chữ hard evident (bằng chứng xác đáng)Chữ soft trong chữ soft benefit (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là quyền lợi mềm sao?

f. Network dịch là mạng mạch.

g. Cache memory dịch là truy cập nhanh.

h. Computer monitor dịch là màn hình hay điều phối.

i . VCR dịch là đầu máy (Như vậy thì đuôi máy đâu? Như vậy những thứ máy khác không có đầu à?). Sao không gọi là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì DVD, DVR thì họ dịch là cái gì?

j. Radio dịch là cái đài. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay ra-dô, hơặc dịch là máy thu thanh. Nay gọi là cái đài vừa sai, vừa kỳ cục. Ðài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được.

k. Channel gọi là kênh. Trước đây để dịch chữ TV channel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền hình Việt Nam gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang!

 

Ngoài ra, đối với chúng ta, Saigon luôn luôn là Saigon, hơn nữa người dân trong nước vẫn gọi đó là Saigon. Các xe đò vẫn ghi bên hông là Saigon Nha Trang, Saigon - Cần Thơ trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3 chữ SGN để chỉ thành phố Saigon. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một tên chó chết để gọi thành phố thân yêu của chúng mình?! Ði về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Saigon là Saigon, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Saigon không được dùng nữa. Tại sao?

 

Ðây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất! Tất nhiên, vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thế?! Cái khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước!

 

Trước đây Phạm Quỳnh từng nói: Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn, bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc. Than ôi!

* * *

 

 

LTS:  Hội CVA Bắc California hân hạnh nhận được tập thơ “Thơ tình Vương Đức Lệ” do CVA Lê Đức Vượng gởi tặng.  Chúng tôi xin trích đăng một bài sau đây để mời quý vị độc giả thưởng thức:

 

BÀI ĐẦU THU TRÊN ĐẤT TÌNH NHÂN

 

Âu yếm cầm tay, em hỏi anh:

Trời say, ai thắp nến trên cành?

Mùa thu sao lá chưa vàng nhỉ?

Hay đất tình nhân, mộng vẫn xanh?

Biết trả lời sao, em của anh!

Cầm tay, anh dỗ giấc mơ lành

Nụ hôn anh gửi thầm trên má

Hẹn giấc đêm xanh mộng biếc tình!

 

CVA Vương Đức Lệ

* * *


 

Xuân lại càng già

Tùy Bút

CVA Đoàn Văn Khanh         

   

Cứ mỗi lần hoa mai, hoa đào nở là thiên hạ lại náo nức đua nhau sắm sửa, trang hoàng, chưng diện để đón mừng xuân mới. Điều ấy đã trở thành một tập tục truyền thống của dân tộc Việt. Bốn mùa thay đổi cho nên khi mùa xuân ấm áp có qua đi nhường chỗ cho mùa hạ nắng cháy, mùa thu úa tàn, rồi mùa đông u ám thì sau đó mùa xuân tươi sáng cũng lại trở về.  Nhưng xuân đến, xuân đi, xuân lại đến chỉ là cái vòng tuần hoàn của vũ trụ. Do cái lẽ nhận định xuân chung quy cũng chỉ là một giai đoạn trong cái chu kỳ lặp đi lặp lại đó cho nên Trần Tế Xương, một nhà nho sống vào buổi giao thời của nền Nho học đang suy tàn và ảnh hưởng Tây học đang bành trướng, lại thêm nỗi phẫn chí vì đường công danh thi cử lận đận của mình nên đã chán ngán thốt lên những lời lẽ bi quan yếm thế trong bài thơ Năm Mới khi thấy thiên hạ xung quanh mình nô nức đón mừng xuân mới một cách nhố nhăng phù phiếm:  

Chỉ bảo nhau rằng mới với me,

Bảo ai rằng cũ chẳng ai nghe

Khăn là bác nọ to tày rế

Váy lĩnh cô kia quét sạch hè...

Cứ bình tâm mà xét thì nếu những ai đang ở vào tuổi trẻ, dễ lạc quan và yêu đời nên mỗi khi xuân về lại cảm thấy như mùa xuân đang mang lại cho mình một niềm phấn khởi mới, cho nên có bảo xuân là mới thì cũng là cái lẽ thường tình. Còn đối với kẻ nhìn sự vật qua lăng kính triết lý như cụ Tú Xương thì lại đem cái lẽ tuần hoàn của hiện tượng thiên nhiên ra mà nhắc bảo với mọi người xuân là cũ cũng không sai chút nào. Tuy nhiên, ca dao lại có một câu diễn tả cái nhìn về xuân theo kiểu rất hiện thực như sau:

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Cái già sồng sộc nó thì theo sau.

           

Nếu có những người chỉ biết vin vào câu ca dao này để lăn xả vào sự hưởng thụ các lạc thú hiện tại khi tuổi còn đang trẻ, thì cũng có người lẩm cẩm như tôi, xem câu ca dao trên cũng còn là một nhận định về cái chân lý bất biến: có trẻ tất nhiên sẽ có già. Mỗi một người chỉ có một cuộc đời, và trong cuộc đời chỉ có một thời tuổi trẻ được ví như là mùa xuân, cho nên một khi cái mùa xuân tuổi trẻ của mỗi người đã qua đi thì những cái xuân còn lại chỉ là cái “xuân lại càng già”.

           

Mấy chữ “xuân lại càng già” tôi dùng ở đây chỉ là cái ý dịch ra từ mấy chữ Hán “xuân hựu lão” của một nhà thơ Trung hoa mà tôi học được một cách tình cờ nhân một lần tôi được đọc cái truyện ngắn có tựa đề là “Đánh thơ” của nhà văn Nguyễn Tuân cách nay cũng đã xa xưa lắm. Thật ra thì vào lúc mới đọc tôi cũng chẳng hiểu mấy chữ Hán trên có những ý nghĩa sâu xa nào, nhưng cái âm hưởng của mấy chữ ấy tự nó lại như có một ma lực nào đó khiến cho tôi từ đó trở đi hay có những suy nghĩ luẩn quẩn về mấy chữ này.

           

Vốn sinh ra trong một gia đình thuộc thành phần trung lưu trí thức tiểu tư sản cho nên không ít thì nhiều tôi cũng mang trong người cái tâm hồn tự do lãng mạn của lớp cha anh thời bấy giờ, do đó khi bắt đầu biết đọc sách là ham đọc sách. Vào thời ấy phương tiện truyền thông chưa phát triển như bây giờ cho nên ngoài cái thú đọc sách cũng chẳng còn cái thú tiêu khiển tinh thần nào khác. Lại nữa, vì sống trong vùng kháng chiến nên sách vở cũng không nhiều, ngoài một ít sách xuất bản từ thời trước chiến tranh mà một số gia đình còn cất giữ được thì không còn tìm đâu ra. Chính vì thế mà mỗi khi bắt gặp được quyển sách nào để đọc là cả một niềm vui, và nếu là sách hay thì lại càng thích nghiền ngẫm. Do đó, khi gặp được quyển Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng thời tiền chiến, tôi đã đọc rất say mê và có nhiều câu truyện đã để lại trong tâm hồn tôi một ấn tượng khá sâu đậm. 

           

Vang bóng một thời, đúng như cái tựa của cả quyển sách, là một tập gồm nhiều truyện ngắn có chung một bối cảnh là xã hội Việt Nam vào lúc ảnh hưởng của nền văn hóa Nho giáo đã suy tàn để chuyển mình vào thời đại Tây hóa. Những nhân vật chính trong các câu truyện này là những hình ảnh tiêu biểu thuộc về một lớp người của một nền văn hóa đã lỗi thời nhưng vẫn còn rơi rớt lại trong xã hội như là vang bóng của một thời quá khứ vàng son đã qua đi không bao giờ còn trở lại.

           

Phải nói là cái say mê của tôi khi đọc tác phẩm Vang bóng một thời một phần do hoàn cảnh tuổi thơ của tôi không may lại rơi nhằm vào một thời kỳ mà đất nước bắt đầu một giai đoạn lịch sử đầy đau thương và bi đát của dân tộc. Cuộc cách mạng vùng lên giành độc lập và xây dựng dân chủ của một dân tộc vốn quen sống dưới chế độ quân chủ phong kiến và thuộc địa sau khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc đã bị những ma đầu chính trị trong nước và những thế lực đen tối quốc tế thao túng, lèo lái, khiến cho đất nước không những lâm vào một cuộc chiến tranh dai dẳng và tàn khốc, mà ngay cả xã hội thì bị đảo lộn và dân tộc cũng bị phân hóa. Vào thời ấy, người dân ở vùng kháng chiến luôn luôn sống trong nỗi phập phồng lo sợ: lớp thì do bom đạn của quân đội Pháp đe dọa, lớp thì do những chính sách bóp nghẹt tự do của nhà cầm quyền Việt Minh đang ra công tẩy xóa đi cái trật tự của một xã hội cũ để thiết lập một trật tự mới theo chủ nghĩa Cọng sản, khiến cho những thành phần bị Việt Minh xem là đối tượng cần phải bị tiêu diệt cảm thấy mình không còn chỗ đứng nào trong cái xã hội này nữa. Từ sự cảm nhận cái thân phận đáng thương của những thành phần đang bị chế độ mới bứng ra khỏi cái gốc chung của dân tộc khiến cho tôi càng thích tìm lại những nét đẹp tinh thần của một nếp sống thanh bình nào đó chỉ có được trong quá khứ.

           

Mặc dù đọc suốt mười mấy truyện trong Vang Bóng Một Thời, truyện nào cũng mang lại cho tôi ít nhiều cảm nghĩ u hoài về những nhân vật và một nếp sống đã đến giai đoạn bị đào thải của một xã hội trước đây, nhưng cái ý “xuân lại càng già” thì lại đến từ hai câu thơ mà tác giả đưa vào trong truyện ngắn Đánh thơ.

           

Đánh thơ là một cái thú tiêu khiển của các tay nho sĩ thời xưa, một trò chơi vừa mang tính chất cờ bạc nhưng lại mượn văn chương để thử thời vận cho có vẻ thanh tao, cho nên người chơi đánh thơ ít ra cũng là người từng theo học chữ thánh hiền và có một số vốn hiểu biết về thơ phú. Cách chơi đánh thơ này cũng gần giống như học sinh ngày nay làm bài thi trắc nghiệm điền chữ vào khoảng trống. Cứ mỗi ván bài, nhà cái lại đem ra một mảnh giấy có ghi một câu thơ thất ngôn tức là có 7 chữ  nhưng chỉ viết ra giấy có 6 chữ thôi còn một chữ để trống và kèm theo 5 chữ thả gồm bốn chữ do nhà cái tự đặt ra và một chữ đúng trong nguyên văn của câu thơ để cho nhà con lựa chọn. Sau khi mọi người đã chọn lựa và đặt tiền xong thì nhà cái sẽ cho khui phần trên đầu mảnh giấy được cuộn tròn cốt che dấu cái chữ chính trong nguyên văn của câu thơ thả để cho làng biết chữ nào mới là chữ trúng. Nếu nhà con đặt trúng chữ thì sẽ được chung tiền, bằng như chọn sai sẽ thua. Vì trò chơi mang tính chất cờ bạc ăn tiền nên nhà cái cần phải sưu tầm những câu thơ cổ ít ai thuộc hoặc ít ai biết đến thì mới hy vọng ăn được tiền làng. 

           

Trong một cuộc đánh thơ nọ, ông Phó sứ – nhân vật làm nhà cái trong truyện - đã dùng một câu thơ được vòng trống ngay chữ đầu tiên và kèm theo năm chữ  thả là: Tái (cửa ải) – Sơn (núi) – Đình (cái sân) – Mộ (ngôi mộ) – Văn (tên một con sông chảy qua nước Lỗ, quê của Khổng phu tử), để cho nhà con lựa chọn. Câu thơ thả là:

“[...] thượng mai khai xuân hựu lão”

(Hoa mai nở trên [...] xuân lại càng già).

           

Mọi người đua nhau đoán chữ và ai cũng lý luận theo sự liên tưởng thông thường là mai nở thì phải thấy trong cánh rừng, trên ngọn quan ải, trước sân nhà v.v... thì mới tạo thành thi tứ chứ không ai nghĩ đến chuyện hoa mai nở trên một ngôi mộ. Chính vì thế mà khách chơi đánh thơ hôm ấy không một ai chọn chữ Mộ để đặt tiền cả, cho nên khi lá thơ được khui ra thì nhà cái tủm tỉm cười vơ trọn tiền cả làng, còn các nhà con thì đều ngẩn người ra vì không ngờ thơ phú thế mà cũng lắt léo.

           

Dĩ nhiên về phần tôi khi mới đọc đến đoạn làng đang chọn chữ để đánh, tôi thấy mình cũng có những suy nghĩ rất phù hợp theo sự luận đoán của các tay con trong cuộc đánh thơ này cho nên khi đọc đến phần kết quả giải đáp, tôi thấy mình cũng đã hố to trong cách suy đoán rất nông nổi về ý nghĩa câu thơ này không khác gì mấy tay chơi thả thơ hôm ấy. Vì thấy cả làng đều thua đau nên để làm vui lòng đám tao nhân mặc khách tham dự cuộc thả thơ, nhà cái đã phải trưng dẫn chứng cớ đấy là câu thơ được trích từ bài thơ “Tọa phóng hạc đình” của Từ Dạ, một nhà thơ Trung hoa, và đã trình cho làng xem nguyên văn hai câu thơ như sau:

Mộ thượng mai khai xuân hựu lão

Đình biên hạc khứ khách không hoàn.

(Hoa mai nở trên nấm mồ xuân lại càng già. Chim hạc đã bay đi khỏi sân thả chim rồi thì khách cũng ra đi không còn quay lại)

           

Thì ra thế. Có đọc được cả hai vế để hiểu trọn ý nghĩa của câu thơ trên thì mới thấy cái dụng ý của tác giả khi dùng chữ “Mộ”. Và thế là cả làng xúm nhau vào ngâm nga và khen hay rối rít, nhưng không quên trách cổ nhân dùng chữ quá ác làm cho các ngài đoán không ra. Riêng tôi thì mặc dù không hiểu hết chữ Hán và cho tới nay tôi vẫn chưa có cơ hội tìm hiểu cho ra nhà thơ Từ Dạ sống vào thời đại nào, làm thơ ra sao, và trọn bài thơ này như thế nào, nhưng vào ngày ấy, hai câu thơ đó đã gây cho tôi một nỗi xúc động bồi hồi. Rồi cũng vì suy nghĩ mãi về cái ý nghĩa súc tích hàm ẩn trong những bài thơ cổ mà tôi đã liên tưởng đến một bài thơ Đường khác cũng rất nổi tiếng của Thôi Hộ:

 

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

 

(Năm ngoái ngày này nơi cửa có một khuôn mặt đẹp đã cùng với hoa đào đua nhau mà ửng hồng. Nhưng khuôn mặt người ấy nay đâu rồi mà chỉ còn lại có cành hoa đào vẫn cười với gió đông). 

Cứ theo Tình sử Trung Hoa thì Thôi Hộ sống vào đời nhà Đường, một hôm nhân dạo chơi xuân bên ngoài thành rồi nhằm lúc khát nước bèn ghé vào một ngôi nhà có trồng nhiều hoa đào xin nước uống và được một cô gái xinh đẹp bưng nước ra mời. Cảm nhan sắc người con gái nên năm sau Thôi Hộ lại tìm đến thì cửa đóng then gài và không thấy bóng người con gái ấy đâu bèn làm bài thơ trên đề trên cửa rồi ra về. Người con gái sau khi đọc được bài thơ đó thì sinh lòng nhớ thương rồi ốm mà chết. Thôi Hộ hay tin vội đến thăm và khi ôm xác người con gái vừa tắt thở mà khóc thì người con gái bỗng hồi tỉnh lại. Và thế là cha cô gái đã gả người con gái đó cho Thôi Hộ.

Dựa vào thiên tình sử trên, tôi lại tưởng tượng ra một chuyện tình khác từ hai câu thơ của Từ Dạ về một cuộc gặp gỡ giữa một người khách phương xa đến dự hội thả chim hạc mùa xuân với một người thiếu nữ nơi đây, rồi khi người khách ấy lại ra đi thì người thiếu nữ có lẽ cũng vì thương nhớ chờ mong mà chết. Tuy nhiên, nếu như trong thơ của Thôi Hộ, cái cảnh nhìn thấy cành hoa đào năm cũ vẫn nở hoa như cười với gió đông làm cho sự thương nhớ người xưa vẫn hãy còn là một cảm giác nhẹ nhàng và tạo cho người đọc còn có một sự hy vọng nào đó thì trái lại, trong thơ Từ Dạ, hình ảnh gốc mai nơi mộ người thiếu nữ cứ mỗi mùa xuân về lại nở hoa chỉ có thể được xem như một chứng tích còn bấu víu lại trên đời để nhắc nhở cho người sống nỗi xót xa về cái mùa xuân hò hẹn cũ với người nằm dưới mộ lại thêm một lần già theo năm tháng mà thôi. Dĩ nhiên là tôi không biết đây có phải là nguyên nhân đích thực đã cảm kích nhà thơ Trung hoa nọ để sáng tác ra mấy câu thơ trên hay không, nhưng cái sự tích tưởng tượng ấy đã làm cho hai cái hình ảnh tương phản của hoa mai nở và ngôi mộ hoang vắng càng có vẻ liêu trai hơn đối với tôi và làm cho cái ý tưởng “xuân lại càng già” trở thành một ấn tượng sâu sắc.  Cái ý tưởng này càng được tôi cảm nhận thấm thía hơn khi chủ trương tiêu diệt các thành phần được kể là “trí, phú, địa, hào” của Việt Minh được đem ra áp dụng triệt để và tôi cũng đã phải chịu cảnh mất mát luôn cả những người thân trong gia đình của mình. Chính vì thế mà sau khi đất nước bị qua phân, dù lại được cái cơ may tiếp nối cuộc đời học sinh ở Miền Nam, được vui hưởng vài mùa xuân thanh bình, nhưng cứ mỗi độ xuân về, thấy mọi người nô nức đón xuân, mừng xuân mà riêng tôi thì chỉ thấy mình lẻ loi khi nhớ đến những người thân yêu đã khuất, thì cái ý tưởng “xuân lại càng già” này cũng lại trở về ám ảnh tôi.

           

Cũng vì mang nặng cái tâm hồn trĩu nặng cái quá khứ u hoài đó mà tôi thường hay thích đọc thơ văn có khuynh hướng hoài cổ hoặc những tác phẩm viết về những hoài niệm và do đó tôi nhận thấy cái ý tưởng “xuân lại càng già” như là một sự biểu lộ niềm luyến tiếc về một cái gì đã bị đánh mất trong cuộc đời, hay những hình ảnh đã một thời sinh động nhưng rồi cũng có ngày phải mai một với thời gian, quả là một ý tưởng rất phổ biến trong văn học nghệ thuật cũng như bàng bạc trong lòng của đa số người dân Việt. Một Nguyễn Bính đã luyến tiếc cho một cuộc tình dang dở chỉ vì nỗi lo sợ của người con gái e để lỡ mất mùa xuân của mình như ông đã diễn tả trong bài thơ Cô Lái Đò:

 

Xuân đã đem mong nhớ trở về

Lòng cô gái ở bên sông kia

Cô hồi tưởng lại ba xuân trước

Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình quân ấy

Đi mãi không về với bến xuân...

 

Nhưng sau mấy mùa xuân chờ đợi mỏi mòn mà không thấy người tình quay trở lại, cô lái đò cũng đã thấy lòng có thể nguôi ngoai đi nỗi nhớ để quên đi lời hẹn ước cũ mà đành tâm đi lấy chồng kẻo lỡ mất xuân thì, chỉ tội cho sự thương nhớ ơ hờ của người khách qua đò thầm lặng nào đó thì vẫn không thể xóa mờ:

 

Chẳng lẽ ôm cầm chờ đợi mãi

Cô đành lỗi ước với tình quân

Bỏ thuyền,bỏ lái bỏ giòng sông

Cô lái đò kia đi lấy chồng…

Vắng bóng cô em từ dạo ấy

Để buồn cho những khách sang sông.

 

Vũ Đình Liên, cũng đã nhờ sáng tác ra bài thơ Ong Đồ mà trở thành nổi tiếng:

 

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài...

           

Với vai trò một kẻ mang chữ nghĩa thánh hiền ra truyền bá cho đám hậu sinh để xã hội tiếp tục duy trì được cái nền đạo đức, lễ nghĩa và sự khôn ngoan của tiền nhân để lại, ông đồ từng là người được xã hội cũ kính trọng. Nhưng một khi xã hội đã phải thay đổi mới theo thời đại “vứt bút lông đi, giắt bút chì” thì vai trò của ông đồ cũng không còn chỗ đứng trong cái cơ cấu tổ chức mới của xã hội đó nên lớp người như ông đồ sinh ra nhằm lúc cuối mùa này đành phải xoay ra mang cái tài “hoa tay thảo những nét như phượng múa rồng bay” ấy để viết câu đối thuê vào dịp xuân về cho một số người còn duy trì cái tập tục cũ treo câu đối tết ngày xuân. Nhưng cuối cùng rồi thì theo đúng luật đào thải, ông đồ cũng không còn xuất hiện trong bức tranh mùa xuân của phố phường nữa:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ong đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay...

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

           

Bài thơ thật giản dị, và mặc dù tác giả là một nhà giáo của thời đại đã chuyển sang Tây học nhưng lại biết rung cảm xót xa chân thành trước nỗi thê lương tàn tạ của một hình ảnh đã hàng ngàn năm tô điểm cho một nếp sinh hoạt của một xã hội mà nay đành phải mai một theo thời gian nên bài thơ rất có hồn. Cái hình ảnh ông đồ được mô tả đây không chỉ đơn thuần là hình ảnh của một con người chỉ xuất hiện trong một thời gian và không gian nhất định, mà ông đồ đây chính là cái hình ảnh kết tinh của một nền văn hóa đã tồn tại qua hàng ngàn năm, cho nên đã trở thành một biểu tượng thân yêu trong ký ức của mỗi người dân đã thấm nhuần cái nền văn hóa đó.

           

Có lẽ cũng vì cái lẽ đó mà về sau này khi Vũ Đình Liên đã đi theo Cộng sản, thỉnh thoảng vào dịp xuân về cũng mượn lại thể thơ của bài thơ ông đồ cũ và hình ảnh ông đồ để làm ra những bài thơ ông đồ mới nhằm ca tụng Đảng và mùa xuân xã hội chủ nghĩa thì những bài thơ này chỉ còn là gượng ép, giả tạo nên cũng chẳng được mấy ai biết đến.  Chính cũng vì cái khuynh hướng dễ xúc cảm và dễ xa xót trước những hoàn cảnh đáng thương hoặc đau khổ của chính mình hay của người khác đó mà khi đất nước lại tiếp tục phải chứng kiến cái cảnh: “Mùa xuân ấy chàng bước chân đi...” vì chinh chiến thì mỗi khi xuân về, người dân Việt không phải chỉ đón xuân bằng những bản nhạc xuân vui tươi, xuân nồng thắm, xuân yêu thương, xuân hy vọng, mà còn có cả những xuân mong nhớ, xuân đợi chờ, xuân chia cách và bao nhiêu là thứ xuân đau thương khác nữa mà mọi người phải chấp nhận như là một thực tế không thể chối bỏ trong cuộc sống.

           

Sống trong hoàn cảnh chinh chiến thì có ai lạ gì khi mùa xuân đến có những người thiếu phụ ngồi đan áo mà lòng thì: “Cứ mỗi lần hoa mai vàng trước ngõ, thì em thôi mong nhớ xuân này chàng có về... [Đan áo mùa xuân - Phạm Thế Mỹ], hoặc người mẹ ở quê nhà mong con trong khi con ở ngoài chiến trường xa xôi nhớ về mẹ:

 

Con biết bây giờ mẹ chờ trông con

Khi thấy mai vàng nở đầy trong sân

Năm ngoái con hẹn rằng xuân sẽ về...

[Xuân này con không về - Nhạc sĩ Nhật Ngân, Duy Khánh hát]

 

Hoặc buồn cô đơn như người lính chiến ở ngoài tiền đồn heo hút lúc xuân về:“...Đồn anh đóng ven rừng mai. Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa...” [Đồn vắng chiều xuân – Trần Thiện Thanh]

           

Mỗi một người đều có những kỷ niệm riêng tư khắc sâu vào tâm khảm, mỗi gia đình có những thế hệ cha ông đã sống và để lại dấu ấn tinh thần hay vật chất cho con cháu, cũng như mỗi dân tộc có những nét đặc thù về văn hóa, những giai đoạn lịch sử đáng ghi nhớ, đáng tự hào hay đáng suy nghĩ. Tất cả những cái ấy đều đáng qúy vì nó làm cho dòng đời của một chuỗi lặp đi lặp lại những hiện tượng khách quan trở thành có ý nghĩa cho con người.        Có một điều là do cái khuynh hướng thiết tha với những hoài niệm cũ, nhất là những hoài niệm được coi là tươi đẹp nhất của một giai đoạn lịch sử hoặc một đời người mà người ta cứ lưu luyến mãi với nó. Trước đây, nếu sau khi nhà Tây Sơn dứt nhà Lê rồi nhà Nguyễn dứt nhà Tây Sơn để thống nhất giang sơn về một mối sau một thời gian dài dằng dặc của những cuộc tranh chấp tương tàn, cái tinh thần hoài Lê vẫn ấp ủ trong lòng người dân Bắc Hà; thì gần đây, sau gần ba mươi năm từ ngày kết thúc cuộc chiến tranh Quốc Cộng, người dân Miền Nam vẫn chưa nguôi quên những nỗi đau thương hoặc những hoài bão chưa hoàn thành của những người đã đóng góp hay hy sinh cho một lý tưởng mình đã phục vụ, khiến cho lớp người còn lại của thế hệ trước vẫn thích ôn lại những kỷ niệm cũ.

           

Tập tục chung của người dân Việt là khi đón xuân tất nhiên phải nhớ đến ông bà tổ tiên mình và tin rằng hồn của những người muôn năm cũ vẫn phảng phất trong hương khói ngày xuân để phù hộ cho con cháu, tuy nhiên người ta cũng không quên ngày xuân mọi người cũng phải mừng tuổi nhau và cầu chúc cho nhau qua năm mới sẽ gặp được những điều tốt lành. Nếu đối với những người mà tuổi đời đã làm cho mùa xuân hôm nay đã trở thành cái “xuân lại càng già” cho nên chỉ còn biết tiếc nuối những lỡ làng, những lầm lẫn hay những hoài bão chưa thành, thì điều ấy cũng không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng đối với những người tuổi trẻ đang tràn trề sức sống để bước vào đời, xin cho mùa xuân đối với họ vẫn cứ là niềm tin và hy vọng vào tương lai tươi sáng.

CVA Đoàn Văn Khanh

* * *

 

 

KỶ  YẾU  TRUNG  HỌC

CHU  VĂN  AN  Saigon

Kỷ niệm :

50 năm thành lập (1954 - 2004)        &  26 năm giải thể (1978 – 2004)

(Bản dự thảo - GS Lê Văn Lâm và GS Bùi Đình Tấn biên soạn)

MỤC   LỤC

Thư ngỏ về Nhu cầu biên soạn Kỷ Yếu CHU VĂN AN- Saigon

Sơ lược về tiểu sử của Danh Nho CHU VĂN AN

Cây Phả Hệ BƯỞI – CHU VĂN AN

  • Chương 1

Trường CHU VĂN AN qua các khúc quanh lịch sử

  • Chương 2

Các ban Giám Hiệu trường CHU VĂN AN- Saigon

Các ban Chấp Hành Hội PHHS CHU VĂN AN- Saigon

  • Chương 3

Sinh hoạt trường CHU VĂN AN

Xuyên qua : Hình ảnh lưu niệm

*

Hướng về Thế Hệ trước

Sinh hoạt trường CHU VĂN AN-HàNội

(1945 đến 1954)

*

Sinh hoạt trường CHU VĂN AN-Saigon

(1954 đến 1978)

  • Chương 4 :

Tổ chức Ái Hữu Cựu GC&NV.CVA-Saigon

Sơ đồ tổ chức các trụ sở liên lạc Ái Hữu Cựu GC&NV.CVA-Saigon

Danh sách các Ðại Diện liên lạc ở các Khu Vực & ở các Vùng

Danh sách Ái Hữu Cựu GC&NV.CVA

  • Hướng về Thế Hệ trước

Cựu GC&NV-CVA Hà Nội (1945- 1954)

  • Danh sách Ái Hữu Cựu GC&NV-CVA Saigon (1954- 1978)

  • Chương 5 :

Sinh hoạt Ái Hữu Cựu GC&NV.CVA-Saigon  xuyên qua : Hình ảnh lưu niệm

1.- Ở Khu Vực Á Châu TBD

2,- Ở Khu Vực Âu Châu

3.- Ở Khu Vực Gia Nã Ðại

4.- Ở Khu Vực Hoa Kỳ     

5.- Ở Khu Vực Úc Châu & Tân Tây Lan

6.- Ở Khu Vực bổ sung  (*)

7.- Ở Quốc Nội   

(*) Gồm một số nơi ở Quốc Ngoại,                           

nhưng không thuộc  1, 2, 3, 4, 5

Giới thiệu Tổ chức Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

  • Chương  6 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.  -  Khu Vực Á Châu TBD

  • Chương  7 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.       -  Khu Vực Âu Châu

  • Chương  8 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.     -  Khu Vực Gia Nã Đại

  • Chương  9 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg. -   Khu Vực Hoa Kỳ

  • Chương 10 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.  -  Khu Vực Úc Châu & Tân Tây Lan

  • Chương 11 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.  -  Khu Vực bổ sung     

  • Chương 12 :

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Sg.     ở Quốc Nội

Bảo Trợ    Quảng Cáo

Website riêng về  Kỷ Yếu CVA - 2004

Dự trù Web. Chu Van An: www. ky_yeu_cva. org

 Thư ngỏ về “ Nhu cầu biên soạn  Kỷ Yếu CHU VĂN AN- Saigon”

Cùng toàn thể cựu Giáo Chức, cựu Nhân Viên & cựu Học Sinh

                     trường Trung Học Chu Văn An- Saigon

 

           Ðại Gia Ðình Chu Văn An chúng ta, hiện nay phân tán mỏng khắp nơi trên Thế Giới.  Mặc dù lo nhiều công việc ở sở, ở nhà, những thành viên trong Ðại Gia Ðình CVA vẫn thường cố gắng gặp gỡ nhau, trao đổi tin tức với nhau qua nhiều hình thức: Các cựu GC&NV, nhất là những vị cao niên, chỉ lâu lâu thăm viếng nhau, để hỏi han sức khoẻ, trao đổi vui buồn với nhau. Các cựu HSCVA, năng động hơn, thường tổ chức những buổi họp mặt qui mô hơn, có tiệc tùng, có ca nhạc, có dạ vũ…. để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm thân thương của trường xưa, bạn cũ.

Thế nhưng, các sinh hoạt ái hữu, nêu trên đây chỉ có tính cách cục bộ, hạn chế, riêng rẽ. Ở địa phương này không biết được các sinh hoạt ái hữu ở những địa phương khác, lại cũng không có được một cái nhìn bao quát về các sinh hoạt ái hữu chung của Ðại Gia Ðình CVA ở trong nước và ngoài nước.

Ðã đến lúc chúng ta cần có một “tập Kỷ Yếu trường Trung Học CVA- Saigon”, nhằm đúc kết mọi sinh hoạt ái hữu của tập thể Giáo Chức, Nhân Viên & Học Sinh, suốt chiều dài lịch sử của trường Chu Văn An, thân thương của chúng ta.

Lẽ ra chúng ta phải thực hiện công tác này sớm hơn nhiều, từ 15, 20 năm trước đây, thì mới mong có được những dữ kiện đầy đủ, chính xác.  Nay đã quá chậm, thời gian hơn ¼ thế kỷ, kể từ các đợt đầu tiên di tản ra nước ngoài của một số thành viên trong Ðại Gia Ðình Chu VĂN An, sau biến cố 30- 4-1975, đã lặng lẽ trôi qua. Ðại đa số chúng ta đã cao tuổi, nhiều người đã vĩnh biệt ra đi, hàng ngũ chúng ta đã rơi rụng khá nhiều. Vậy nên, bắt tay vào việc lúc này, quả tình, thật cực kỳ khó khăn.

Thế nhưng chậm còn hơn không. Nếu chúng ta còn chần chờ thêm nữa, thì rồi đây hàng ngũ chúng ta sẽ rơi rụng thêm nhiều nữa. Khi những chứng nhân lịch sử CVA ra đi gần hết rồi, thì chẳng còn cách nào để làm sống lại dòng lịch sử Chu Văn An trong hàng ngũ của chúng ta, chẳng còn có cách nào để có thể trao truyền lại cho thế hệ con em mai sau của chúng ta, những kỷ niệm thân thương của mái trường Chu Văn An Saigon.

  Nhóm chủ trương chúng tôi ước mong tất cả Giáo Chức, Nhân Viên & Học Sinh CVA tích cực đóng góp ý kiến xây dựng, để tập Kỷ Yếu CVA sớm được ra mắt vào mùa Xuân 2004, nhằm kỷ niệm 50 năm trường CVA thành lập và đồng thời kỷ niệm 26 năm trường CVA giải thể.

Suốt nhiều tháng qua, nhóm chủ trương chúng tôi đã cố gắng hết mình mới hình thành được cái sườn của tập Kỷ Yếu này. Thế nhưng vẫn còn quá nhiều thiếu sót.  

Chúng tôi ước mong có được trí tuệ tập thể cùng bộ nhớ tập thể của tất cả Giáo Chức, Nhân Viên & Học Sinh thuộc Đại Gia Ðình CVA gia bị, trong giai đoạn cuối của công trình biên soạn, để tập Kỷ Yếu CHU VĂN AN - 2004  được hoàn chỉnh viên mãn.

Nhóm Chủ Trương

San Jose ngày 20-5-2004

Sơ lược về Tiểu sử của danh Nho đời Trần CHU VĂN AN

 

Chu Văn An tên thật là Chu An, tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, sinh năm 1292, mất năm 1370 vào đời Trần. Ông người làng Quang Liệt, huyện Thanh Ðàn, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Ðông.

Ông đỗ Tiến Sĩ và nổi danh tài cao đức rộng. Vua Trẩn Minh Tông (1314- 1340) đã vời ông làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, để dạy cho Thái Tử học.

Ðến đời Trần Dụ Tông (1341- 1368), vua không chăm lo việc nước, trong triều quan quân cấu kết lộng hành. Ông khuyên vua không được.

Với tính cương trực, ông đã dâng vua Thất Trảm Sớ xin vua chém 7 tên nịnh thần có thế lực trong triều, để chấn chỉnh kỷ cương phép nước. Vua không nghe, ông liền trả áo mũ từ quan, để về núi Phượng Hoàng ở ẩn và dạy học, cùng làm lương y giúp dân làng. Học trò xa gần đến học rất đông. Trong số có những người như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát làm đến nhất phẩm triều đình.

Tài đức của ông được nhiều người ngợi khen, vua lại vời vào, ban chứcTể Tướng nhưng ông từ chối.

Ông là một trong những nhà Nho đầu tiên có tác phẩm bằng tiếng Nôm. Tác phẩm của ông gồm có Quốc Văn thi tập, Tử thư thuyết ước (soạn để dạy Thái Tử học), Tiều ẩn thi tập.

Khi ông mất, vua truy tặng ông tên Thụy là Văn Trinh, hiệu là Khang Tiết và lập thờ ở Văn Miếu. Người đời sau gọi ông là Văn Trinh Công  hay Chu Văn Trinh, hay Chu Văn An.

Dân chúng đã lập đền thờ cho ông tại núi Phượng Hoàng, còn gọi là núi Kiệt Ðặc, thuộc xã Văn An (Chí Linh, Hải Dương).

Núi này có hình dáng chim Phượng Hoàng đang tung cánh trên vùng núi non, phong cảnh rất hữu tình, đã thu hút rất nhiều các bậc danh sĩ các thời về đây thưởng ngoạn và trí sĩ.

--X--

Tài liệu trên đây được trích từ  Web Chu Văn An: http: // ww.saigon.com/~chuvanan/

Tinh thần CHU VĂN AN

Bài viết về Tinh Thần CVA được trích dẫn nguyên văn từ những bài viết về danh nho Chu Văn An của 2 giáo sư Nguyễn Xuân Vinh & Nguyễn Đình Hòa, đăng trong Đặc San CVA Bắc California 2000.

   

 Tinh thần CHU VĂN AN trong bài văn “Thất Trảm Sớ”

 

Bài vănThất Trảm Sớ phải là một công trình văn hóa bộc lộ cái dũng của một nho sĩ tiết tháo, bất khuất trước cường quyền, được tạo dựng nên sau nhiều đêm suy nghĩ bạc đầu, trước cảnh vận nước suy vong. Bài văn, sau khi bị vua Dụ Tông từ khước, tất nhiên đã bị bọn gian thần toa rập hủy diệt.  Nhưng tinh thần bài văn chắc chắn sẽ được lưu truyền vạn đại. Theo Lê Tung trong “Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận” thì đã khen rằng:

Thất trảm chi sớ

Nghĩa động càn khôn

Vạn ngôn chi thư

Trung quán nhật nguyệt.

Xin tạm dịch, diễn thêm là:

Dâng thư chém bẩy ác ôn,

Oai phong chấn động, càn khôn kinh hoàng.

Lời văn trùng điệp hàng hàng,

Sáng như nhật nguyệt, ẩn tàng thuyết minh.

 

Muốn tìm hiểu thêm tinh thần Chu Văn An, ta có thể đọc bài thơ vịnh của ông Cao Bá Quát (...1854) là một nhà văn thơ nổi tiếng thời vua Tự Đức có chí hướng cách mạng.

(trích bài viết của G.s. Nguyễn  Xuân Vinh – Đặc San CVA Bắc Cali 2000)

Vịnh CHU VĂN AN

Nguyên tác (chữ Hán)của CAO BÁ QUÁT (*)

(*)        Cao Bá Quát (1809-1854), biệt hiệu Chu Thần, là nhà thơ xuất sắc nhất trong  thế kỷ thứ XIX. Quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm.

Hoạn đồ lên xuống thăng trầm, nào bi cách chức, nào bị thải hồi, nào bị tù.

Sau khi ông nổi loạn (và bị Đinh Thế Quang bắn chết) ông còn bị nhà Nguyễn chu di tam tộc.

Trong số các tác phẩm của Cao Bá Quát, ngoài số hơn  một nghìn bài thơ phú bằng chữ Hán, kể cả các bài ca trù danh tiếng,  còn có  những  bài thơ vịnh Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi , v.v…

Bài thơ vịnh Chu (Văn) An như bên đây.

 

Bản dịch âm 

 

Vịnh CHU VĂN AN

Kính tiết thanh tu khí phách đương,

Dục tương chích thủ vãn đồi dương,

Lôi đình bất tỏa cô trung phẫn,

Qủy mị do kinh thất trảm chương,

Hạo khí dĩ bằng thiên địa bạch,

Cao phong do đối thủy sơn trường,

Lâm tuyền cựu ẩn kim hà tại?

Văn miếu duy dư tính tự hương.

CAO BÁ QUÁT

Dịch nghiã và dẫn chú của Gs. Nguyễn Đình Hòa

 

(Chu Văn An) Tiết-tháo cứng rắn, đạo-đức trong sạch, khí-phách chính-đáng.

Ông muốn dùng một cánh tay kéo mặt trời tà trở lại. (1)

Sấm sét không làm nhụt được nỗi phẫn-u của bậc cô-trung,

Ma qủy phải kinh hồn về bài sớ “Thất trảm”. (2)

Chí-khí hạo-nhiên nhờ có trời đất làm sáng tỏ,

Phong-cách cao-thượng còn lâu dài mãi với non sông.

Nơi ẩn dật xưa tại chốn lâm-tuyền nay biết là đâu!

Chỉ còn lưu lại danh thơm nơi Văn miếu.

(1). Ý nói CVA muốn khôi-phục nhà Trần lúc đó đã suy-vi.

(2). Bài sớ mà CVA dâng lên vua Trần Dụ Tông xin chém đầu bẩy tên nịnh-thần đều là người quyền thế được vua yêu (nhưng vua không nghe).

(trích bài viết của G.s. Nguyễn Đình Hòa, - Đặc San CVA Bắc Cali 2000)

Dịch vần và diễn giải của Gs. Nguyễn Xuân Vinh

 

Vịnh CHU VĂN AN

 

“Tiết sạch lòng son chí dũng cường,

Muốn đem tài sức néo tà dương.

Sấm uy khôn chặng người trung phẫn,

Sớ trảm kinh hoàng lũ qủy vương.

Khí thế tràn dâng, trời đất ngát

Gió cao thổi lộng núi sông trường.

Ẩn cư rừng suối nay đâu biết,

Văn miếu tên truyền tụng khói hương.”

Đây là một bài thơ tuyệt tác đã nói lên được cái Trí của Chu Văn An biết được kỷ cương suy đồi, muốn cứu vãn tình thế, cái Dũng  của nhà nho tiết tháo không sợ uy sấm sét của cường quyền, cái Nhân  của kẻ sĩ đã tả thành Văn để thảo nên một chương thất trảm làm cho qủy mị kinh hoàng.

Đó là tinh thần Chu Văn An và cũng là tinh thần bất khuất của dân tộc.      Bài sớ đã thất đã thất truyền mà tinh thần Chu Văn An vẫn lưu truyền vạn đại. Cũng như cột đồng Đông Hán tuy không còn vết tích mà giòng giống Giao Chỉ chúng ta vẫn sống mạnh muôn đời.

Chu Văn An là người có tài, hội đủ các đức tính Trí, Dũng, Nhân Văn. Tuy cáo quan, qui ẩn trong dẫy Côn Sơn, giữa khung cảnh tịch mịch, bên ao Miệt Trì mà  lòng  vẫn  chưa  hoàn  toàn  nguội lạnh với tình thế, nghĩ đến triều vua xưa còn có kỷ cương mà thấy sa giọt lệ, như trong bài thơ:

 

Miệt Trì

 

“Thủy nguyệt kiều biên lộng tịch huy,

Hà hoa, hà điệp, tĩnh tương y,

Ngư phủ cổ chiều, long hà tại?

Vân mãn, không sơn hạc bất quy!

Lão quế tùy phong hương thạch lộ,

Nộn dài trước thủy một tùng phi

Thổn tâm, thù vị như hôi thổ,

Văn thuyết Tiên hoàng lệ án my.”

 

Tạm dịch là:

Miệt Trì

                  

“Bên cầu, trăng nước chiều tà,

Cánh sen xen lẫn hoa ngà tựa nhau.

Cá bơi, rồng ẩn nơi nao?

Mây treo núi trắng, hạc sao chưa về?

Quế già thơm ngát đường đê,

Rêu non dẫm nước khôn che cửa hàn.

Lòng son thấm đất chửa tan,

Nghe Tiên hoàng, lệ muốn tràn trên mi”.

 

Bài thơ nói lên tâm sự của Chu Văn An, nghĩ đến Triều vua trước là Trần Minh Tông có nhiều nhân tài, trí lự như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi tuy gồm hai lớp tuổi tác chênh lệch nhưng đã cùng ông hành đạo giữ được kỷ cương, mà nay người tài như rồng hạt bay mất phương xa, chỉ còn lũ cá nổi nhởn nhơ mặt bèo.

(trích bài viết của G.s. Nguyễn  Xuân Vinh – Đặc San CVA Bắc Cali 2000)

 

Cây Phổ Hệ “BƯỞI–CHU VĂN AN”

 

Trường BƯỞI tức Trường BẢO HỘ

( Lycée du Protectorat )

Thành lập năm 1908

Giải thể ngày 9-3-1945

Tất cả các vị Hiệu Trưởng đều là người Pháp.

Vị Hiệu Trưởng cuối cùng là: Gs. Antoine Perucca

 

Với biến cố 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp:

Chấm dứt chế độ Ðô Hộ của Pháp.

Vĩnh viễn xoá tên trường Bảo Hộ                                  

Trường CHU VĂN AN Hà Nội                                                                                 

Thành lập ngày 12-5-1945

Tạm ngưng sinh hoạt trong thời kỳ                             

 thi hành Hiệp Ðịnh Genève (21-7-1954)

Các vị Hiệu Trưởng, trong thời gian này, gồm:

  • Gs Hoàng Cơ Nghị

Hiệp Ðịnh Genève (21-7-1954) tạm chia đôi Đất Nước Việt Nam thành 2 Miền:

Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra

Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào.

Trường Chu Văn An, do vậy, cũng chia đôi:

phân nửa lưu lại ở Hà Nội

phân nửa di chuyển vào Saigon

 

Trường CHU VĂN AN Saigon

Thành lập cuối năm 1954

Giải thể  … tháng 8-1978

Các vị Hiệu Trưởng, trong thời gian này, gồm:

Biến cố 30- 4- 1975 thay đổi thể chế chính trị ở miền Nam VN.

Từ 1- 5- 1975 đến cuối Hè n.k. 1974-75, trường CVA được đặt dưới sự quản trị của một ban Quân Quản.

Từ n.k. 1975- 76 đến cuối n.k. 1977-78, CVA có ban Giám Hiệu mới, với Hiệu Trưởng là:

Tháng 8- 1978, UBND T/p giảì thể trường CVA Sài Gòn

Trường CHU VĂN AN Hà Nội

Sinh hoạt trở lại cuối năm 1954

Sinh hoạt liên tục cho đến ngày nay

Các vị Hiệu Trưởng kế tiếp, gồm :

Trụ sở hiện tại của trường CHU VĂN AN- Hà Nội chính là trụ sở nguyên thủy  của trường BƯỞI

 

Chương  1

 

Trường CHU VĂN AN qua các khúc quanh lịch sử

  • Giai đoạn MỘT: Tiền thân trường CHU VĂN AN - Saigon:

(trước thời điểm thi hành Hiệp Ðịnh Genève)

Trường  Bưởi

(từ thành lập 1908  đến 9-3-1945)

Truờng Chu Văn An – Hà Nội

(từ sau 9-3-1945 đến 30-4-1975)

  • Giai đoạn HAI: Trường CHU VĂN AN - Saigon

(từ thành lập 1954 đến giải thể 1978)

  • Giai đoạn BA:

Thời kỳ “Hậu CHU VĂN AN – Saigon”

* * *

Trường Chu Văn An  qua các khúc quanh lịch sử

Giai Ðoạn MỘT

  (Hà Nội: Trước thời điểm thi hành Hiệp Ðịnh Genève)

 

 Tiền thân của trường CHU VĂN AN- Saigon

Tiền thân của trường CHU VĂN AN – Saigon, gồm:

  • Trường  BƯỞI

từ khi thành lập 1908 đến Biến Cố 9-3-1945

  • Trường CHU VĂN AN - Hà Nội

từ sau Biến Cố 9-3-1945 đến thời điểm thi hành Hiệp Ðịnh Genève (21-7-1954)

 

Tên gọi Trường BƯỞI  chỉ là một tên không chính thức, một tên gọi bình dân, thân mật (nick name) mà cư dân ở Thủ Ðô đã mến tặng ngôi trường Trung Học lớn và danh tiếng này, xây dựng ở làng Bưởi, bên bờ Hồ Tây, Hà Nội. Tên Trường BƯỞI  lúc ban đầu chỉ quen thuộc trong giới sinh viên học sinh và cư dân địa phương, đã được nhanh chóng lan rộng khắp cả Nước, lấn át tên chính thức là Trường BẢO HỘ.

 

GHI CHÚ: Trong giao dịch thường ngày, dân chúng chỉ thích dùng danh xưng Trường BƯỞI, tỏ ra lạnh nhạt và có đôi phần dị ứng đối với danh xưng Trường BẢO HỘ.  Về mặt tâm lý tình cảm, có thể có nhiều lý do để giải thích sự việc:

  • Người dân địa phương vui mừng và hãnh diện đón tiếp một ngôi trường Trung Học lớn, dạy chương trình Pháp Việt, vừa mới xây dựng ở địa phương làng BƯỞI.  Từ thương mến ngôi trường, cư dân làng BƯỞI dấy niệm muốn ôm gọn ngôi trường vào làng mình, đã mến tặng cho ngôi trường danh xưng trường BƯỞI, gián tiếp nói rằng đây là trường của làng BƯỞI. Bên cạnh đó, người dân Việt lại rất dị ứng đối với danh xưng trường BẢO HỘ.

Qua việc đặt tên cho trường, người dân Việt đã thấy rõ ý đồ của người Pháp muốn siết chặt sự thống trị trên đất nước Việt trong mọi lãnh vực, kể cả trong các lãnh vực văn hóa giáo dục.  Ở vào thế yếu, người dân Việt đã bày tỏ sự phản đối một cách âm thầm, tế nhị, nhưng rất khôn ngoan bằng cách thường xuyên dùng danh xưng trường BƯỞI trong mọi giao dịch thường ngày, và chỉ dùng danh xưng trường BẢO HỘ trong giao dịch chính thức mà thôi. Cũng nên biết: Người Pháp đến xâm chiếm nước Việt Nam, đặt nền thống trị tại miền Nam từ 1862, tại miền Trung và miền Bắc từ 1884, sau đó đã tiến chiếm các nước Cao Miên và Ai Lao.

Ba nước Việt Nam, Cao MiênAi Lao góp chung lại, lập thành cõi Ðông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise), đặt Thủ Phủ tại Hà Nội. Thủ phủ Hà Nội vừa là Thủ Phủ Hành Chánh, vừa là Thủ Phủ Văn Hoá Giáo Dục.  Tùy theo những đặc quyền, đặc lợi thu được, mà người Pháp đã áp đặt cho mỗi một Nước trong toàn cõi Ðông Dương thuộc Pháp một chế độ cai trị riêng:

 

  • Miền Nam Việt Nam đặt dưới chế độ “Thuộc Ðịa” (Colonie).
  • Miền Bắc, miền Trung Việt Nam, cùng với các nước Ai Lao & Cao Miên đặt dưới chế độ “Bảo Hộ”  (Protectorat).

 

A.- “Trường BƯỞI”

Trường BƯỞI được xây cất từ năm 1907 trên một khu đất mua lại của nhà in Schneider, tọa lạc tại làng Thùy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Ðông. Khu đất này rộng lớn, kéo dài từ bờ Hồ Tây đến làng Yên Thái. Nên biết Làng Yên Thái cũng được gọi là làng BƯỞI  nổi tiếng về nghề làm giấy bản và nghề nhuộm lãnh đen.

 

  • Từ năm 1908Ngay trong dịp Khai Giảng đầu tiên (1908), trường đã mở rộng cửa sẵn sàng để đón nhận học sinh.
  • Chương trình học do Nha Học Chánh Ðông Dương soạn thảo.
  • Hiệu Trưởng, Giám Học, Tổng Giám Thị, Hội Kế Viên ... đều là người Pháp.
  • Ban Giảng Huấn, phấn lớn, cũng đều là người Pháp. Vào những năm đầu, Giáo chức người Việt rất ít và chỉ phụ trách các môn học ít quan trọng. Càng về sau, số sinh viên tốt nghiệp tại các Ðại Học ở trong và  ở ngoài Nước càng nhiều, nên đã góp phần đáng kể trong việc tăng cường đội ngũ Giáo Chức người Việt tại trường.
  • Học sinh học từ 27 đến 28 giờ mỗi tuần, đi học ngày 2 buổi (sáng 3 giờ & chiều 2 giờ) nghỉ ngày thứ Năm và ngày Chủ Nhật. Ngoài số học sinh Ngoại Trú, ngày 2 buổi đi đến trường, còn có học sinh Nội Trú ăn ở & học luôn ở trong trường, và học sinh Bán Nội Trú  chỉ ăn bữa trưa tại trường.

 

Ban đầu, dưới tên Tiểu Học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) trường có 2 cấp:

 

a)         Cấp Tiểu Học (Petit Collège) dạy 4 năm từ lớp Tư  (tức lớp Dự Bi Tiểu Học) đến lớp Nhất Tiểu Học. Cuối cấp, học sinh thi lấy bằng Tiểu Học Pháp Việt (Certificat   d’ Études Primaires)

  1. Cấp Cao Ðẳng Tiểu Học (Grand Collège) dạy 5 năm. Trong 4 năm đầu học sinh thi lấy bẳng Cao Đẳng Tiểu Học.

Sang năm thứ 5, học sinh được tùy ý chọn lựa 1 trong 4 ban Nhiệm Ý:

  • Ban Sư Phạm đào tạo giáo chức;
  • Ban Hành Chánh đào tạo thư ký và  thông ngôn;
  • Ban Kỹ Thuật đào tạo chuyên viên cơ khí;
  • Ban Thương Mại  đào tạo chuyên viên kế toán, và luật lệ thương mại.

             Cuối cấp, học sinh thi lấy bằng Cao ÐẳngTiểu Học Việt Pháp (còn được gọi là   bằng Thành Chung)   => Trên văn bằng có ghi rõ  Ban Nhiệm Ý

            Ðể có đủ học sinh vào các lớp trong niên khoá đầu tiên, trường thu nhận các học sinh đã có bằng Sơ Học Yếu Lược vào lớp   cấp Tiểu Học, và tuyển chọn học sinh, từ các trường khác trong vùng, vào các lớp khác ở cấp Tiểu Học và ở cấp Cao Ðẳng Tiểu Học.

            Việc thu nhận học sinh gặp thuận duyên, vì đúng lúc trường Collège Jules Ferry ở Nam Ðịnh đóng cửa, nên đồn hết học sinh về trưòng Bưởi.

  • Từ năm 1918:  Chương trình có chút thay đổi. Khoá trình được rút gọn, chỉ còn đúng 4 năm đủ để học chương trình Cao Ðẳng Tiểu Học. Bãi bỏ các ban nhiệm ý.  Cuối cấp, học sinh thi lấy bằng bằng Cao Ðẳng Tiểu Học Việt Pháp (còn gọi là bằng Thành Chung) => Trên văn bằng không ghi  Ban Nhiệm Ý

  • Từ niên khoá 1924-1925: Cấp Tiểu Học được bãi bỏ. Thay vào đó, trường mở thêm các lớp ban Trung Học Bản Xứ, dạy học sinh đã có bằng Cao Ðẳng Tiểu Học học thêm 2 năm nữa để thi lấy bằng Trung Học Bản Xứ (Brevet de l‘Enseignement Secondaire Local) còn được gọi là bằng Tú Tài Bản Xứ  (Baccalauréat Local).
  •    Từ năm 1937Ban Trung Học Bản Xứ  được bãi bỏ. Thay vào đó, trường mở ban Trung Học Ðệ Nhị Cấp Pháp (Baccalauréat Métroplitain) trong 3 năm. Sau 2 năm, học sinh thi lấy bằng Tú Tài Pháp phần Một. Sau đó, học sinh học tiếp năm cuối, hoặc ở ban Triết Học (Série Philosophie), hoặc ở ban Toán (Série Mathématiques) để thi lấy bằngTú Tài Pháp Phần Hai.

                                   

GHI CHÚ: Ở giai đoạn này, trường có mời nhiều Giáo Sư Việt Nam danh tiếng về giảng dạy, như:

  • Tiến Sĩ  Văn Chương Pháp Nguyễn Mạnh Tường
  • Tiến Sĩ Sử Học Nguyễn Văn Huyên
  • Thạc Sĩ Toán Học Hoàng Xuân Hãn
  • Thạc Sĩ Lý Hoá Học Ngụy Như KonTum

  • Thời gian từ Thế Chiến thứ Hai đến biến cố 9-3-1945

  • Tháng 9-1939 Thế Chiến thứ Hai bùng nổ, toả rộng  từ Âu Châu  sang Á Châu.
  • Tháng 6-1940, ở Âu Châu, Pháp bại trận, phải điều đình với Ðức Quốc Xã.

Trong khi đó thì tại Á Châu, Nhật Bản (đồng minh của Ðức) thừa dịp xua quân chiếm đóng các nước Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao cùng một số nước khác trong vùng Á Châu. Toàn bộ cõi Ðông Dương thuộc Pháp  trở thành mục tiêu oanh tạc của phi cơ Hoa Kỳ.

 

Từ niên khoá 1943- 1944, để tránh nạn oanh tạc của phi cơ Hoa Kỳ, nên trường Bưởi phải rời khỏi Hà Nội:   

- Các lớp Cao Ðẳng Tiểu Học được chuyển về làng Phúc Nhạc, tỉnh Ninh Bình,

- Các lớp Trung Học Ðệ Nhị Cấp được chuyển vào Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Với biến cố 9-3-1945 Nhật đảo chánh Pháp chấm dứt nền Ðộ Hộ của Pháp trên toàn cõi Ðông Dương thuộc Pháp. Trụ sở của trường do quân đội Nhật chiếm đóng.

 

Chế độ Bảo Hộ cáo chung trên đất Việt, thì trường BẢO HỘ đương nhiên phải tự giải thể. Giáo sư người Pháp Antoine Perucca (vị Hiệu Trưởng cuối cùng của trường) cùng với toàn bộ giáo chức & nhân viên người Pháp đều rời khỏi nhiệm sở. Trụ sở của trường đóng cửa, ngưng sinh hoạt, chuẩn bị cho một vận hội mới.

B.-  Trường CHU VĂN AN - Hà Nội:

Liền sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9-3-1945), một Chính Phủ hợp nhất Việt Nam do Thủ Tướng Trần Trọng Kim thành lập đã ra đời. Nội Các Trần Trọng Kim  quy  tụ rất nhiều nhân sĩ có tên tuổi thời bây giờ.

Bộ Trưởng bộ Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn ban hành một chương trình giáo dục mới, hoàn toàn Việt Nam, mở đầu cho một nền Quốc Học theo đường hướng nhân bản & khai phóng. Chương trình giáo dục mới, ban hành năm 1945, đã được các giới “giáo chức-sinh viên-học sinh” ca ngợi duới tên gọi thân thương là chương trình Hoàng Xuân Hãn.

Ngay sau biến cố 9-3-1945, danh xưng trường Bảo Hộ liền được xoá bỏ. Tên danh Nho Chu Văn An, vị quan thanh liêm cương trực đời Trần, được chọn để thay thế.

Trường Chu Văn An, mặc dù chỉ mới ra mắt cộng đồng Trung Học Việt Nam vào khúc quanh lịch sử 9-3-1945, đã nhanh chóng trưởng thành, vươn lên mạnh mẽ, để trở thành một  trong nhóm trường Trung Học lớn, uy tín nhất trên toàn cõi Việt Nam

Ngày 12-5-1945  thật sự là ngày lễ hội đối với giáo chức & học sinh Việt của trường Bảo Hộ cũ.  Ðáp lời kêu gọi của Gs. Hoàng Cơ Nghị, vị Hiệu Trưởng đầu tiên của Chu Văn An - Hà Nội, tất cả giáo chức, nhân viên và học sinh đều nhanh chóng trở về trường sở cũ tiếp tục sinh hoạt.

Từ niên khoá 1945-1946, trường giảng dạy theo chương trình Việt Nam, dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ trong việc truyền đạt kiến thức nơi tất cả các môn học. Không khí đổi mới, hoàn toàn Việt Nam của trường mang tên Chu Văn An, đã khơi dậy nơi toàn thể giáo chức và học sinh niềm khát vọng yêu Tổ Quốc, yêu Quê Hương, bấy lâu nay bị dồn nén dưới mái trường mang tên Bảo Hộ trong suốt gần 4 thập niên qua.

            Vào tháng 9-1945, Nhật Bản bại trận, kết thúc Thế Chiến Thứ 2, trường CVA hồi cư về Hà Nội. Vì quân đội đang còn đóng ở trụ sở chính của trường Bưởi, nên trường CVA được chuyển về tỉnh lỵ Hà Ðông, rồi về Việt Nam Học Xá ở Bạch Mai, Hà Nội.

            Vào 1-10-1945, Gs. Nguyễn Gia Tường, thay Gs. Hoàng Cơ Nghị làm Hiệu Trưởng.

            Vào đầu niên khoá 1946-1947, trường CVA được dời về trụ sở trường Nữ Trung Học Pháp (tên cũ là Félix Faure). Chỉ học được hơn 2 tháng thì chiến tranh chống Pháp xẩy ra vào ngày 19-12-1946. Chiến tranh tàn phá, dân cư ùn ùn chạy ra khỏi Thủ Ðô tìm đường lánh nạn. Vị Hiệu Trưởng đương nhiệm là Gs. Dương Quảng Hàm  bị tử thương ngày 26-12-1946, trên đường rời thành phố. Trường tạm thời đóng cửa, ngưng hoạt động.

            Vào  26-1-1948, trường CVA được mở cửa hoạt động trở lại tại trụ sở trường Nữ Tiểu Học Hàng Cót, với Gs. Mai Văn Phương làm Hiệu Trưởng.

Niên khoá 1949-1950, trường CVA được dời về trụ sở của trường Nữ Trung Học Ðồng Khánh, ở phố Hàng Bài, ngay trung tâm thành phố. Vị Hiệu Trưởng đương nhiệm là giáo sư Ðỗ Văn Hoán.

Vào thời điểm này, sĩ số học sinh tăng quá nhanh, trụ sở trường Nữ Trung Học Ðồng Khánh quá tải, không còn đủ sức chứa nữa.

Vào đầu niên khoá 1950-1951, nhà trường quyết định tự tách đôi, trở thành 2  trường với 2 tên khác nhau và ở 2 điạ điểm khác nhau:

- Tái lập trường Nguyễn Trãi, ở ngay tại trụ sở của trường Nữ Trung Học Ðồng Khánh, với  Gs. Ðỗ Văn Hoán làm Hiệu Trưởng. Trường Nguyễn Trãi tập họp những học sinh vừa mới vào CVA niên khoá 1949-1950, và còn tuyển thêm nhiều học sinh mới vào niên khoá 1950-1951.

-  Di chuyển trường Chu Văn An về trụ sở của trường Nam Sư Phạm, ở đường Ðỗ Hữu Vị, Cửa Bắc, với giáo sư Phạm Xuân Ðộ làm Hiệu Trưởng cho niên khoá 1950-1951, rồi giáo sư Vũ Ngô Xán cho các niên khoá 1951-52, 1952-53, 1953-54 (ở Hà Nội).

Hiệp Định Genève (21-7-1954) tạm chia đôi Đất Nước: Từ sông Bến Hải trở ra thuộc về miền Bắc VN, từ sông Bến Hải trở vào  thuộc về miền Nam VN.

Lại một lần nữa trường Chu Văn An bị tách đôi:

*  Phần di cư vào miền Nam, trở thành trường Chu Văn An-Saigon vắn số, chỉ hoạt động, vỏn vẹn có 24 năm, từ niên học 1954- 55 đến ngày giải thể… tháng 8-1978.

Trường Chu Văn An – Saigon (ảnh chụp năm ……………)

* Phần ở lại miền Bắc, trường Chu Văn An - Hà Nội mãi đến cuối năm 1954 mới trở lại hoạt động tại trụ sở cũ của trường Bưởi, đường Thụy Khuê, và tồn tại mãi cho đến ngày hôm nay.

Trụ sở hiện nay của trường CHU VĂN AN - Hà Nội chính là trụ sở nguyên thủy của trường BƯỞI

Trường Chu Văn An – Hà Nội         (ảnh chụp năm ……………)

***

 

Giai Ðoạn HAI

(Saigon: CVA - Saigon từ thành lập 1954 đến giải thể 1978)

A.- Từ sau Hiệp Ðịnh Genève 21-7-1954 đến biến cố 30-4-1975

1.- Lật lại các trang sử đầu tiên của trường CVA - Saigon

  1. Bước đầu định cư ở Saigon

Trong khoảng tháng 8 tháng 9 năm 1954, trước khi quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản thủ đô Hà Nội, một bộ phận của trường Trung Học Chu Văn An được lệnh của bộ Quốc Gia Giáo Dục di chuyển từ Hà Nội vào Saigon.

Hai vị Hiệu TruởngGiám Học đương nhiệm (Gs. Vũ Ngô Xán & Gs. Vũ Ðức Thận) cùng với rất nhiều giáo sư và nhân viên (như các Gs. Hoàng Cơ Nghị, Bùi Phượng Chì, Vũ Lai Chương, Bùi Ðình Tấn, Vũ Hoàng Chương, Ðào Văn Dương, Nguyễn Văn Ðĩnh, Nguyễn Văn Mùi, Lê Văn Thu, Nguyễn Chung Tú, Cao Quang Cận, Lê Văn Nhung, Nguyễn Ðình Huề, Vũ Khắc Khoan, Ngô Duy Cầu, Nguyễn Hữu Lãng, Trần Văn Từ, Ðỗ Ðăng Dụng, Vũ Quang Nghiã v.v...)  đã theo trường di cư vào Nam.

 

  1. Chuẩn bị cho niên học đầu tiên

Để cho việc giảng dạy và học tập, lúc bấy giờ, được liên tục, không bị gián đoạn, vị Giám Đốc nha Học Chánh miền Bắc di cư (Gs. Đỗ Trí Lễ) đã nhanh chóng ký thông tư thành lập trường Trung Học Đệ Nhị Cấp CHU VĂN AN - Saigon và tái bổ nhiệm ban Giám Hiệu CVA - Hà Nội  vừa mới di cư vào Nam, tiếp tục đảm nhiệm công tác cũ tại trường CVA - Saigon. Thành phần ban Giám Hiệu CVA - Saigon đầu tiên gồm có: Hiệu Trưởng (Gs. Vũ Ngô Xán ), Giám Học (Gs. Vũ Ðức Thận), Tổng Giám Thị (Gs. Nguyễn Hữu Lãng). Ngoài thành Giáo Chức và Nhân Viên nòng cốt từ CVA - Hà Nội, vừa mới di cư vào Nam, Nha Giám Ðốc Học Chánh miền Bắc di cư  còn tuyển chọn thêm nhiều Giáo Chức và Nhân Viên mới ở ngay tại địa phương.

 

2.- Trường sở, phòng lớp của trường CVA Saigon (theo thứ tự thời gian)

a) Trụ sở đầu tiên: tạm thời ở trường Pérus Ký (nk.1954- 1955):

            Ðể kịp khai giảng Niên Khóa đầu tiên 1954-55, ban Giám Hiệu Chu Văn An đã thương lượng với ban Giám Hiệu Pétrus Ký, để cho học sinh CVA được học chung với học sinh Pétrus Ký ngay tại trụ sở của trường Pétrus Ký (Pétrus Ký học sáng - CVA học chiều).

Số phòng dùng làm lớp học là 20, vừa đủ để tổ chức 20 lớp học cho mỗi xuất: (20 lớp học xuất sáng dành cho H.s. Pétrus Ký; 20 lớp học xuất chiều dành cho H.s. Chu Văn An)

            Trong Niên khóa 1954-55, trường CVA chỉ xử dụng 19 phòng làm lớp học để giảng dạy cho 1168 học sinh (1144 Nam & 24 Nữ).

Niên khoá 1954-55  có: 5 lớp Ðệ Nhất Cấp & 14 lớp Ðệ Nhị Cấp.

            Số lớp Ðệ Nhị Cấp gồm:  4 lớp 10  -   4 lớp 11  -   6 lớp 12.

            Xét riêng cấp lớp 12 có:  2 lớp 12A;  3 lớp 12B; 1 lớp 12C

GHI CHÚ:Lúc bấy giờ, lớp 12 còn được gọi là lớp Ðệ Nhất; lớp 11 còn được gọi là lớp Ðệ Nhị;  lớp 10 còn được gọi lớp Ðệ Tam.

b) Trụ sở thứ haiTừ niên khoá 1955-56 cho đến tháng 6-1961, đặt tại một ngôi nhà 2 tầng, trong khuôn viên nguyên thủy (*) của truờng Pétrus Trương Vĩnh Ký.   Ngôi nhà này, mấy năm trước đó, là trụ sở của Công An Bình Xuyên, và ở trong hiện tại thuộc quyền sử dụng của trường Ðại Học Sư Phạm. Nhờ sự can thiệp của bộ Quốc Gia Giáo Dục mà trường Chu Văn An mới có được một trụ sở độc lập, riêng biệt  nêu trên đây.

 

GHI CHÚ:(*)  Nguyên thủy, dưới thời Pháp thuộc, trường Pétrus Ký đuợc xây dựng trên một khu đất rộng lớn, nằm trọn giữa 4 con đưởng lớn. Ngoài khu trường chính, còn có những nhà lầu 2 tầng dành cho học sinh nội trú. Những toà nhà nầy, về sau, được dùng làm những cơ sở giáo dục khác (như: Ðại Học Khoa Học - Ðại Học Sư Phạm - Trường Trung Học Kiểu Mẫu v.v…)

Ngôi nhà 2 tầng này được sử dụng như sau:

  • Tầng 1 và tầng 2, mỗi tầng có 2 phòng lớn (nguyên thủy dành làm phòng ngủ cho học sinh nội trú).  Ngay sau khi vừa tiếp thu, ban Giám Hiệu đã có kế hoạch dùng gỗ và cát tông cứng, chia mỗi phòng lớn ra làm 2 phòng nhỏ, dùng làm 8 phòng học.
  • Tầng trệt có 4 phòng, đều là vách gạch, sử dụng như sau: 1 phòng dùng làm phòng Hiệu Trưởng; 1 phòng dùng làm Văn Phòng; 2 phòng làm 2 phòng học.

Số phòng dùng làm phòng học 10, đủ để tổ chức 20 lớp học (10 lớp học xuất sáng và 10 lớp học xuất chiều ) (* *).

Niên khoá 1955-56, trường CVA thu nhận khoảng 2000 học sinh, trong số đó có 144 nữ sinh từ trường Trương Vương chuyển qua.  Niên khoá này có ……..lớp Ðệ Nhất Cấp và ……. lớp Ðệ Nhị Cấp: Số ……lớp Ðệ Nhị Cấp gồm: … lớp 12 (…lớp 12 A; ... lớp 12 B; …lớp 12 C) … lớp 11  và … lớp 10

Niên khoá 1956-57 chỉ có nam học sinh mà thôi, vì lúc bấy giờ Trưng Vương không còn gởi  học sinh qua Chu Văn An nữa.  Niên khoá này có ……..lớp Ðệ Nhất Cấp và ……. lớp Ðệ Nhị Cấp: Số ……lớp Ðệ Nhị Cấp gồm:  … lớp 12 (... lớp 12 A; ... lớp 12 B; … lớp 12 C) … lớp 11  và … lớp 10

Từ niên khoá 1957-58 cho đến khi chuyển sang trường mới (tháng 61961), số lớp tuy có thay đổi theo từng niên khoá, nhưng chẳng chênh lệch bao nhiêu.

GHI CHÚ: (**) Vào những năm mà số lớp tăng nhiều, không có đủ phòng học, ban Giám Hiệu đã có sáng kiến sử dụng một nhà in cũ, bỏ trống, ở nơi sân bóng cạnh trường, làm thêm 2 phòng học nữa.

                       

c) Trụ sở thứ ba:   Từ tháng 6-1961 đến thời điểm trường giải thể (8-1978)

Năm 1957 Gs. Trần Văn Việt thay Gs. Vũ Ngô Xán làm Hiệu Trưởng trường CVA.  Chỉ một thời gian ngắn, sau khi lãnh nhiệm vụ mới, Gs. Trần Văn Việt đã tích cực vận động Bộ Quốc Gia Giáo Dục để xin tân tạo  “một trụ sở chính thức cho trường CVA”.

Thỉnh nguyện được nhanh chóng duyệt xét. Bộ đã quyết định cấp ngay cho CVA một khu đất khá rộng để xây dựng một trường sở mới chính thức và riêng biệt. Khu đất này ở sát bên khu Cư Xá Sinh Viên Ðại Học. Từ nơi đây, nhìn xéo qua đường, là khu vực Nhà Thờ Ngã Sáu Chợ Lớn.

Ngôi trường mới, có cổng chính  ở địa chỉ  546 Hồng Bàng, Quận 5, Saigon  (hiện nay là 546 Ngô Gia Tự - Quận 5, T/P Hồ Chí Minh), gồm 3 toà nhà 3 tầng (***) xây song song với nhau, do Nữ Kiến Trúc Sư Huỳnh Thị Kiều Nga (thuộc Tổng Nha Kiến Thiết) vẽ họa đồ thiết kế.

 

GHI CHÚ:(***) Toà nhà thứ 3, ở tận trong cùng, sau một thời gian ngắn, được nâng lên thêm một tầng nữa.  Ngoài ra, từ cổng vào, thẳng góc với 3 toà nhà còn có xây thêm một Hội Truờng khá rộng lớn, dành cho các sinh hoạt về văn nghệ, thể dục, thể thao. Ba toà nhà nầy được sử dụng như sau:

 

*  Toà nhà thứ Nhất (ngoài):

            - Tầng Trệt4 phòng: 1 phòng dùng làm Phòng Hiệu Trưởng & Văn Phòng Hiệu Trưởng, 1 phòng dùng làm Phòng Giáo Sư, 1 phòng dùng làm phòng Giám Thị

- Tầng 2 có  4 phòng dùng làm 4 phòng học

- Tầng 3 dùng làm thư viện

*  Toà nhà thứ Hai (giữa):

- Tầng Trệt 4 phòng dùng làm 4 phòng học

- Tầng 24 phòng dùng làm 4 phòng học

*  Toà nhà thứ Ba (cuối)

- Tầng Trệt  4 phòng: 2 phòng dùng làm Phòng Thí Nghiệm & Phòng Thực Tập Thí Nghiệm 2 phòng dùng làm 2 phòng học.

- Tầng 2 4 phòng dùng làm 4 phòng học

- Tầng 34 phòng dùng làm 4 phòng học

Số phòng dùng làm phòng học là 24 đủ để tổ chức 48 lớp học (24 lớp xuất sáng và 24 lớp xuất chiều ).  Ở trụ sở mới, do số phòng dùng làm lớp học gia tăng, nên có khả năng thu nhận thêm nhiều học sinh (thu thêm học sinh vào các lớp Ðệ Nhất Cấp).

Niên khoá 1961-62 có: 24 lớp Ðệ Nhất Cấp (6 lớp cho mỗi cấp lớp 6-7-8-9) 24 lớp Ðệ Nhị Cấp (8 lớp cho mỗi cấp lớp 10-11-12)

Từ niên khoá 1962-63 đến niên khoá 1974-75 (năm 1975 có biến cố 30-4-75) số lớp, tuy có thay đổi theo từng niên khoá, nhưng chẳng có chênh lệch nhiều.   

 

CHU VĂN AN lớp tối :      

 

Cũng như các trường bạn trong vùng “Saigon - Cholon - Gia Ðịnh”, tại trụ sở thứ Ba, kéo dài cho đến 30-4-75, trường CVA có mở thêm những lớp học tối dành cho các học sinh bán công. Ban Giám Hiệu và ban Giáo Sư CVA đảm nhiệm điều hành & giảng dạy.

 

Thời gian từ 1-5-1975 đến tháng 8-1978 đã có rất nhiều sự việc làm thay đổi sâu đậm nếp sinh hoạt truyền thống của trường Chu Văn An.

 

Sau biến cố lịch sử 30-4-1975, toàn ban Giám Hiệu trường Chu Văn An ngưng sinh hoạt. Việc quản trị & điều hành nhà trường do một ban Quân Quản gồm một số cán bộ an ninh từ miền Bắc và từ Mặt Trận GPMN  đảm nhiệm.

Sáng ngày 1-5-1975, cán bộ Ðinh Kim Phương, trưởng ban Quân Quản, kêu gọi toàn thể Giáo Sư, Nhân Viên và học sinh trở lại trường.  Chỉ một thời gian ngắn sau đó, các Giáo Sư CVA đã trở lại bục giảng, tiếp tục giảng dạy học sinh cho đến hết niên khoá 1974-75.

 

Ðến cuối hè niên khoá 1974-75, ban Quân Quản trao việc quản trị và điều hành nhà truờng cho một ban Giám Hiệu mới, chuẩn bị khai giảng niên khoá mới 1975-76.

 

Từ niên khoá 1975-76, trường Chu Văn An lại phải đối diện với nhiều sự thay đổi sâu rộng hơn nữa:

- Ban Giám Hiệu mới, đặc biệt là Hiệu Trưởngcán bộ giáo dục miền Bắc, hoặc cán bộ giáo dục miền Nam hoạt động ở Nội Thành.

- Bên cạnh cơ cấu tổ chức của ban Giám Hiệu còn có thêm một bộ phận đặc trách về sinh hoạt chính trị tại học đường.

- Một số giáo chức & nhân viên CVA được bổ nhiệm công tác ở trường khác.

- Một số giáo chức & nhân viên mới được chuyển về CVA.

- Một số học sinh CVA được chuyển đến các trường khác.

- Một số học sinh mới đuợc chuyển đến học ở trường CVA, gồm: Học sinh con cháu cán bộ, từ miền Bắc, theo gia đình vào Saigon.  Học sinh Việt & Hoa, học theo chương trình Pháp, từ các trường Tư Thục Trần Khai Nguyên và Bác Ái.  Học sinh Việt & Hoa, học theo chương trình  Việt, từ các trường Tư Thục khác thuộc địa  bàn Quận 5, Quận 10.  Một số học sinh Việt & Hoa, học theo chương trình Pháp trường Marie Curie (thuộc toà Lãnh Sự Pháp) và là cư dân các Quận 5 & Quận 10 v.v….

                                                           

Chưa bao giờ Giáo Sư  CVA lại phải đối diện với một thành phần học sinh quá đa dạng, quá phức tạp đến như vậy (học sinh Nam và  học sinh Nữ ở tất cả các cấp lớp - học sinh. miền Bắc và học sinh miền Nam có chương trình học khác nhau -  học sinh theo chương trình Việt và học sinh theo chương trình Pháp - học sinh Việt & học sinh gốc Hoa - học sinh trường Công Lập và học sinh trường Tư Thục có trình độ chênh lệch nhau).

Tập thể Giáo Sư CVA vừa phải cố gắng hoà nhập vào nếp sinh hoạt mới, vừa phải bảo đảm phẩm chất trong giảng dạy, quả thật đã phải đối phó với quá nhiều khó khăn thử thách.

Thế nhưng, nhờ truyền thống “mến nghề, yêu trẻ”, anh chị em Giáo Sư CVA đã vượt qua mọi trở ngại, đạt được những thành quả đáng khích lệ trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Những thành quả này được thể hiện rõ nét qua sự cố gắng học tập của học sinh ở các cấp lớp, qua thành tích tốt đẹp mà học sinh cấp lớp 12 đã đạt được trong các kỳ thi Tốt Nghiệp Phổ Thông (Tú Tài) và các kỳ thi tuyển Ðại Học & Cao Ðẳng, cũng như qua sự biểu lộ tình cảm, lòng tin kính của các học sinh đối với các thầy Cô.

Niên khoá 1975-76,  trường có trên 2000 học sinh  (gồm cả  học sinh Nam lẫnhọc sinh Nữ). Vì phân nửa số học sinh Ðệ Nhất Cấp được chuyển sang các trường khác, và nhằm có chỗ để thu nhận các học sinh Ðệ Nhị Cấp từ các trường Tư Thục trong khu vực chuyển đến, nên số 48 lớp được phân phối lại như sau:
  • 12 lớp Ðệ Nhất Cấp (3 cho mỗi cấp lớp 6-7-8-9)
  • 36 lớp Ðệ Nhị Cấp (12 cho mỗi cấp lớp 10-11- 12)

Số lớp ở các niên khoá 1976-77 & 1977-78, tuy có thay đổi, nhưng chẳng có chênh lệch bao nhiêu.

* * *

 

Giai Ðoạn BA: 

Thời Kỳ  Hậu CVA - Saigon

 

a) Cuối năm 1978

                        Cuối mùa Hè của niên khoá 1977-78, trong khi ở các trường bạn, giáo sư và học sinh rộn rịp chuẩn bị đón ngày Khai Trường niên khoá 1978-79, thì tại trường Chu Văn An - Saigon, một bầu không khí trầm lặng, khác thường bao trùm phòng họp.

ð                  Ban Giám Hiệu thông báo quyết định giải thể trường Trung Học Chu Văn An.

 Vị Hiệu Trưởng đương nhiệm tự tay trao các sự vụ lệnh thuyên chuyển đến các Giáo Chức và  Nhân Viên, để mọi người gấp rút đi nhận công tác mới ở các trường khác, kịp mùa khai giảng 1978- 1979.  Lịch trình di chuyển học sinh các cấp lớp đến các trường khác trong khu vực cũng được thông báo và niêm yết tại trường.

Thông báo “giải thể trường Trung Học Chu Văn An”, đã gây nhiều xúc động nơi mọi người trong cuộc, trước cảnh chia ly quá đột ngột. Toàn thể Giáo Chức Nhân Viên và Hoc Sinh ngậm ngùi chia tay nhau, chuẩn bị sẵn sàng ra đi đến nhiệm sở mới.  Nhưng trong tâm khảm, mọi người đều:

  • Ước mơ được thấy “trường Trung Học Chu Văn An Saigon sớm được hoạt động trở lại”
  • Ước mơ “tại Thành Phố Saigon, sẽ có một trường Phổ Thông Trung Học Chu Văn An hình thành ngay nơi mà trước đây trường Trung Học Chu Văn An Saigon tọa lạc”.

Ðược như vậy:

  • Các cựu Giáo Chức, Nhân Viên & Học Sinh CHU VĂN AN sẽ hội đủ thuận duyên, sẽ có được thuận cảnh, nhằm tham gia hỗ trợ nhà trường trong một số công trình phát triển thuộc nhiều lãnh vực, như: thể dục, thể thao, y tế, thư viện, vi tính, sinh ngữ v.v…; đồng thời tham gia đóng góp một số học bổng để nhà trường cấp cho các học sinh ưu tú.
  • Các cựu Học Sinh CVA ở thế hệ đàn anh, sẽ có cơ hội đem kiến thức, đem kinh nghiệm để trao truyền lại cho các lớp học sinh ở thế hệ đàn em, qua những dịp thăm viếng trường, qua những dịp nói chuyện về các đề tài khoa học kỷ thuật hiện đại.
  • Các cánh chim Chu Văn An, hiện đang sống rải rác khắp 10 phương Thế Giới, ở trong cũng như ở ngoài Nước, theo tiếng gọi đàn, sẽ thật sự được quay trở về nơi tổ ấm.

b) Ðầu năm 1979

Vào đầu năm 1979, theo sự sắp xếp của sở Giáo Dục T/P Hồ Chí Minh, trụ sở của trường Chu Văn An đã được chuyển giao cho:  Trường PHỔ THÔNG LAO ÐỘNG Thành Phố Hồ Chí Minh

Trường PHỔ THÔNG LAO ÐỘNG T/P HCM  chuyên dạy Bổ Túc Văn Hoá theo chương trình Phổ Thông Trung Học (có hạn chế) dành riêng cho cán bộ và công nhân viên dân sự & quân sự, đang tại chức, cư ngụ trong địa bàn T/P HCM.

 

c) Năm 1998

Vào năm 1998, khi hệ thống trường PHỔ THÔNG LAO ÐỘNG toàn quốc được lệnh giải thể vì hết nhiệm vụ thì trụ sở của trường Chu Văn An cũ lại được sử dụng để phục vụ một hệ thống trường mới, mang tên TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN  đặc trách về Giáo Dục Cộng Ðồng cho nhiều tầng lớp, vừa dạy nghề, vừa dạy văn hoá, đặc biệt là dạy văn hoá theo chương trình Phổ Thông Trung Học Cấp 3 (có hạn chế).  Ủy Ban Nhân Dân T/P HCM quyết định đặt tên cho ngôi trường mới  là:

TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CHU VĂN AN

(Nơi tấm bảng ở cổng chính vào Trường có ghi địa chỉ và số điện thoại hiện tại)

 

Như vậy là: Sau 20 năm dài vắng bóng, tên CHU VĂN AN tái xuất hiện trên tấm bảng ở cổng chính vào trường

Ngôi trường mới tọa lạc tại địa điểm cũ không phải là một trường Trung Học, mà lại là một TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN. Thế nhưng riêng cái tên Chu Văn An, ghi ở cổng trường, cũng đã có hấp lực đặc biệt đối với các thành viên trong Đại Gia Đình Chu Văn An.

 

Rất nhiều Cựu Giáo chức, Nhân Viên & Học sinh CVA từ khắp mười phương về thăm nơi chốn cũ, đã đến đứng trước cổng trường chụp một vài hình kỷ niệm, để hồi tưởng lại những  sinh hoạt quen thuộc ấm cúng với thầy cũ bạn cũ, dưới mái trường xưa mang tên Trung Học Chu Văn An

 

Chương  2

Các ban Giám Hiệu Trường Trung Học Chu Văn An - Saigon

(xếp theo thứ tự thời gian)

Năm    Hiệu Trưởng       Giám Học             Tổng Giám Thị           

1954     ---                         ---Vũ Ngô Xán      Vũ Ðức Thận              Nguyễn Hữu Lãng

1955    ---                          ---                          ---

1956     ---                         ---                          ---

1957    ---                          ---                          Trần Văn Việt Nguyễn Hữu Văn                  

1958   ---                          ---                          Bùi Ðình Tấn

1959    ---                          ---                          ---    

1960    ---                          ---                          ---Ng. Văn Kỹ Cương

1961    ---                          ---                                ---

1962    ---                          ---                          Lê Văn Lâm         

1963    ---                          ---                          Nguyễn Hữu Văn

1964    ---                          ---                          Ðàm Xuân Thiều         Ðào Văn Dương  

1965    ---                          ---Cao Xuân Các   Bùi Ðình Tấn Nguyễn Ð. Quỹ         

1966    ---                          --- Nguyễn V. Phong        ---        Dương Minh Kính

1967    ---                          --- Nguyễn Xuân Quế       --- Nguyễn Ðức Quang

1968    --- Nguyễn Xuân Quế             --- Ng. Huy Ðương     --- Hà Trường Tiệp       

1969    ---                          --- Hoàng Ngọc Anh         ---

1970    ---                          ---                          ---       

1971    ---                          ---                          ---       

1972    ---                          ---                          --- Trần Quang Lãng              

1975 (đến 30- 4- 1975)     ---                          ---

 

Thời gian từ 1- 5- 1975 đến …- 8- 1978 (ngày Chu Văn An ngưng hoạt động):

Sau biến cố lịch sử 30/4/1975, toàn ban Giám Hiệu trường Chu Văn An ngưng sinh hoạt. Việc quản trị và điều hành trường CVA  do một ban Quân Quản gồm một số cán bộ từ miền Bắc và từ Mặt Trận GPMN đảm nhiệm. Trưởng ban Quân Quản là cán bộ Ðinh Kim Phương.

Ðến cuối Hè niên khoá 1974-75, trách nhiệm quản trị và điều hành nhà trường được trao lại cho ban Giám Hiệu mới, nhằm chuẩn bị khai giảng niên khoá 1975-76.

Các ban Giám Hiệu trong khoảng thời gian này như sau :

 

            Niên khoá 1975- 76     1976- 77          

-                      Hiệu Trưởng         :  Vũ Văn Huệ (Cán bộ Giáo Dục nội thành)

-                      Hiệu Phó (chuyên môn)          :  Cao Ðình Quát (GS. CVA)

-                      Hiệu Phó ( chính trị )  :  Lê Minh Ngọc  (Cán bộ Giáo Dục miền Bắc) 

                                                                                 

            Niên khoá 1977- 78

-                      Hiệu Trưởng         :  Vũ Văn Huệ    

-                      Hiệu Phó (chuyên môn)          :  Nguyễn Thị Kim Anh

-                      Hiệu Phó (chính trị)    :  Lê Minh Ngọc  rồi  Quách Bích Hà thay thế.

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH HỘI P.H.H.S.-CVA

 

Nhiệm kỳ : ( 1955 – 19……. )

                                    - Hội Trưởng : Ông Ðào Văn Trung

- Phó Hội Trưởng : ………………

                        Nhiệm kỳ : ( 19…. – 19……. )

                                    - Hội Trưởng : Bác sỹ  Lê Duy Chất

- Phó Hội Trưởng : ………………

                       

Nhiệm kỳ : ( 19….. – 19……. )

                                    - Hội Trưởng : Ông Vũ Ngô Xán

                                    - Phó Hội Trưởng : ………………

                       

Nhiệm kỳ : ( 19…. – 19……. )

                                    - Hội Trưởng : Ông Nguyễn Văn Tuân

                                    - Phó Hội Trưởng : ………………

                       

Nhiệm kỳ : ( 1967 – 1975 )

                                    - Hội Trưởng : Ông Ðỗ Kế Thuật

- Phó Hội Trưởng : Bà Huỳnh Kiêm Anh

Chú Thích  :  Ở đây chỉ ghi tên họ, Ðịa chỉ, số điện thoại ghi trong các bản danh sách CGC&NV-CVA

Chương  3

Sinh Hoạt  trường Chu Văn An Xuyên qua : Hình ảnh lưu niệm

*

Hướng về Thế Hệ trước

Sinh hoạt trường CHU VĂN AN Hà Nội

(1945 đến 1954)

*

Sinh hoạt trường CHU VĂN AN Saigon

(1954 đến 1978)

 

 

Chương  4

                                         

- Sơ đồ tổ chức các trụ sở liên lạc Ái Hữu Cựu GC&NV-CVA -  Saigon

- Danh sách các đại diện liên lạc ở các Khu Vực và ở các vùng

- Danh sách các Ái Hữu Cựu GC&NV-CVA

- Hướng về Thế Hệ trước Cựu GC&NV-CVA Hà Nội (1945-1954)

- Danh sách Ái Hữu Cựu GC&NV-CVA Saigon (1954-1978)

            Sơ Ðồ Tổ Chức

Các trụ sở liên lạc của Ái Hữu Cựu GC&NV  CHU VĂN AN Saigon

 

Khu Vực Á Châu TBD

  • Trụ sở liên lạc ở vùng Nhật Bản
  • Trụ sở liên lạc ở vùng……………
  • Trụ sở liên lạc ở vùng……………        

Khu Vực Âu Châu

  • Trụ sở liên lạc ở vùng Anh
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng Ðức
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng Pháp
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng ……………

Khu Vực Gia Nã Ðại

  • Trụ sở liên lạc ở vùng Montreal- Qué.
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng Toronto Ont.
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng ………….

Khu Vực Hoa Kỳ

  • Trụ sở liên lạc ở vùng Wasghington DC & miền Ðông
  • Trụ sở liên lạc ở vùng Bắc California
  • Trụ sở liên lạc ở vủng Nam California
  • Trụ sở liên lạc ở vùng Texas

Khu Vực Úc Châu & Tân Tây Lan

  • Trụ sở liên lạc ở vùng ……………...
  • Trụ sở liên lạc ở vùng …………….
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng …………….
  • Trụ sở liên lạc ở Vùng ……………..

Khu Vực bổ sung

Gồm các vùng lẻ tẻ ở ngoài Việt Nam, nhưng không thuộc vào 5 Khu Vực Hải Ngoại (nêu trên đây), hoặc ở trong 5 Khu Vực Hải Ngoại trên, mà không thuộc các Vùng liệt kê nơi các Khu Vực này.

Cựu GC&NV CVA SAIGON  cư ngụ ở trong Khu Vực bổ sung, liên lạc trực tiếp với Trụ Sở  Liên Lạc Trung Ương ở  miền Nam California.

Ở Quốc Nội: Hiện nay chưa có Ban Liên LẠC Cựu Giáo Chức & Nhân Viên CHU VĂN AN (1954- 1978)

 

Danh sách các “Ðại Diện liên lạc “ ở các Vùng     

 

KHU VỰC Á CHÂU TBD

Chưa có Ðại Diện.

KHU VỰC ÂU CHÂU

 

Ðại Diện liên lạc Vùng Pháp QuốcÐinh Ðức Mậu (và cũng là Ðại diện liên lạc khu vực)

Ð/c Trụ Sở  :   7 Chaussée Jules César -  95600 E    Aubonne - France

Ð/t …………………………………………… Ð/c Email

 

KHU VỰC GIA NÃ ÐẠI

Ðại Diện liên lạc Vùng Toronto, Ontario:   Hoàng Minh Hùng

Ð/c Trụ Sở : 827 College,  Toronto, Ontario     - (416) 516- 3830

KHU VỰC HOA KỲ

Ðại Diện liên lạc Vùng Bắc California: Trần Quang Lãng

Ð/c Trụ Sở: 933 Burman Dr., San José, CA 95111

Ð/t (408) 629- 9465.     Ð/c Email:

*  Ðại Diện liên lạc Vùng Nam California :

Nguyễn Văn Dũng - Chu Ðức Nhuận

Ð/c Trụ Sở:  13321  Garden Grove Suite F, Garden Grove, CA 92843

Ð/t : (714) 750- 5413 (W) -  (714) 751- 5530  (H).   Ð/c Email:

Ðại Diện liên lạc Vùng Texas Lê Hữu Phụng

Ð/c Trụ Sở : 13706  Ortega  Lane – Houston , TX. 77083- 3454

Ð/t : (281) 879- 7689.  Ð/c Email : This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

KHU VỰC ÚC CHÂU & TÂN TÂY LAN

Ðại Diện liên lạc Vùng SydneyHồ Đình Mai

Ð/c Trụ Sở ……………………………………………………………………

Ð/t ……………………………………… Ð/c Email ..………………………

 

KHU V ỰC bổ sung

Gồm một số nơi ở Quốc Ngoại, nhưng không thuộc các khu vực 1, 2, 3, 4, 5.  Ban liên lạc Trung Ương đảm trách việc này.

Ở QUỐC NỘI

Hiện nay chưa có Ban Liên Lạc Cựu Giáo Chức & Nhân Viên CHU VĂN AN- Saigon (1954- 1978)

 

Trình bày sơ  lược về  Danh sách Ái Hữu Cựu GC&NV-CVA Saigon:

Trước biến cố lịch sử 30- 4- 1975, Giáo Chức & Nhân Viên CHU VĂN AN đi định cư ở các nước ngoài rất ít.  Ngay sau biến cố  30- 4-1975, và liên tục trong suốt 2 thập niên sau đó, số Giáo Chức và Nhân Viên CVA di tản ra nước ngoài gia tăng rất đáng kể. Do hàng ngũ phân tán, nên sự liên lạc giữa các Ái Hữu CGC&NV CVA trở nên vô cùng khó khăn, phức tạp. Có nhiều vị  đã hoàn toàn bị mất liên lạc.

Ðã đến lúc chúng ta cần lập một danh sách, tương đối khá đầy đủ của chư vị Hữu cựu Giáo Chức & Nhân Viên CVA Saigon (1954- 1978), theo mẫu dưới đây.

Số t.t. Họ & Tên Năm Sinh Công Tác, Thời Gian Phục Vụ

Danh Sách Cập Nhật 5-2004

-          còn sống (1)

-          đã mất (2)

-          không rõ (3)

1 2 3

1.- Đối với chư Ái Hữu hiện đang sống rải rác ở khắp nơi trên toàn Thế Giới, nên cố gắng ghi đầy đủ các dữ kiện cần thiết (về năm sanh, về công tác & thời gian phục vụ tại CVA Saigon,về địa chỉ nhà, về số điện thoại,về đ/c  email) để tiện liên lạc khi cần.     

=> Nếu biết chắc chắn còn sống, xin đánh dấu (x) ở cột 1

1

2 3
x

2.- Đối với chư Ái Hữu đã qua đời, nên cố gắng ghi đầy đủ các dữ kiện cần thiết (về các năm sanh & năm mất, về công tác & thời gian phục vụ tại CVA Saigon, về ngày/tháng/năm & nơi vĩnh biệt của chư Ái Hữu quá cố ).

=> Nếu biết chắc chắn đã mất, xin đánh dấu (x) ở cột 2

1

2 3
x

3.- Đối với chư Ái Hữu không biết rõ còn/mất

=> Nếu không rõ còn sống hay đã mất, xin đánh dấu (x) ở cột 3

1

2 3
x

GHI CHÚ

Xin đề nghị ghi rõ (nhưng vắn tắt) về công tác tại trường CVA, như:

Hiệu Trưởng - Giám Học - Tổng Giám Thị - Gs Anh Văn - Gs Pháp Văn - Gs Việt Văn - Gs Triết - Gs Công dân - Gs. Vạn Vật - Gs. Toán - Gs Lý Hoá - Gs Sử Ðịa - Gs. Hội Họa - Gs Âm Nhạc Trưởng Phòng Hành Chánh - Trưởng Phòng Kế Toán - Thư Ký V.P. - Hlv Thể dục  - Giám thị - Y tá - Tài xế - Nhân Viên Phụ dịch  v.v.

Chư vị cựu Hội Trưởng HPHHS, cựu Phó Hội Trưởng HPHHS, cựu Hội Viên HPHHS cũng đều là Thành Viên của Ðại Gia Ðình CVA.

Danh sách cần phải được thường xuyên cập nhật hoá

* * *

Trường CHU VĂN AN  Saigon

Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức & Nhân Viên           

Hướng về Thế Hệ trước

 Cựu Giáo Chức & Nhân Viên CHU VĂN AN                                        Hà Nội (1945 – 1954)

Trước khi trình bày Danh Sách các cựu Giáo Chức và Nhân Viên trường CHU VĂN AN Saigon (từ năm 1954 đến năm 1978), kính mời toàn thể cựu Giáo Chức, cựu Nhân Viên và cựu Học Sinh CVA Saigon hãy hướng về Thế Hệ trước, Thế Hệ cựu Giáo Chức, cựu Nhân Viên và cựu Học Sinh trường CHU VĂN AN Hà Nội (từ năm 1945 đến năm 1954). Vì không có nhiều tài liệu và hình ảnh về trường CHU VĂN AN Hà Nội trước 1954, nên:

  • Ở Chương 3, chỉ cố gắng tìm một số hình ảnh lưu niệm về các sinh hoạt, như hình ảnh Giáo Sư chụp chung với Học Sinh, hình cổng trường v.v….
  • Ở Chương 4 này, chỉ cố gắng liệt kê tên một số các vị Hiệu Trưởng, Giám Học,Tổng Giám Thị, Giáo sư, Nhân Viên.

Nhớ được chừng nào ghi chừng đó, sẽ từ từ bổ túc sau.

Sau đây là tên của một số vị đã biết được.

-                      Hiệu Trưởng gồm các Gs Hoàng Cơ Nghị, Nguyễn Gia Tường Dương Quảng Hàm, Mai Văn Phương, Ðỗ Văn Hoán, Phạm Xuân Ðộ, Vũ Ngô Xán.

-                      Giám HọcTổng Giám Thị: Chỉ biết có 2 vị là Vũ ĐứcThận và Nguyễn Hữu Lãng

-                      Giáo Sư các môn hoc chính: Có nhiều Giáo Sư theo trường vào dạy lại ở CVA Saigon, như các vị Bùi Phượng Chì, Vũ Lai Chương, Bùi Ðình Tấn, Vũ Hoàng Chương, Ðào Văn Dương, Nguyễn Văn Ðĩnh, Nguyễn Văn Mùi, Lê Văn Thu, Nguyễn Chung Tú, Cao Quang Cận, Lê Văn Nhung, Nguyễn Ðình Huề, Vũ Khắc Khoan, Ngô Duy Cầu v.v..

Có nhiều vị chuyển ngành, sang dạy Đại Học như các vị Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Ngọc Cư, Nguyễn Đình Hoà

Nhân viên Văn Phòng, Giáo chức các môn học phụ như các vị: Đỗ Đăng Dụng, Vũ Quang Nghiã, nhạc sĩ Hùng Lân, nhạc sĩ Thiên  Phụng v.v...

* * *

 

Trường CHU VĂN AN  Saigon

Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức & Nhân Viên

Danh Sách Chư Ái Hữu Cựu Giáo Chức & nhân Viên CHU VĂN AN Saigon (1954 – 1978)

Số t.t. Họ & Tên Năm Sinh Công Tác, Thời Gian Phục Vụ

Danh Sách Cập Nhật

5-2004

-          còn sống (1)

-          đã mất (2)

-          không rõ (3)

1 2 3
  1

Trần Ðức An

19…

G.s………

từ 19…

đến………

California, Hoa Kỳ x
  

Nguyễn Viết An

19…

G.s Toán

từ 1954 đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x
   Huỳnh Kiêm Anh 19…

G.s……….

từ 19….  đến……..

x
   Hoàng Ngọc Anh 19…

G.s……& Giám Học

từ 19….  đến……..

Hiện ở Anh Quốc

(không rõ địa chỉ)

x
  5

Phạm Đình Ái

19…

G.s Lý Hoá

từ 1954  đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x

Vũ Ngọc Ánh

19…

G.s……….

từ 19….  đến……..

California, Hoa Kỳ x
Nguyễn Ngọc Ẩn

19…

Giám thị

từ 1972 đến 1978

Việt Nam x
Lê Thái Ất 19…

G.s……….

từ 19….  đến……..

California, Hoa Kỳ x
Vũ  Bảo  Ấu 19…

G.s……….

từ 19….  đến……..

x
 10 Nguyễn Gia Bảo 19…

Hlv ThểDục

từ 19……

đến….

Texas, Hoa Kỳ x
Bùi Xuân Bảo 1937

G.s Sử Ðịa

từ 1966

đến 1978

Việt Nam x
Lưu Thị Bé 1948

Thư ký VP

 từ 1972 đến 1978

Việt Nam x
Vũ Tôn Bình

G.s Âm Nhạc

từ 19……

đến…….

x
Đặng Văn Biền

Giám Thị

từ 19……

đến…….

Mất ngày ……….1997

tại Saigon - Việt Nam

x
 15 Nguyễn Văn Bộ 19…

NV Phụ dịch

từ 19……

đến…….

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
Phạm Thị Bút 1937

NV Phụ dịch

từ 1972

đến 1976

Việt Nam x
Cao Xuân Cát 19…

Gs Lý Hoá - TGT

từ 19……

đến…….

Mất ngày ……….1994

tại Phước Tuy

- Việt Nam

x
Trần Văn Can 19…

Thư Ký Kế Toán

từ 19……

đến…….

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
Nguyễn Cảnh 19…

Tài Xế.

từ 19……

đến………

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
 20

Nguyễn

        Văn Cảnh

19… Giám Thị

Mất ngày ……….

tại Hoa Kỳ

x
Thẩm Nghiã Căn 1937

Gs Việt Văn

từ 1954

đến 1976

Việt Nam x
Cao Quang Cận 1924

Gs PhápVăn

từ 1954

đến 1977

Việt Nam x
Ngô Duy Cầu 19…

Gs Toán

từ 1954

đến ….

x

Nguyễn

          Ngọc Cầu

19…

Gs Pháp

Văn

từ 19….  đến……..

Mất ngày ……….1958

tại Saigon - Việt Nam

x
 25 Hà Xuân Châu 19…

Gs Toán

 từ 19….  đến……..

Mất ngày ……….2003

tại Canada

x
Lê Duy Chất 19…

Hội Trưởng PHHS

từ 19….  đến……..

x
Bùi Phượng Chì 1907

Gs Lý Hoá

từ 1954 đến……..

Mất ngày 1-1-2001

tại Georgia – Hoa Kỳ

x
Phạm Chiền 19….

NV Văn Phòng

từ 1955

đến 1978

Mất ngày 24-1-2004

tại Saigon – Việt Nam

x
Vũ Văn Chuyên

Gs Vạn Vật

từ 1954

đến……..

x
 30 Nguyễn Chuyết

Gs ………

từ 19……..

đến……..

x

   Hoàng  Chương

19…

Gs.Việt Văn

từ 1954 đến……..

Mất ngày ……….1977

tại Saigon - Việt Nam

x
Vũ Lai Chương 19…

Gs. Lý Hoá

từ 1954 đến……..

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
Nguyễn Ngọc Cư 19…

Gs.

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x

Nguyễn Văn

            Kỷ Cương

1929

Gs.Toán

từ 1954 đến……..

Ontario, Canada x
 35 Ðặng Ðức Cường 19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Lousiana, Hoa Kỳ x

Lương

          Trác Cường

19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Nguyễn

          Ngọc Diễm

19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

Minnesota, Hoa Kỳ x
Nguyễn Thị Dung 19…

Gs Vạn Vật

từ 1975

đến 1978

Việt Nam x

Nguyễn

            Văn Dũng

19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
 40 Đổ Đăng Dụng 19… TP Lương Bổng

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x

Thái Thị

       Ngọc Duyên

19…

Gs Nữ Công

từ 1975 đến1978

Việt Nam x
         Đặng Văn Dư 19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
…………… Dự 19…

Giám Thị

từ 19……..

đến……..

x
Ðào Văn Dương 19…

Gs Toán

từ 1954

đến 1978

Texas, Hoa Kỳ x
45 Vũ Ngọc Đạm 19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

x
Đào Mạnh Đạt 19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

Minnesota, Hoa Kỳ x
Tôn Thất Đệ 19…

Gs Vạn Vật

từ 19……..

đến……..

Hoa Kỳ
Lê Đình Điểu 19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x
Vũ Văn Ðĩnh 19…

Thư ký VP 

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
50

Nguyễn

         Huy Ðương

19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

Mất ngày .-.-1999

tại Washington-Hoa Kỳ

x

LM. Lương

             Kim Ðịnh

19…

Gs ………

từ 19……..

đến……..

Mất ngày .-.-1997

tại Missouri-Hoa Kỳ

x
Ðặng Văn Ðịnh 19…

Gs.Toán

từ 19……..

đến……..

Texas, Hoa Kỳ x
Nguyễn Thị Ðức 19…

Gs. Hoá

từ 1975 

đến 1978

Montreal, Canada x

Nguyễn Phú Gia

19…

Gs. Toán Lý, Hoá

từ 1975 

đến 1978

Montreal, Canada x
55 Trần Thanh Giản 19…

Gs.Sinh ngữ

từ 19……..

đến……..

Việt Nam x

Nguyễn Thị   

                  Gương

1952

           

Thư ký VP

từ 19……..

đến……..

Việt Nam
Nguyễn Thị Hai 19…

N.V. phụ dịch 

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….1998

tại Saigon - Việt Nam

x

Nguyễn Hanh

1922

Hlv Thể Dục

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
Nguyễn Văn Hàm 1931

Gs. Văn - Triết

từ 1965

đến 197….

Việt Nam x
60 Võ Thế Hào 19…

Gs. Toán

từ 19……..

đến……..

Nguyễn

            Ðình Hách

Gs. Toán

từ 1957

đến 1959

California, Hoa Kỳ x
Trần Xuân Hài 19…

Gs. Hoá           

từ 19……..

đến……..

x

Trần Mộng Hải

19…

Gs. Hoá

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
Ðinh Văn Hải 19…

Gs. Cg Dân, Triết

từ 19……..

đến……..

x
65 Nguyễn Lệ Hằng 1950

Gs. Hoá           

từ 1975 đến 1978

Việt Nam x
Bùi Duy Hiển 19…

Gs. ………

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….1998

tại Saigon - Việt Nam

x
Nguyễn Thế Hiển 1933

Gs. Sử Ðịa

từ 1970

đến 1978

x
Trần Thế Hiển 19…

Gs. Lý Hoá

từ 19……..

đến……..

Việt Nam x
Nguyễn Ðức Hiếu 1914

Gs. ……

từ 1954 đến 1957

California, Hoa Kỳ x

70

Ðỗ Khánh Hoan 19…

Gs. ………

từ 19……..

đến……..

Ontario, Canada x

Phan

        Minh Hoàng

19…

Gs. Sử Ðịa

từ 19……..

đến 1978

Việt Nam x
Nguyễn Văn Học

Gs. AnhVăn

từ 19……..

đến……..

Lưu Thị Hồng

19…

Y Tá

từ 19……..

đến……..

Hoa Kỳ x
Ðổ Thị Hợp 1924

N.V. phụ dịch

từ 1972

đến 1976

Việt Nam x
75 Võ Kim Huê 19…

Gs. Hóa

từ 1975

đến 1978

Việt Nam x
Nguyễn Ðình Huề 19…

Gs. Hóa, Vạn Vật

từ 19……..

đến……..

x

Ðặng Thị

        Chiêu Huyền

19…

Gs. Ðịa

từ 1975

đến 1978

Việt Nam x
Lê Ngọc Huỳnh 19…

Gs. Ðịa

từ 1954

đến……..

Mất ngày ……….1978

tại Saigon - Việt Nam

x

Hoàng

          Minh  Hùng

19…

Gs. ……..

từ ……..đến 1978

Ontario, Canada x

80

Hàn Thị

           Lan Hương

1954

Thư ký V.P.

từ 1971 

đến 1978

Việt Nam x
Nguyễn Hữu Kế 19…

G.s. Toán           

từ 1955

đến 1958

Việt Nam x
Dương Minh Kính 1938

Gs. Sử Ðịa & H.Tr.  

từ 1966

đến 1967

California, Hoa Kỳ x
Trần Duy Khang 19…

Giám thị

từ 1965

đến 1975

Việt Nam x

Phạm Văn     

                 Khánh

19…

Giám Thị           

 từ 19……..

đến……..

Úc x

85

Lưu Trung Khảo 19…

Gs.

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

LM Trần

         Thanh Khiết

19…

Gs.

từ 19……..

đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x
Vũ Khắc Khoan 19…

Gs.

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 12-9-1986

tại Minnesota-Hoa Kỳ

x
Nguyễn Văn Khôi 19…

NV. Phụ Dịch

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….1986

tại Saigon - Việt Nam

x
Phan Ngọc Khuê                       

Gs.

 từ 19……..

đến……..

x

90

Bùi Khương 19…

Gs. AnhVăn

từ  1969

đến 1976

Việt Nam x
Nguyễn Xuân Kỳ 19…

Gs. AnhVăn

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 29-3-1985

tại Minnesota-Hoa Kỳ

x

Nguyễn Thị

              Ngọc Lan

19…

Gs. Hoá           

từ 1975

đến 1978

Việt Nam x
Trần Bích Lan 19…

Gs. Triết           

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 18-4-1998

tại California-Hoa Kỳ

x
Vũ Ngọc Lan 19…

Giám Thị

từ 1954 đến……..

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
95 Đinh Tiên Lãng 19…

Gs. Toán

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Trần

      Quang Lãng

1934

Gs.Toán & T.G.T

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Nguyễn

         Hữu Lãng

19…

Tổng Giám Thị

từ 1954

đến……..

Mất ngày 4-5-1994

tại Tây Đức

x
Lê Văn Lâm 1923

Gs  Lý Hoá

từ 1954

đến 1978

California, Hoa Kỳ x
Lê Mộng Lân 19…

Gs Sử Địa

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 13-11-2002

tại Saigon-Việt Nam

x

100

Lưu Ngọc Linh 19…

Gs.

 từ 19……..

đến……..

x

Nguyễn

          Văn Linh

19…

Gs  Pháp Văn

từ 19……..

đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x
Phạm Văn Linh 19…

Giám Thị

từ 19……..

đến……..

x
Phạm Văn Loan 1920

NV phụ dịch

từ 19……..

đến……..

Việt Nam x

Nguyễn

       Khánh Long

19…

Gs……….           

từ 19……..

đến……..

Montreal, Canada x

105

Nguyễn

            Văn Long

19…

Gs……….           

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

LM Trần

          Phúc Long

19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….

tại Hoa Kỳ

x
Phạm Tiến Lợi 1936

Giám thị           

từ 1970

đến 1975

Việt Nam x
Trần Ðức Lợi 1937

Gs. Vạn Vật

từ 1973

đến 1978

Việt Nam x
Nguyễn Văn Lộc 19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Mất cuối năm 1998

tại Saigon-Việt Nam

x
110

Nguyễn

           Văn Luận

19…

Gs

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Trần

      Trung Lương

19…

Gs.AnhVăn

từ 19……..

đến……..

x

Phạm

       Xuân Lương

19…

Gs.AnhVăn

từ 19……..

đến……..

Texas, Hoa Kỳ x

Hồ Đình Mai

19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Úc x
Lê Xuân Mai 19…

Gs. Toán

từ 19……..

đến……..

Mất ngày…-…- …

tại……………………

x

115

Nguyễn

            Hữu Mai

1938                                   

Gs Việt Văn

từ 19……..

đến……..

Việt Nam x
Vũ Qúy Mai 19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

Trần Văn Mại 19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

x
Ðinh Ðức Mậu 19…

Gs. Toán

từ 19……..

đến……..

France x
Lưu Văn Minh 19…

Gs từ 19……..

đến……..

x

120

Tràn Đình Minh 1937

Gs Vạn Vật

từ 1960

đến 1978

Việt Nam x
Nguyễn Văn Mùi 19…

Gs Sử Địa

từ 19……..

đến……..

Ohio, Hoa Kỳ x
Bạch Văn Ngà 19…

Gs. Toán

từ 1954

đến 1976

Mất ngày ……….1976

tại Saigon - Việt Nam

x

Nguyễn Ngạc

19…

Gs.PhápVăn

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 25-01-1968

tại Saigon-Việt Nam

x

Nguyễn

          Hoa Ngạc

19…

Giám Thị

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 19-06-1986

tại California - Hoa Kỳ

x
125

Nguyễn

         Văn Ngọc

1937

Giám Thị

từ 1972

đến 1975

Việt Nam x

Nguyễn

        Văn Ngoa

1922

NV Phudịch

từ 1964

đến 1975

Việt Nam x

Trương

          Đình Ngữ

19…

Gs Lý Hoá

từ 19……..

đến……..

Mất ngày 26-10-2001

tại Saigon-Việt Nam

x

Nguyễn

           Văn Nghi

19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

x
Hoàng Cơ Nghị 19…

Gs Lý Hoá

từ 1954

đến ……

Mất ngày ……….

tại Saigon - Việt Nam

x
130

Vũ Quang

                Nghiã

19…

Kế Toán Trưởng

từ 1954

đến 1978

California, Hoa Kỳ x

Nguyễn

      Xuân Nghiên

19…

Gs Lý Hoá

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….1975

tại Saigon - Việt Nam

x

Nguyễn

       Văn Nguyên

19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Mất ngày ……….1960

tại Saigon - Việt Nam

x
……………..Nhã 19…

Giám Thị

từ 19……..

đến……..

Minnesota, Hoa Kỳ x

Nguyễn

         Đình Nhàn

19…

Gs

từ 19……..

đến……..

Pháp x
135

Nguyễn

           Thị Nhàn

1947

N.V. phụ dịch   

từ 1973

đến 1976

Việt Nam x

Đặng Văn Nhân

19…

Gs Toán

từ 19……..

đến……..

California , Hoa Kỳ x
Nguyễn Văn Nhì

19…

Gs …….

từ 19……..

đến……..

x
Lê Trung Nhiên

19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

France x
Chu Đức Nhuận

19…

Gs

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
140

Nguyễn

            Bích Như

19…

Gs Lý Hoá

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Hoàng

           Văn Oánh                 

19…

N.V. Văn Phòng

từ 1967- đến 1978

Việt Nam x

Vũ Tiến Phái

19…

Gs Toán

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Trương

          Bá Phẩm

19…

HLV. Thể Dục

từ 1960

đến 1978

Mất ngày 28-10-1996

tại Saigon-Việt Nam

x

Nguyễn

            Doãn Phi

19…

Gs Toán

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
145

Nguyễn

         Văn Phong

19…

Gs Toán

từ 19……..

đến……..

France x

Trần

     Quang Phong

19…

Gs ……..

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x
Nguyễn Văn Phú 1928

Gs Toán

từ 1955

đến 1961

Québec, Canada x

Nguyễn Phúc

1928

Gs Toán

từ 1956

đến 1968

Việt Nam x

Nguyễn

          Hữu Phúc

19…

Gs Anh Văn

từ 19……..

đến……..

Hoa Kỳ x

150

Võ Văn Phước 19…

Gs PhápVăn

từ 19……..

đến……..

Hoa Kỳ x
Chung Quán 19…

Gs ÂmNhạc

từ 19……..

đến……..

x

Nguyễn   

         Đức Quang

19…

Gs Pháp V, Công Dân

từ 19……..

đến……..

California, Hoa Kỳ x

Trần

    Thanh Quang

1941

Gs Pháp Văn

 từ 1976

đến 1978

Việt Nam x

Cao Đình Quát

19…

Gs Việt V. H. Phó 

từ 19……..

đến 1978

Việt Nam x
155

Lại Huy Quân

19…

Gs. từ 19……..

đến……..

Mất Tích 1979 x

Nguyễn

          Xuân Quế

1930

Gs.Viêt,G.H. H.Tr.

 từ 1960 đến 1978

Việt Nam x

 

Chương  5

Sinh hoạt Ái Hữu Cựu GC&NV.CVA Saigon

Xuyên qua: Hình ảnh  lưu niệm

 

  1. Ở Khu Vực Á Châu TBD

2)  Ở Khu Vực Âu Châu

 

3)  Ở Khu Vực Gia Nã Ðại

  1. Ở Khu Vực Hoa Kỳ
  2. Ở Khu Vực Úc Châu & Tân Tây Lan
  3. Ở Khu Vực bổ sung 

Gồm các nơi khác ở Hải Ngoại

không thuộc các Khu Vực 1, 2, 3, 4, 5 )

7)  Ở QUỐC NỘI

Giới thiệu Tổ Chức Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

Tin trường CHU VĂN AN đột ngột bị giải thể đã được truyền đi nhanh chóng ở trong cũng như ở ngoài Nước, gây xúc động, ngậm ngùi trong giới Giáo Chức, Nhân Viên và Học Sinh Chu Văn An.

Như đàn chim, sau cơn giông bão, không còn có cơ duyên tung cánh bay về tổ ấm, tập thể cựu Học Sinh CVA sau ngày CVA bị giải thể, cũng không còn có cơ duyên trở về thăm mái trường cũ thân thương. Do hoài niệm Quê Hương, do gắn bó với Trường xưa, do thường nhớ nghĩ đến Thầy cũ, Bạn cũ, các cựu Học Sinh CVA ở Hải Ngoại, trong bước đầu định cư ở nước ngoài, đã nhanh chóng ổn định cuộc sống hằng ngày, sớm hội nhập vào xã hội mới, nhằm dành nhiều thì giờ gặp gỡ nhau để cùng nhau hàn huyên tâm sự.

 Tổ chức Ái Hữu cựu HS.CVA-Saigon có nhiều hình thức khác nhau: Ở những vùng có đông người Việt, như các vùng Montréal, vùng Ottawa, vùng Bắc Cali., vùng Nam Cali.  ……tổ chức theo hình thức Hội Ðoàn.

=>  Vì chưa có một quy định chung, cho nên danh xưng  của Hội ở mỗi nơi một khác, như:

Hội Ái Hữu Cựu HS.CVA …………., 

Hội Cựu HS.CVA …………,

Hội Ái Hữu Bưởi-CVA……..,

Hội Cựu HS. Bưởi-CVA  (kết hợp các cựu HS CVA với các cựu HS đàn anh trường BƯỞI);

Hội Ái Hữu Chu Văn An-Trưng Vương (kết hợp cựu HS CVA với cựu HS bạn  Trưng Vương)

- Bên cạnh các Hội cựu HS.CVA, còn có các nhóm cựu HS.CVA chỉ qui tụ cựu HS của 1 lớp, hay của 1 khóa, như:  CVA 59, CVA lớp 12A n.k.1954-55; CVA lớp 12B2 khoá 59-66, CVA 64-66, v.v…

- Lại có hình thức tập họp như: 40 năm Hội Ngộ Chu Văn An 56-63

           

Tập hợp Ái Hữu CHS.CVA đa dạng, sinh hoạt Ái Hữu Cựu HS.CVA phong phú.

 Trong tập KỶ YẾU, ở mỗi vùng, ngoài sinh hoạt riêng của Hội cựu HS.CVA vùng …. còn phải lưu tâm đến sinh hoạt các nhóm cựu HS.CVA   trong vùng nữa.

Ðối với các Hội, cần ghi: - Trụ sở của Hội với đầy đủ đ/c, đ/t, email; nhiệm kỳ của các ban chấp hành; Các sinh hoạt chính của Hội (như: Ðại Hội thường niên, Ðại Hội bầu ban Chấp Hành, đặc san, bản tin tức, văn nghệ, picnic v.v…; Các hình ảnh về sinh hoạt  của Hội.

Ðối với các nhóm, cần ghi sơ lựợc: đ/c, đ/t, email của trưởng nhóm; Số lần họp bạn; các hình ảnh về các sinh hoạt của Nhóm.

Chương  6

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon:

                                    Khu Vực Á Châu TBD

  1. Vùng Ðài Loan
  2. Vùng Nhật Bản
  3. Vùng Thái Lan
  4. Vùng ………
  5. Vùng ………

Ghi ChúMột Nước có thể gồm 1 hoặc nhiều Vùng

Chương  7

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

                                    Khu Vực Âu Châu

  1. Vùng Anh Quốc
  2. Vùng Bỉ Quốc
  3. Vùng Ðức Quốc
  4. Vùng Pháp Quốc

Ghi Chú:  Một Nước có thể gồm 1 hoặc nhiều Vùng

Chương  8

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

                             Khu Vực Gia Nã Ðại

1) Vùng Montréal

2) Vùng Toronto

3) Vùng ......

Chương  9

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

                                    Khu Vực Hoa Kỳ

  1. Vùng Bắc California
  2. Vùng Nam California
  3. Vùng ........

Chương  10

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

                                    Khu Vực Úc Châu & Tân Tây Lan

  1. Vùng Bắc Sydney
  2. Vùng …………….

Chương  11

Ái Hữu Cựu HS.CVA-Saigon

Khu vực bổ xung.

                                                           

Chương  12

Quốc Nội:

Hiện nay chưa có Ái Hữu Cựu Học Sinh CHU VĂN AN- Saigon (1954- 1978)

Website riêng về Kỷ Yếu CVA (dự trù)

www. ky_yeu_cva. org

* * *

Cùng Nhau Bảo Toàn Đất Tổ Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

CVA Hoàng Cơ Định

 

Ý niệm bảo toàn lãnh thổ thường gắn liền với nỗ lực kháng cự lại một cuộc xâm lăng đến từ nước ngoài nhằm bảo vệ giang sơn do Tổ Tiên để lại, cho nên vào cuối năm 2001, dư luận đồng bào trong và ngoài nước đã bàng hoàng khi nghe tin Nhà Nước CSVN, trong một thoả ước ký kết với Trung Cộng, đã nhượng lại cho ngoại bang một phần lãnh thổ thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, diện tích lên tới 760 Km2. Chúng ta đã sót sa với sự mất mát đó bao nhiêu thì chúng ta lại càng phải quan tâm tới một nguy cơ mất mát khác, lớn hơn nhiều lần, không phải vào tay ngoại bang mà là mất cho thiên nhiên, đó là viễn tượng một phần quan trọng Đồng Bằng Sông Cửu Long của chúng ta sẽ có nguy cơ vĩnh viễn ngập dưới làn nước!

Để có ý niệm về mối nguy này, chúng ta hãy cùng quan sát một tấm hình chụp Cambôt và Nam Việt từ ngoài vũ trụ. Trong hình này, Cambot và Nam Việt chỉ là một dải đất liên tục, không còn ngăn cách gì về chủng tộc, mà số phận của cả hai dân tộc được gắn liền với nhau bởi Biển Hồ và Sông MêKông. Phần đất sẽ bị ngập nước là phần châu thổ quan trọng nhất của dân tộc do Tổ Tiên dầy công khai phá. Đây không phải là một đe dọa, mà là một tai họa chắc chắn trong một thời gian chừng 20 năm trước mặt (1). Sự mất mát to lớn này chỉ không xẩy ra nếu chúng ta có biện pháp đối phó ngay từ bây giờ và nỗ lực tiến hành trong nhiều thập niên kế tiếp... Để thấy rõ tại sao, chúng ta cùng nhìn vào hai tấm không ảnh của Cambot và Nam Việt chụp từ vệ tinh vào hai thời điểm mùa Mưa năm 2002 và mùa Nắng năm 2003.

Trong tấm không ảnh được chụp vào tháng 10, cao điểm của mùa Mưa, mùa nước lớn của sông Mêkông, diện tích của Biển Hồ lan rộng ra gấp 4 lần. Trong hình, Biển Hồ là một diện tích lớn mầu xanh lơ đậm, cho thấy có một khối lượng quan trọng nước được tích tụ tại đây. Lượng nước này một phần là nước mưa từ các vùng cao xung quanh đổ về, phần khác là nước từ sông Mêkông chẩy vào Biển Hồ qua dòng Tonlesap, tới mùa Nắng, cũng theo dòng Tonlesap này, nước từ Biển Hồ sẽ chẩy ngược trở lại vào sông Mêkông rồi đổ ra biển. Nhìn vào Đồng Bằng Cửu Long, phần lớn cũng bị ngập nước trong thời gian này, mầu xanh lơ nhạt hơn, có nghĩa là lớp nước không sâu lắm.

            Biển Hồ là một ân sủng của thiên nhiên đối với Đồng Bằng Cửu Long. Hồ nước vĩ đại này đã giúp điều hoà dòng chẩy của sông Cửu Long, tránh cho vùng đồng bằng khỏi bị ngập lụt vào mùa nước lớn. Nếu vì lý do gì Biển Hồ không còn nữa, cả khối nước do mưa trên lãnh thổ Cambôt và sông Mêkông mang tới sẽ đổ dồn vào Đồng Bằng Cửu Long, nơi đây sẽ bị ngập sớm hơn, mực nước sâu hơn, thời gian ngập kéo dài hơn... Nói khác đi, một phần Đồng Bằng Cửu Long của chúng ta sẽ trở thành "Biển Hồ" suốt một thời gian dài trong năm và vai trò vựa lúa cố hữu để nuôi dân và xuất cảng sẽ không còn nữa !

Qua tới mùa Nắng diện tích Biển Hồ thu nhỏ lại ( bức hình chụp vào ngày 29/1/2003 vẫn chưa là lúc mực nước sông xuống thấp nhất ), vào lúc này lưu lượng của sông Mêkông đến từ thượng nguồn giảm đi rất nhiều, phần quan trọng nước chẩy vào lãnh thổ Đồng Bằng Cửu Long sẽ đến từ lượng dự trữ tại Biển Hồ trong mùa mưa. Chính nhờ dòng chẩy này mà thủy triều từ Biển Đông bị đẩy ra biển thay vì tràn ngược vào sâu trong đất liền. Không có Biển Hồ, phần lớn diện tích Đồng Bằng Cửu Long sẽ bị lụt vào mùa mưa và bị tràn ngập bởi nước biển vào mùa khô !

Nhìn tấm hình chụp vào tháng 1/2003, lúc giữa mùa nắng, chúng ta thấy ngoài mầu xanh của cây cỏ và mầu xanh lơ của nước, xuất hiện một mầu xám khô cằn của những vùng đất cao trơ trụi do rừng bị phá hủy, nhất là tại các cao nguyên bao quanh Biển Hồ.

Khi mùa mưa tới, đất tại những vùng cao trơ trụi không còn được rễ cây giữ lại sẽ bị nước cuốn trôi xuống Biển Hồ, khiến Biển Hồ sẽ bị đóng bùn cạn dần cho tới khi hoàn toàn bị lấp kín! Nếu Biển Hồ bị lấp kín thì trong lịch sử nước ta, dầu bị xâm lăng nhiều lần, chưa bao giờ chúng ta bị thiệt hại đến như vậy và lãnh thổ lại bị mất nhiều đến như thế! Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên trong tương quan giữa hai dân tộc, chưa bao giờ có 2 nước ở cạnh nhau mà sự mất mát của bên này lại chẳng đem mối lợi cho bên kia, nguy cơ trong 20 năm trước mặt đã đổ sập xuống cho cả Cam Bốt lẫn Việt Nam : Cam Bốt mất Biển Hồ và Việt Nam mất Đồng Bằng Cửu Long, cả hai bảo vật này đều là những món quà cực kỳ quý gía mà thiên nhiên đã dành cho hai dân tộc từ nhiều thế kỷ qua.

 

Vài nét về Biển Hồ và Đồng Bằng Cửu Long

Biển Hồ là một hồ nước ngọt bao quanh bởi một vùng đầm lầy rộng lớn. Đây là hồ nước ngọt rộng nhất Đông Nam Á và nếu kể luôn diện tích đầm lầy thì đây là vùng nước ngọt rộng nhất thế giới. Kích thước của Biển Hồ thay đổi theo mùa, vào mùa Nắng, hồ nước dài 160 Km, rộng 30 Km, diện tích cỡ 3,000 Km2, và sâu khoảng từ 1 m tới 2 m. Tới mùa Mưa, diện tích tăng lên từ 4 tới 5 lần và độ sâu cỡ 10 m. Biển Hồ nổi tiếng nhiều cá với năng xuất khoảng 10 T / Km2 và là nguồn cung cấp 70% tổng số protein cho dân chúng Cambôt (2). Vào mùa nước lớn, cá từ Đồng Bằng Cửu Long và sông Mêkông theo dòng Tonlesap vào sinh sản tại Biển Hồ. Tới mùa Nắng, cá sẽ theo dòng Tonlesap trở về sông Mêkông và Đồng Bằng Cửu Long, đó là lý do sông rạch tại đây cũng nhiều cá là vì vậy.

Trong nguồn thủy sản phong phú với trên 200 loại cá, 13 loại rùa, nhiều loại rắn nước, Biển Hồ có giống cá trê nổi tiếng nặng tới 300 Kg...

Ngoài ra tại Biển Hồ còn vô số loài chim, cây cối và thú rừng khiến Liên Hiệp Quốc đã quyết định xếp loại Biển Hồ và toàn bộ khu vực đầm lầy kế cận là một trong số 338 "Vùng bảo toàn sinh thái" của thế giới.

Đồng Bằng Cửu Long hiện là vựa lúa quan trọng nhất của Việt Nam, trong năm 2004 đã sản xuất 18.3 Triệu tấn thóc. Nhờ sản lượng lúa gạo của vùng này, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất cảng gạo thứ hai trên thế giới với số lượng ước chừng 3.8 Triệu tấn một năm (3).

Ngoài tài nguyên về lúa gạo, DBSCL còn có khoảng 700,000 ha diện tích nuôi thủy sản, sản xuất hàng năm cỡ 1,7 Triệu tấn, thu về khoảng 1,5 Tỷ Mỹ Kim ngoại tệ nhờ xuất cảng.

         

Trong khoảng thời gian 1996 - 2000, DBSCL đã xuất cảng khoảng 2.5 Tỷ Mỹ Kim thủy sản, tương đương với 52% tổng số xuất cảng toàn quốc.

Tóm lại, DBSCL là nơi cung cấp 80% gạo xuất cảng, 40% tổng số nông phẩm và góp phần cung cấp hơn 30% tổng sản lượng quốc gia (4).

           

Sông Mêkông chẩy vào Việt Nam, trở thành sông Cửu Long ở địa phận Tân Châu, Hồng Ngự, chia làm 2 nhánh chính là Sông Tiền và Sông Hậu rồi đổ ra Biển Đông qua 9 cửa sông.

Nhờ tác dụng của Biển Hồ mực nước sông Cửu Long lên xuống một cách điều hòa. Trước đây nông dân vẫn trồng lúa ngay trong mùa nước lớn vì giống lúa xạ có thể mọc nhanh hơn vận tốc nước dâng, đồng thời nước sông để lại cỡ 97 Triệu Tấn phù sa mầu mỡ và rất nhiều tôm cá mỗi năm.

            Việc trồng lúa xạ đã được áp dụng tại DBSCL từ trên 150 năm qua, ưu điểm là ít tốn công và tận dụng được chất bón thiên nhiên. Tuy vậy giống lúa này năng xuất thấp và chỉ trồng được 1 mùa mỗi năm vì thế việc canh tác giống lúa xạ đã dần dần bị thay thế bởi việc luân canh với các hoa mầu khác có lợi nhuận cao hơn hoặc thay thế bằng những giống lúa năng xuất cao có thể trồng 2 tới 3 mùa trong năm, có nơi nông dân đã cấy được tới 7 mùa trong 2 năm, đạt kỷ lục 12 Tấn lúa cho 1 ha ruộng. Diện tích trồng lúa xạ đã giảm dần từ 500,000 ha vào năm 1975, tới năm 1995 chỉ còn ít hơn 50,000 ha (5).

            Việc gia tăng năng xuất đồng ruộng ĐBSCL đặt ra nhiều vấn đề kỹ thuật phải giải quyết như việc sử dụng chất bón hóa học, thuốc trừ sâu, chăm sóc nguồn thủy sản và nhất là việc tiếp tế và tháo nước tại các ruộng lúa... Đây là cái giá đương nhiên phải trả để đạt được mức lợi tức từ 3 tới 4 lần hơn trước ( từ năm 1980 tới 1995 mức sản xuất lúa gạo của ĐBSCL đã tăng gấp hai ).

Điều đáng bận tâm là trong những năm gần đây, các trận lụt lớn hơn trước sẩy ra thường xuyên một cách đáng ngại. Đã thế, trong mùa nước lớn, vì cấu trúc của hệ thống dẫn nước và tháo nước tại các ruộng lúa đã khác xưa ( để có thể canh tác nhiều vụ trong năm ) cho nên khi bắt đầu trận lụt, ruộng đã bị ngập nhanh chóng dầu mực nước sông chưa cao và sau đó thời gian nước rút đi cũng lâu hơn ! Tại các vùng xa cửa sông, ruộng có thể bị ngập từ 2 tới 4 m nước (gần bằng độ sâu trung bình của Biển Hồ !) (5).

Bên đây là ảnh chụp từ vệ tinh vùng Đồng Bằng Cửu Long trong trận lụt lớn vào năm 2000, các vùng ngập nước (mầu đen trong hình) kéo dài từ Biển Hồ tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, số nạn nhân trong trận lụt này lên tới 374 người tại Đồng Bằng Cửu Long.

Biển Hồ bị đe dọa ra sao ?

            Hai nguy cơ lớn nhất đối với Biển Hồ và trực tiếp đe dọa Đồng Bằng Cửu Long là việc bắt cá quá mức và viễn tượng Biển Hồ bị lấp kín.

            Để tận khai về tài chánh, Nhà Nước Cam Bốt đã chia Biển Hồ thành nhiều diện tích nhỏ để đấu thầu, mỗi mảnh tiền thuế được ấn định khá cao ( khoảng 200,000 Mỹ Kim ) trong khi đó lại không có luật lệ chặt chẽ về khai thác và cũng không có khả năng kiểm soát vì vậy mà giới khai thác đã vơ vét tối đa, ngay cả khi cá đang trong thời kỳ sinh sản, khiến cho những năm gần đây nhiều giống cá đã bị tuyệt chủng (6). Thường năng xuất hợp lý của Biển Hồ là khoảng 10 T cá cho mỗi Km2 mặt hồ, thế mà lượng cá tận khai đã lên tới 400,000 Tấn hàng năm (7). Căn cứ vào diện tích Biển Hồ từ 3,000 Km2 tới 12,000 Km2, số cá bị lưới đã nhiều hơn mức hợp lý từ 4 tới 6 lần. Thêm vào đó, nhiều khu rừng ngập nước xung quanh Biển Hồ, là nơi cá sinh sản hàng năm, cũng bị lấn chiếm làm ruộng lúa, trong số diện tích 10,000 Km2 rừng trước đây, nay chỉ còn lại cỡ 40% còn trong trạng thái thiên nhiên. Sự kiện này đã khiến cho người ta chỉ còn thu hoạch được tại Biển Hồ những loại cá nhỏ hơn trước, phẩm chất cũng thua sút đồng thời lượng cá lưới được tại Đồng Bằng Cửu Long đã giảm đi rất nhiều trong những năm gần đây (8).

            Nguy cơ thứ nhì, còn lớn hơn việc khai thác tới mức tuyệt chủng các loài cá, là nguy cơ Biển Hồ bị lấp kín. Việc khai thác gỗ để lấy củi, hầm than, xuất cảng và cho kỹ nghệ đóng bàn ghế đã làm rừng cây tại các vùng xung quanh Biển Hồ bị phá quang. Trong thời gian từ 1980 tới 1995, 27% diện tích rừng Cam Bốt đã bị phá hủy. Vì không có rễ cây giữ lại, đất đồi bị mưa lũ cuốn trôi xuống các vùng đất thấp !

            Lượng bùn trong nước sông Tonle Sap đã tăng gấp đôi vào năm 1996 ( 3000 g/m3) so với năm 1994. Bùn trong nước sông Stung Sangker, vùng Battambang, tăng gần 5 lần, từ 63 g/m3 (1963) lên tới 288 g/m3 (1995). Độ sâu trung bình của Biển Hồ vào năm 1979 là 4m-4.5m, tới năm 1997 chỉ còn là 3m-3.5m (9).

            Một khía cạnh đáng lưu ý về nạn chặt cây rừng bừa bãi là sự bất lực của chính quyền trước tệ nạn này. Theo con số của Ngân Hàng Thế Giới, trị giá cây rừng khai thác tại Cam bốt vào năm 1997 ước tính khoảng 350 Triệu Mỹ Kim, trong khi tiền thuế chính phủ thu được chỉ là 12,4 Triệu Mỹ Kim. Rừng cây tại Cambot hiện nằm trong tay các lãnh chúa tại các địa phương, họ chặt phá vội vàng và bừa bãi, bán đổ bán tháo tài nguyên không chút bận tâm tới hậu quả hay tương lai. Giới khoa học dự phóng là nếu việc khai thác gỗ tiếp diễn với cùng nhịp độ (1.5 Triệu m3 một năm), Biển Hồ sẽ bị bùn lấp cạn vào năm 2025 ! (6)

            Hiện nay, tình trạng các kênh đào và hồ nuôi cá bị đóng bùn đã trở nên hiện tượng thông thường tại Cambot, nắng hạn và lụt lội cũng xẩy ra thường xuyên và tai hại hơn xưa.

Hãy cứu Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng cách chung sức với Cam Bốt để cứu Biển Hồ

            Hiện nay, tình trạng các kênh đào và hồ nuôi cá bị đóng bùn đã trở nên hiện tượng thông thường tại Cambot, nắng hạn và lụt lội cũng xẩy ra thường xuyên và tai hại hơn xưa... Như đã trình bầy trong phần mở đầu, cố gắng để cứu Biển Hồ và Đồng Bằng Cửu Long cần phải tiến hành gấp rút. Mặc dầu Liên Hiệp Quốc đã xếp khu vực Biển Hồ vào loại "Vùng Bảo Toàn Sinh Thái" nhưng nội dung các chương trình bảo vệ vẫn còn quá giới hạn và chú tâm nhiều về phần bảo vệ các sinh vật và thực vật sống trong vùng thay vì phải đặt nặng vào việc làm sao duy trì được sự tồn tại của chính hồ nước vĩ đại này. Đáng lưu ý hơn là trong các chương trình của LHQ chưa thấy sự góp phần của người dân tại địa phương. Chúng tôi xin đề nghị, bên cạnh những gì Liên Hiệp Quốc và các chính quyền Cambôt và Việt Nam đang thực hiện, cần xúc tiến ba việc sau đây :

Thứ Nhất : Để bắt đầu, nên lập nên một nhóm bạn người Cambôt và người Việt Nam cùng quan tâm tới tương lai Biển Hồ và Đồng Bằng Sông Cửu Long, tạm gọi là nhóm "Biển Hồ - Cửu Long". Nhóm BH-CL này sẽ theo dõi tình trạng môi sinh trong vùng, thông tin và khuyến cáo người dân hai nước về những điều cần biết, những việc cần làm vì lợi ích chung. Nhóm cũng sẽ đề nghị với hai chính quyền Cambôt và Việt Nam những biện pháp hành chánh để cải thiện tình trạng môi sinh, đồng thời đề nghị với Liên Hiệp Quốc những yêu cầu hỗ trợ cần thiết.

 

Thứ Nhì : Nhóm Biển Hồ - Cửu Long sẽ theo gương bà WANGARI MAATHAI của xứ Kenya đã đề xướng thành công việc trồng hàng triệu cây xanh tại Kenya ngăn cản sự bành trướng của sa mạc, vận động chương trình tái tạo rừng tại các sườn đồi và cao nguyên bao quanh Biển Hồ bằng sự góp phần của cả hai dân tộc Cambôt và Việt Nam. Mục tiêu là mỗi người dân Cambôt và người dân Việt Nam tại ĐBSCL sẽ góp sức trồng thêm một cây cho cánh rừng hữu nghị này.

Sự góp phần của người dân ngoài đóng góp cụ thể là tạo thêm hàng chục triệu cây rừng để giữ đất còn tạo nên ý thức trân quý và bảo vệ thiên nhiên trong quảng đại quần chúng và xây dựng tình thân giữa hai dân tộc láng giềng.

Thứ Ba : Nhóm Biển Hồ - Cửu Long sẽ khuyến khích và hỗ trợ những chương trình nghiên cứu các nguyên liệu và vật liệu thay thế cho việc sử dụng gỗ rừng hiện nay và vận động các quốc gia phát triển ban hành những đạo luật giới hạn việc sử dụng gỗ quý trong việc chế tạo bàn ghế hay vật liệu xây cất để cắt giảm nhu cầu và thị trường tiêu thụ gỗ quý của Cambốt và Việt Nam.

            Đây là những gì cần thực hiện ngay, dầu cho mới chỉ có một vài người sẵn sàng. Nỗ lực này sẽ được kéo dài trong nhiều thập niên, sẽ được nhiều người hưởng ứng, sẽ phải thành công vì quyết định sự sống còn cho hai dân tộc và cả hai dân tộc không có một sự lựa chọn nào khác.

Tài liệu tham khảo:

1.         JUST DESERTS FOR CAMBODIA?

            THE IMPACT OF THE ILLEGAL TIMBER TRADE ON HUMAN RIGHTS & THE    ENVIRONMENT.

            http://www.globalwitness.org/campaigns/forests/cambodia/deserts/conc.h   tm

2.         Saving Wildlife, Tonle Sap

            http://wcs.org/sw-arou