Super User

Super User

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Aliquam nec diam ut

Quốc học nước ta gắn liền với giòng lịch sử, tạo nên nhân phong cao cả, văn hiến nhân bản độc lập và sáng tạo, không vay mượn của bất cứ ngoại chủng nào. Nền văn minh nông nghiệp định cư là nền văn minh tồn trữ đầu tiên ở phương Đông, do trí tuệ và tấm lòng của Việt tộc khai sáng và bồi đắp.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do sử thần Ngô Sỹ Liên biên soạn, về phu tử Chu Văn An đã viết: “Ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) Quốc Tử Giám tư nghiệp Chu Văn An mất, được vua truy tặng tước công, Thụy Văn Trinh và đưa vào thờ ở Văn Miếu (cùng Đức Khổng Tử).”

Lịch sử Việt Tộc ta, có khúc vinh quang rực rỡ, có khúc đắm đuối thê lương. Nhưng, khúc nào cũng có những vị lương sư hưng quốc, hoặc nổi danh, hoặc ẩn danh. Nhờ vậy, giải non sông gấm vóc Việt Nam, dẫu có bị làm sao, dẫu có bị thế nào, thì rồi trước sau cũng vẫn của người Việt Nam, những người đồng bào cùng huyết thống Rồng Tiên làm chủ. Anh em chúng ta thử nghĩ mà xem giải lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà-Mâu có tấc đất nào là không thấm nhuần mồ hôi nước mắt, máu xương tim óc người dân Việt ta đâu? Vậy nên người Việt làm chủ lãnh thổ ấy, là hợp tình, hợp lý, hợp đạo nghĩa làm người.

van mieu
Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại Hà Nội
(Ghi chú của Ban Biên Tập)

Về các bậc lương sư hưng quốc, phu tử Chu Văn An được tôn là tiêu biểu, thờ ngài trong Văn Miếu cùng Khổng Tử. Các pho chính sử nước nhà đều cung kính ghi chép về ngài. Văn học dân gian đến nay còn truyền tụng thánh tích thương dân của ngài.

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do sử thần Ngô Sỹ Liên biên soạn, về phu tử Chu Văn An viết:

"Ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) Quốc Tử Giám tư nghiệp Chu Văn An mất, được vu truy tặng tước công, Thụy Văn Trinh và đưa vào thờ ở Văn Miếu (cùng Đức Khổng Tử)

ban tho phu tu chu van an
Bàn thờ phu tử Chu Văn An trong Văn Miếu
Quốc Tử Giám tại Hà Nội, Việt Nam
(Ghi chú của Ban Biên Tập)

"Ngài người ở Thanh Đàm, tính cương trực, khắc kỷ sống theo điều nghĩa luyện lòng trong sáng, vững bền tiết thảo, không màng khoa danh tước lộc. Ở nhà đọc sách, hiểu biết uyên áo, tiếng tăm vang khắp gần xa. Người đến xin học đầy cửa". Có những người đỗ đại khoa, giữ việc triều đình, thành đạt hiển danh như Phạm Sự Mạnh, Lê Bát Quát. Đã làm đến hành khiển, vẫn giữa lễ học trò. Khi đến thăm hỏi ngài, thì quỳ lạy ở dưới giường ngài ngồi. Được nói chuyện với thầy mấy câu rồi đi xa, đã lấy làm vui mừng lắm vậy. Kẻ học trò nào làm điều xấu, đến thăm, ngài nghiêm khắc răn dậy, mắng mỏ. Có kẻ ngài quát nạt, không cho vào gặp. Ngài quả là bậc trong sạch, ngay thẳng, nghiêm nghị lẫm liệt đáng kính sợ.”

“Vua Minh Tông mời ngài làm tư nghiệp quốc tử giám, dậy Thái Tử ? Thái Tử lên ngôi, tức vua Trần Dụ Tông, ham mê chơi bời, bỏ bê chính sự. Bọn gian nắm nhiều quyền hành, làm nhiều điều trái phép. Ngài khuyên can, vua không nghe, bèn dâng sớ xin chém 7 tên gian thần, đều là những kẻ quyền thế được vua sủng ái. Bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”, sớ dâng không được vua trả lời. Ngài trao trả mũ áo, trở về sống với ruộng vườn. Vì yêu phong cảnh Chí Linh, đến ẩn cư ở đấy. Chỉ những khi Triều đình có đại hội ngài mới đến kinh sư. Vua Dụ Tông muốn ủy thác việc triều chính cho ngài. Ngài từ chối, không nhận. Bà Hiến Từ Hoàng Thái Hậu nói rằng: “Bậc hiền sỹ thanh cao, vua cũng không bắt làm bầy tôi được, giao chính quyền cho bậc ấy làm sao được.”

“Mỗi khi vua sai nội thần đem phẩm vật ban thưởng, ngài lạy tạ mà nhận, rồi đem cho người khác hết. Thiên hạ đều phục ngài là bậc khí tiết cao.”

“Khi Vua Dụ Tông băng hà, quốc thống suy vi. Được tin các quan tôn lạy vua mới là Trần Nghệ Tông; Ngài mừng lắm, chống gậy đến lạy mà từ chối không nhân chức gì. Trở về quê, mất ở nhà. Vua sai quan đến tế tặng tên Thụy. Ít lâu sau, có lệnh tòng tự ngài ở Văn Miếu”.

Sau phần ghi chép những dữ kiện cụ thể về ngài, sử thần Ngô Sỹ Liên đã nhận định: “Ngài là bậc thờ vua thì thẳng thắn can ngăn. Xuất và xử đều đúng với đạo nghĩa. Dạy học trò hun đúc thành nhân tài, công khanh hiển đạt đều từ cửa ngài mà ra. Tiết tháo cao thượng, đến thiên tử cũng không thể bắt làm bày tôi. Nhân cách chính đáng, đạo làm thầy giữ đức nghiêm; lời nói lẫm liệt khiến bọn gian thần xiểm nịnh phải sợ hãi. Ngàn năm sau, nghe phong độ ngài, há không làm cho kẻ gian tham thành liêm chính, kẻ yếu hèn biết tự lập tự cường hay sao?”

Pho Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, một vị đại khoa thời cuối Lê Trung Hưng, sáng lập Ngô gia văn phái, ngòi bút viết sử của ông cứng rắn độc đáo, phê bình các triều đại không chút kiêng dè. Các bậc minh quân phạm gì sơ xuất, ông cũng chê trách, chỉ trích đến cùng kỳ lý. Vậy mà khi viết về phu tử Chu Văn An, ông một mực cung kính và tỏ lòng biết ơn vị sư biểu đã làm sáng tỏ đạo lý. Pho Khâm Định Việt Sử Thông giám cương mục của Nguyễn triều, biên tập với Phan Thanh Giản làm tổng tài cùng 14 danh nho đương thời, 3 năm hoàn tất. Lại khiến 3 danh nho duyệt và chép lại. Công việc này hoàn tất trong một năm. Lại khiến 2 danh nho duyệt kiểm. Công việc này được hoàn tất trong 4 năm. Lại khiến 2 danh phúc kiểm, công việc này được hoàn tất trong 2 năm. Lại khiến 2 danh nho duyệt và sửa chữa. Công việc này được hoàn tất trong 3 năm. Sau cùng khiến 2 danh nho kiểm duyệt trong 3 năm, pho sử hoàn thành và được ấn hành.

Xem vậy, pho khâm Định Việt Sử của Nguyễn Triều là công phu nghiêm túc của 45 danh nho, ròng rã 16 năm mới
hoàn thành. Pho này có thêm lời bàn của Vua Tự Đức. Vua mà bàn thì còn kiêng nể gì ai nữa? Vậy mà khi viết về phu-tử Chu Văn An, cả 45 vị danh nho triều Nguyễn, một mực cung kính tôn trọng và vua Tự Đức không dám cầm bút bàn một lời. Đủ biết uy đức phu tử to tát là nhường nào.

Pho Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của sử gia Đặng Xuân Bảng, vị đại khoa cuối triều Nguyễn, người làng Hành Thiện,
phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định. Tuy gọi là tiết yếu, nhưng cũng giúp cho người đọc biết đủ ngọn nguồn lịch sử nước nhà. Cũng như các pho sử kể trên, về phu tử Chu Văn An, ông viết với lời lẽ cực kỳ kính trọng, bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ tôn thờ.

VĂN HỌC DÂN GIAN

Văn học dân gian truyền tụng rằng: Phu tử Chu Văn An quê ở Thôn Vân, làng Thanh Liệt (có người nói rằng ngài
người làng Quang Liệt?) huyện Thanh Đàm tỉnh Hà Đông. Huyện Thanh Đàm, đến thời Lê Trung Hưng đổi thành Thanh Trì vì kiêng húy vua Lê Thế Tông, ngài húy là Lê Duy Đàm.

Thủa đó, nhà Trần suy vi, Vua ham mê chơi bời, bỏ bê chính sự, sủng tín bọn gian thần xiểm nịnh. Phu tử can ngăn,
không nghe. Ngài dâng sớ xin chém bảy tên gian thần tặc tử. Vua không trả lời. Ngài bèn cởi mũ áo, treo ấn từ quan, ẩn cư trên núi Phượng Hoàng thuộc huyện Chí Linh. Cũng ở đấy, ngài mở lớp dậy học.

Hoàng Tử con út của Long Vương- Vua dưới thủy tề biết phu tử là bậc thầy đức cao học rộng, bèn lên cõi trần, giữ kín thân thế, xin làm môn sinh. Gặp năm hạn hán, ngũ cốc mất mùa, cuộc sống người dân đã khổ sở vì triều đình rối nát, lại thêm khốn đốn vì tai trời. Một hôm, tan buổi giảng, phu tử giữ Hoàng tử Thủy Tề lại và bảo:

Trong triều gian thần lộng quyền, khiến cho âm dương rối loạn, sinh nạn hạn hán, người dân điêu đứng đói khổ. Người có lòng nhân ai cũng đau xót. Thầy mong anh cứu vớt đám lê dân.

Hoàng tử trầm ngâm cúi đầu, thưa:

“Chống lại vận hành của tạo hóa sẽ phải gánh chịu tai nạn lớn. Nhưng lời thầy đã dậy, kẻ học trò nguyện đem hết tâm sức tuân hành.”

Rồi xin nghiên mực của phu tử nói:

“Con phun nước vào nghiên này, trời ắt đổ mưa cho đến đủ nước cấp cày. Nhưng, một điều quan trọng là hậu duệ thày, không một ai khoa bảng vì nghiên của thầy đã hết mực.”

Chu phu tử gật đầu:

“Tốt lắm. Nhà ta dứt khoa bảng, đổi lại lê dân được no ấm. Như thế còn gì bằng? Anh hãy làm mưa đi.”

Người học trò múc gáo nước, ngậm mà phun vào chiếc nghiên. Chỉ một thoáng, trời đang nắng chang chang, mây đen bỗng vần vũ, rồi mưa như trút nước. Chàng bái biệt thầy ba lạy:

“Từ nay con xin thôi học.”

Hôm sau, Chu phu tử đi dạo ra đầm nước trước nhà, nước đen như mực, có xác một con giao long nổi lềnh bềnh. Ngài sa lệ, gọi các môn sinh đến kể chuyện. Ai cũng cảm động, vớt xác lên chôn cất cẩn thận, gọi là mộ Giao Long. Ngôi mộ ấy linh ứng lắm, người dân lập đền thờ, khói nhang không dứt.

Sách Lưu Dị Ký chép: con út Long Vương ham học, nghe biết Chu Văn An mở lớp, bèn lên cõi trần xin làm đệ tử.
Chàng giữ bí mật thân thế, không ai biết. Gặp buổi hạn hán, nhà nông mất mùa. Tiên sinh giảng bài xong, ngồi lặng ưu tư. Hoàng tử út của Long Vương kính cẩn hỏi vì cớ gì? Tiên sinh nói:

“Vì lũ gian thần lộng quyền, không biết điều hòa âm dương, đến nỗi sinh nạn hạn hán. Người có lòng nhân ái cũng
xót xa. Lòng ta đau xót lắm.”

Chàng thưa:

"Đệ tử tài hèn, khó mà kéo lại máy tạo hóa. Nhưng cũng xin thử, may ra có thể được."

Rồi cầm gáo nước hắt vào nghiên mực của thầy, một lát sau mưa như xối nước. Chàng bái biệt thầy:

"Từ nay con xin thôi học."

Khi về đến bờ sông Nhuệ giang, gặp vị thiên sứ. Thiên sứ hỏi: Cớ gì khiến người làm mưa? Chàng liền ngã xuống đất
mà chết, hóa ra một con giao long. Dân làng chôn chàng, lập mộ gọi là mộ "Giao Long Hạt Túc". Hơn tháng sau thấy có linh ứng, bèn lập đền thờ, nay vẫn còn.

Qua điều truyền tụng trong dân gian cũng như ghi chép nơi sách Lưu Dị Ký, cho thấy rõ Chu phu tử là bậc đối với
môn sinh thì đào tạo tâm hồn, mở mang trí tuệ, đối với dân nước thì thực lòng yêu thương: dứt khoa danh hậu duệ để dân được áo ấm cơm no. Học trò ngài, ngoài những vị khoa bảng đạt nhân, lại có cả đến vị đổi mạng sống để làm điều đúng do thầy sai khiến. Thật là xúc động lòng người.

Hậu duệ ngài, cho mãi đến cuối thời Lê Trung Hưng, xét trong danh sách khoa bảng, tuyệt nhiên không có một người.

Triều đình cử tiến sỹ Phạm Quý Thích đi tìm, mới hay hậu duệ Chu phu tử rời về Thanh Hóa định cư, tất cả gồm 17
xuất định. Họ đều chất phác đơn thuần, sống bằng nông nghiệp, không quan tâm về cử nghiệp. Ông Phạm Quý Thích có chọn được mấy người thông minh mẫn tuệ, xin với triều đình cho về theo học trường Quốc Tử Giám. Việc chưa thành thì lịch sử biến động. Nhà Tây Sơn đi vào lịch sử như sấm sét chớp nhoáng. Rồi nhà Nguyễn nắm giữ sơn hà. Việc cho hậu duệ Chu phu tử tòng học nơi Quốc Tử Giám bị quên lãng. Không biết có phải nghiên của phu tử hết mực hay không?

Trên đây là nói về lập công, lập đức của ngài. Về lập ngôn, ngài viết những tác phẩm giá trị: Thất Trảm Sớ, Tiều
Ẩn Thi Tập, Tiều Ẩn Quốc Ngữ Thi, Tứ Thư Thuyết Ước. Không may cho văn học nước nhà, dưới thời giặc Minh đô hộ, với chính sách thưc dân văn hóa ngược nhân tình: đốt sách tịch thu sách quý đem về Tầu, nay chỉ tìm được 12 bài thơ chép trong Toàn Việt Thi Lục. Tôi chép dưới đây một bài, phiên âm và dịch nghĩa.

Bài thơ bằng chữ hán

Phiên âm: Đề Lãng Ngộ

  1. Thượng nhân Viễn công duệ
  2. Lãng ngộ hữu cao thức
  3. Lũ kết Bạch xã minh
  4. Vị ái thanh liên sắc
  5. Phương đường trữ bích y
  6. Hoàn dĩ phù cừ thực
  7. Thượng cấu thủy hoa đình
  8. Ý dữ liên tỷ đức
  9. Hảo phong thời nhất lai
  10. Mãn tọa văn phương phức.
  11. Ẩn kỷ quan chúng diệu
  12. Du nhiên tâm tự đắc
  13. Bất tri thanh tịch thân
  14. Dĩ tại hà hoa trắc
  15. Minh nguyệt tương hữu bằng
  16. Nhàn vân đồng yển tức
  17. Khát khuynh châu lộ ẩm
  18. Bão trích ngọc phòng thực
  19. Hồi đầu tạ thế phân
  20. Tiêu diêu du bát cực

tho chu han

Định nghĩa:

Đề Giác Ngộ Trong sáng [1]

  1. Cao tăng [2] giòng viễn công [3]
  2. Giác ngộ trong sáng, kiến thức cao sâu,
  3. Luôn giữ lời kết minh ở thôn Bạch.
  4. Vì yêu sắc sen xanh,
  5. Nên ao vuông chứa sóng biếc gợn lăn tăn,
  6. Trồng toàn sen ở chung quanh.
  7. Trên mặt ao dựng đình Thủy Hoa,
  8. Ngụ ý sánh đức cùng sen. [4]
  9. Mỗi khi gió mát thoảng qua,
  10. Đưa hương thơm ngào ngạt khắp chỗ ngồi.
  11. Tựa ghế quan sát mọi diệu lý.
  12. Thỏa mái nhẹ nhàng vì tự nhận thấy được chân tâm. [5]
  13. Không biết đến thân thanh tịnh.
  14. Đã ở bên hoa sen.
  15. Bạn bè với trăng sáng,
  16. Nghỉ ngơi cùng mây nhàn.
  17. Khát, nghiêng giọt sương ngọc mà uống.
  18. Đói, hái hạt sen ngọc mà ăn.
  19. Ngoái đầu lại tạ từ cõi đời phiền toái,
  20. Thong dong dạo chơi tám cõi [6]

Chú Thích:

[1] Nguyên tác "Lãng Ngộ" lãng là sáng, ngộ: tỉnh mà nhận ra, tức giác ngộ. Lãng Ngộ bao hàm ý nghĩa: tĩnh ngộ bỏ
bến bờ vô minh (tăm tối) do vọng động sinh ra, đi sang bờ bên kia, trong sáng lắng đọng.

[2] Cao tăng: Nguyên tác là "Thượng Nhân" nghĩa là bậc ở trên, bề trên; tôi định là cao tăng.

[3] Viễn công: Ông viễn, tức cao tăng Tuệ Viễn, trụ trì ở chùa Đông Lâm, đã thỉnh được 126 vị cao tăng và túc nho,
cùng nhau minh ước giữ tinh thần "Công hồ dị đoan, tư hại giã dĩ" nghĩa là "chống đối, đả phá những giềng mối tư tưởng khác nhau, chỉ có hại cho chính tâm thân mình và nhân quần".

[4] Đức của sen:

Trong đầm gì đẹp bằng sen?

Lá xanh, hoa trắng, lại chen nhị vàng.

Nhị vàng, hoa trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Đức của sen như đức của người quân tử. Người quân tử không ghét kẻ tiểu nhân (vô ố tiểu nhân, thị vi quân tử) gần gũi dễ dẫn giắt và che chở chúng, nhưng không hùa theo chúng. Cũng như sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn.

[5] Tử nhận được chân tâm: nguyên tác là "tự đắc" Thông thường "tự đắc" là thái độ tâm lý của kẻ tiểu nhân, thỏa
mãn một cách hợm hĩnh về chính mình hoặc về việc làm tầm thường của mình. Nhưng, trong bài này, "tự đắc" được hiểu là "tự tìm được chân tâm mình, nói một cách khác, tự nhìn thấy chân diện mục."

[6] Tám cõi: nguyên tác là "bát cực" cám ơn Phạm Nhữ Tiếp, Thiền cư sỹ đã dùng biểu tượng của Nho làm thí dụ để
giảng cho tôi hiểu được phần nào lẽ của Sắc Không.

Âm dương giao dịch (tương thôi) mà có càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Lại biến hóa thành 64 quẻ. Rồi lại tương thôi thành vô cùng, vô cực, không ngừng, không dứt. Vũ trụ vật lý và vũ trụ tâm linh đều do đấy mà có. Sự tương thôi ấy chính là điều mà nhà Phật gọi là vọng động. Toàn thể vũ trụ vật lý và vũ trụ tâm linh là vô minh, là "bát cực" hay dịch là "tám cõi" cũng được. Không vướng mắc gì với tám cõi, không bận lòng gì đến tám cõi, thong dong dạo chơi tám cõi vì đã nhận được chân diện mục.

Trần Lam Giang

Thứ sáu, 19 Tháng 6 2015 00:56

Tiểu sử Chu Văn An - 朱文安

Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám
Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Chu Văn An tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh. Theo thần tích đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm thành hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn (1292) và mất năm Canh Tuất (1370). Ông là một nhà giáo, một thầy thuốc và cũng là một đại quan nhà Trần, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi Ông là Chu Văn An. Ông người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội).

Chu Văn An ngay từ hồi còn trẻ đã nổi tiếng là một người cương trực, sửa mình trong sạch, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Sau khi thi đậu Thái học sinh, là người chính trực nên Ông không ra làm quan, chỉ ở nhà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Ông có công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam.

Học trò theo học Ông rất đông. Trong số môn đệ ông có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, khi về thăm thầy vẫn giữ lễ, được thầy nói chuyện ít lời thì rất lấy làm mừng. Có những học trò cũ không tốt, ông thẳng thắn quở trách, thậm chí quát mắng không cho gặp. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao và học vấn sâu rộng làm cho tiếng tăm ông ngày càng lan xa. Đức độ và uy tín của ông như vậy, khiến cho học trò đến theo học càng nhiều và có đủ các loại.

Một huyền thoại vẫn được lưu truyền là khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu, ông bèn cho người dò xem thì trò đó cứ đến khu đầm Đại là biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: “Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho”. Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Ông được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v... Đây chỉ là một giai thoại về ông để nói rằng tài đức của ông có sức mạnh cảm hóa được cả quỷ thần. Tuy nhiên, qua đó cũng thấy được đức độ của ông lúc đương thời là rất lớn.

Năm Khai Thái đời Vua Trần Minh Tông (1314-1329) Ông mới nhận chức Quốc tử giám tư nghiệp, dạy cho thái tử Trần Vượng học (thái tử là vua Trần Hiến Tông trong tương lai). Ông đã cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào công việc củng cố triều đình lúc đó đang đi dần vào con đường khủng hoảng, suy thoái.

Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1369), ban đầu vì Dụ Tông còn ít tuổi nên có thượng hoàng Trần Minh Tông lo việc triều chính. Sau khi thượng hoàng Minh Tông mất (1357), Dụ Tông tự mình cầm quyền chính. Nhưng Dụ Tông không có tài trị nước. Nhà vua mải mê chơi bời, thích tửu sắc hát xướng, bỏ bê việc nước. Tình cảnh xã hội rất nhiễu nhương, chính sự càng thối nát. Bọn quyền thần cận thần nhiều người bất tài, o bế vua để lộng quyền, hà khắc, tham nhũng, làm nhiều điều vô đạo. Dân tình đói khổ.

Chu Văn An vốn là người điềm đạm, thẳng thắn, cương trực, có uy tín cao trong triều. Nhìn trung thần nghĩa sĩ bị hãm hại, các quan ngự sử chuyên việc can vua giờ chỉ biết ngồi im ăn lộc (ai có ý định can vua, gia đình phải phát tang làm ma sống rồi mới vào triều) Ông đã dũng cảm dâng “Thất trảm sớ” xin chém bảy tên nịnh thần, đều là người quyền thế được vua yêu. Nhưng vua không nghe. Sớ thất trảm ấy bị thất truyền, không rõ nội dung như thế nào, ngay đương thời cũng ít người được biết Ông đã xin chém những ai. Có thể Dụ Tông muốn tránh rắc rối cho triều đình và giữ yên cho Chu Văn An nên đã hủy đi. Dù thế, thất trảm sớ đã gây chấn động dư luận, nói như người xưa "làm kinh động quỷ thần" và trở thành biểu tượng chói sáng của thái độ trí thức trước thời cuộc.

Do “Thất trảm sớ” không được thực hiện ông bèn “treo mũ ở cửa Huyền Vũ” rồi từ quan lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, lấy hiệu là Tiều Ẩn (người đi hái củi ẩn dật). Ông dạy học và viết sách cho tới khi qua đời tại đây. Ông mất năm Thiệu Khánh thứ nhất đời Trần Nghệ Tông (1370), được vua làm lễ tế và đặt tên thụy là Văn Trinh.

Đền thờ Chu Văn An
Đền thờ Chu Văn An

Theo thư tịch cũ thì Chu Văn An viết nhiều sách, ông đã để lại cho đời sau những tác phẩm: hai tập thơ “Quốc ngữ thi tập” bằng chữ Nôm và “Tiều ẩn thi tập” bằng chữ Hán. Ông còn viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề “Tứ thư thuyết ước”. Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây thì Chu Văn An còn là một nhà đông y đã biên soạn quyển “Y học yếu giải tập chu di biên” gồm những lý luận cơ bản về chữa trị bệnh bằng Đông y.

Nhưng cho tới nay người ta mới chỉ sưu tầm được có 12 bài thơ của ông chép trong “Toàn Việt thi lục” do Lê Quý Đôn sưu tập, còn hầu như bị thất lạc cả. Phan Huy Chú nhận xét: “lời thơ trong sáng u nhàn”. Đây là thơ Chu Văn An viết khi lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh. Nói chung thơ các ẩn sỹ thường có phong vị u nhàn, nhưng với Chu Văn An u nhàn chỉ là ở cái giọng thơ. Thơ ông chịu ảnh hưởng của đạo Phật như nhiều nhà thơ thời ấy, nhưng chủ yếu hơn, ông rất trọng hiện thực, tin vào sự chiêm nghiệm của mình, không thiên kiến, không theo những nếp nghĩ có sẵn. Tuy thơ ông ca ngợi sự lánh đời, chúng ta lắng nghe vẫn thấy ở phía sau một nỗi niềm chưa hẳn thoát tục “Thốn tâm thù vị như hôi thổ” (lòng đâu đã nguội như tro đất). Sau thất trảm sớ làm sao ông còn ở kinh đô được nên Ông ở ẩn là do tình thế bắt buộc, mang theo một chí nguyện không thành, muốn giúp đời mà không giúp được, chứ đâu phải vì ham thú tiêu dao hạc nội mây ngàn. Ông lánh thân nhưng lòng vẫn ở giữa đời.

Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của Ông là tấm gương sáng của thời phong kiến. Khi ông mất, vua Trần đã dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Vua còn ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: “học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”.

Câu đối thờ Chu Văn An mà người đời mãi mãi còn truyền tụng để tỏ lòng mến phục:

Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc
Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong.

(Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh dong chơi há chẳng phải là cái thú vui của bậc hiền giả Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn núi sông vẫn mãi mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân.)

NGÔ TẰNG GIAO
Xuân Canh Dần 2010

Tài liệu tham khảo:

  1. Thơ Văn Lý Trần (nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978)
  2. Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam
  3. Thivien.net
  4. Wikisource.org
  5. VietSciences.org
Thứ năm, 18 Tháng 6 2015 17:46

Nội Qui

(được tu chính bởi Đại hội Thường niên ngày 22 th.6, 2008)

Điều 1 : Trụ sở Hội

Đoạn 1. Trụ sở chính.

Trụ sở chính của Hội để điều hành công việc được đặt tại Quận Hạt Santa Clara, California.

Đoạn 2. Các trụ sở khác.

Hội có thể thiết lập các trụ sở khác tại các nơi khác trong hay ngoài tiểu bang California khi thấy cần để điều hành công việc và tùy ở quyết định của Ban Chấp Hành.

Điều 2 : Mục đich và Tôn chỉ

Mục đích và đường lối hoạt động chính yếu của Hội là : Phát huy tinh thần tương trợ giữa các cựu học sinh Chu Văn An trong các lãnh vực giáo dục, văn hoá, dịch vụ xã hội và để bảo tồn nền văn hóa và phong tục tập quán của Việt Nam v.v…bằng cách tổ chức các chương trình huấn nghệ và cố vấn nghề nghiệp, tổ chức các buổi hội thảo công cộng, các buổi diễn thuyết về văn hoá Việt Nam, các buổi trình diễn về các vũ điệu dân tộc và kịch nghệ.

Các hoạt động nêu trên không được đi ngược lại lập trường của người Việt tỵ nạn Cộng Sản là không chấp nhận chê độ Cộng Sản Việt Nam.

Điều 3 : Hội Viên.

Đoạn 1. Nhiệm vụ và quyền lợi của Hội viên.

Hội chỉ có 1 loại hội viên. Không có 1 hội viên nào được phép giữ hơn một ghế hội viên trong Hội. Tất cá các hội viên đều có cùng quyền hạn và trách vụ ngang nhau.

Đoạn 2. Điều kiện gia nhập.

Tất cả các cựu học sinh Chu Văn An đều có quyền gia nhập để trở thành hội viên của Hội.

Đoạn 3. Thể lệ gia nhập.

Các đơn xin gia nhập Hội, đều phải ghi rõ điạ chỉ, những năm theo học và phải được ít nhất 1 hội viên giới thiệu, ngoại trừ đương đơn xuất trình được thẻ học sinh của trương hay được sự giới thiệu của một cựu giáo sư của trường.

Các cựu học sinh Chu Văn An đã từng tham gia các sinh hoạt của Hội hoặc có ủng hộ tài chánh cho Hội đều được coi là hội viên chính thức.

Đoạn 4. Lệ phí gia nhập và niên liễm.

Không một khỏan lệ phí nào được thâu về đơn xin gia nhập Hội Niên liễn sẽ do Ban Chấp Hành quyết định tùy thời điểm và do các hội viên đóng góp.

Đoạn 5. Tính cách bất chuyển hoán hội viên.

Không một hội viên nào được phép chuyển nhượng quyền hội viên. Quyền hạn của hội viên chấm dứt khi hội viên qua đời.

Đoạn 6.

Chấm dứt quyền hội viên.

a) Khi một hội viên đích thân hay gửi văn thư cho Hội Trưởng hay Tổng Thư Ký của Hội để thông báo ý muốn ra khỏi Hội

b) Khi hội viên qua đời.

c) Khi hội viên không đóng niên liễn đúng thời hạn hoặc trong 3 năm liền không có ủng hộ hoặc tham gia sinh hoạt của Hội.

d) Khi có quyết định của Ban Chấp Hành xác nhận hội viên đã có hành vi có phương hại trầm trọng đến quyền lợi hoặc thanh danh của Hội hoặc trái với mục tiêu, đường lối của Hội.

Điều 4: Các phiên họp của hội viên.

Đoạn 1. Địa điểm họp.

Các phiên họp sẽ được tổ chức tại trụ sở chính của Hội.

Đoạn 2. Phiên họp thường niên.

Phiên họp thường niên tổ chức vào tháng 12 hoặc ngày tháng thuận tiện ( không qúa trước hay sau 3 tháng ngày Ban Chấp Hành đương nhiệm mãn hạn) để bầu Ban Chấp Hành và để quyết định những vấn đề được đại hội đưa ra biểu quyết. Mọi chức vụ trong Ban Chấp Hành đều được bầu theo thể thức đon danh và kín. Mỗi hội viên chỉ có một phiếu để bầu trừ phi được hội viên khác úy quyền Tùy ở số ghế ấn định cho Ban Chấp Hành, ứng viện có số phiếu nhiều nhất sẽ được chọn vào Ban Chấp Hành.

Đoạn 3. Các phiên họp đặc biệt.

Các phiên họp đặc biệt có thể do Ban Chấp Hành triệu tập hay do ít nhất 10% số hội viên có quyền bầu phiếu triệu tập.

Các phiên họp đặc biệt cũng có thể được triệu tập bởi Ban Cố Vấn nếu Ban Chấp Hành không chịu triệu tập mặc dầu đã có lời yêu cầu của Ban Cố Vấn.

Đoạn 4. Thông báo phiên họp.

Ngày giờ và nơi họp phải được thông báo cho hội viên bằng thư ít nhất 10 ngày trước ngày họp.

Đoạn 5. Túc số cần thiết cho các phiên họp.

Túc số cần thiết là 1/3 số hội viên của Hội. Nếu không đủ túc số cần thiết, phiên họp của hội viên sẽ được hoãn tới ngày giờ do quyết định của đa số hội viên hiện diện hoặc có ủy quyền nhưng công việc nào được bàn tới.

Đoạn 6. Sự Ủy quyền.

Trong các phiên họp của hội viên, một hội viên hiện diện có quyền bầu thế cho hội viên vắng mặt nếu có giấy ủy quyền của của hội viên vắng mặt đó.

Đoạn 7. Quyền đầu phiếu.

Mỗi hội viên có quyền bỏ 1 phiếu cho một vấn đề được đua ra biểu quyết. Đầu phiếu ở các phiên họp hợp lệ của hội viên sẽ thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu bằng cách giơ tay. Tuy nhiên cuộc đầu phiếu bầu Ban Chấp Hành sẽ thực hiện bằng bỏ phiếu kín.

Điều 5. Ban Chấp Hành.

Đoạn 1. Số người

Hội sẽ không dưới 5 hay hơn 9 người trong Ban Chấp Hành. Số người chính xác sẽ do Ban Chấp Hành hay Đại Hội ấn định theo trong giới hạn này như đã quy định.

Đoạn 2. Quyền hạn.

Ban Chấp Hành sẽ thi hành các quyền hạn của Hội, kiểm soát tài sản của Hội và điều hành công việc Hội, ngoại trừ quy định khác của bản Nội Quy.

Đoạn 3. Nhiệm Kỳ.

Mỗi thành viên trong Ban Chấp Hành sẽ giữ nhiệm kỳ cho tới khoá họp thường niên kế tiếp để bầu Ban Chấp Hành mới như đã quy định trong bản Nội Quy và cho tới khi người kế nhiệm được chọn.

Nhiệm kỳ của các thành viên trong Ban Chấp Hành là 2 năm và có thể tái cử.

Đoạn 4. Thù lao.

Các thành viên trong Ban Chấp Hành không có thù lao.

Đoạn 5. Các phiên họp của Ban Chấp Hành.

a/ Ban Chấp Hành sẽ họp định kỳ tại trụ sở chính của Hội vào mỗi Thứ Bẩy đầu tháng. Các phiên họp đặc biệt có thể được vị Hội Trưởng, Phó Hội Trưởng hay 3 thành viên trong Ban Chấp Hành triệu tập. Ngày giờ và điạ điểm của phiên họp sẽ do người triệu tập phiên họp quyết định.

b/ Thông báo về ngày giờ và điạ điểm họp phải được tống đạt tới các thành viên trong Ban Chấp Hành ít nhất là 10 ngày trước buổi họp. Thông báo này không áp dụng cho các buổi họp thường lệ.

c/ Đa số các các vị thành viên trong Ban Chấp Hành sẻ ấn định túc số cho buổi họp.

d/ Trong trường hợp không đủ túc số, Ban Chấp Hành sẽ không được phép biểu quyết bất cứ vấn đề gì ngoại trừ những gì đã ghi rõ trong bản Nội Quy.

Điều 6. Thành Viên Ban Chấp Hành.

Đoạn 1. Số thành viên trong Ban Chấp Hành.

Số thành viên trong Ban Chấp Hành gồm có 1 Hội Trưởng, 1 Phó Hội Trưởng, 1Tổng Thư Ký, 1 Phó Tổng Thư Ký, 1 Thủ Qũy và 4 thành viên khác.

Đoạn 2. Điều kiện Bầu cử, Nhiệm kỳ và Điền khuyết.

Các thành viên trong Ban Chấp Hành sẽ được các hội viên bầu trong phiên họp hàng năm. Nhiệm kỳ sẽ là nhiệm kỳ của các thành viên trong Ban Chấp Hành . Mỗi khi có ghế trống thì Ban Chấp Hành sẽ chọn người để điền khuyết.

Đoạn 3. Nhiệm vụ của Hội Trưởng.

Hội Trưởng là thành viên đại diện Hội. Hội Trưởng có nhiệm vụ thi hành và giám sát mọi công việc của Hội như đã được Bản Nội Quy quy định hay được Ban Chấp Hành đề ra trong buổi họp.

Đoạn 4. Nhiệm vụ của Phó Hội Trưởng.

Phó Hội Trưởng sẽ thi hành các nhiệm vụ và có tất cả các quyền hạn của Hội Trưởng khi Hội Trưởng vắng mặt thay mất khả năng thi hành nhiệm vụ.

Đoạn 5. Nhiệm vụ của Tổng Thư Ký.

Tổng Thư Ký có nhiệm vụ giữ biên bản các buổi họp của đại hội thương niên cũng như của Ban Chấp Hành. Tổng Thư Ký là người quản thủ tất cả tài liệu, hồ sơ, sổ sách của Hội và cũng là người gửi thông báo tới hội viên theo luật và theo bản nội quy quy định. Nói một cách tổng quát, Tổng Thư Ký thi hành tất cả nhiệm vụ của văn phòng Tổng Thư Ký và những nhiệm vụ khác mà luật pháp hay nội cho phép hay do Ban Chấp Hành cho phép.

Đoạn 6. Nhiệm vụ của Phó Tổng Thư Ký.

Phó Tổng Thư Ký phụ giúp Tổng Thư Ký diều hành công việc của văn phòng Tổng Thư Ký. Khi Tổng Thư Ký vắng mặt hay không thể thi hành nhiệm vụ được thì Phó Tổng Thư Ký sẽ làm mọi công tác của Tổng Thư Ký.

Đoạn 7. Nhiệm vụ của Thủ Qũy.

Thủ qũy sẽ chịu trách nhiệm và giữ gìn tất cả tiền qũy của Hội, ký thác tiền vào Ngân Hàng theo yêu cầu của Ban Chấp Hành, giữ gìn một cách đứng đắn và đầy đủ tài sản của Hội. Lập bản báo cáo tài chánh và sổ sách kế toán lên Ban Chấp Hành và toàn thể hội viên theo lời yêu cầu của Ban Chấp Hành hay của hội viên. Nói một cách tổng quát, Thủ Qũy thi hành moi nhiệm vụ liên quan tới tài chánh theo luật định hay theo quy định của bản Điều Lệ hay do Ban Chấp Hành trao phó.

Điều 7. Các Ủy Ban.

Ban Chấp Hành có thể lập các Ủy Ban phụ trách các công tác đặc biệt . Việc biểu quyết thành lập các Ủy Ban Đặc Biệt này sẽ bao gồm việc lựa chọn người vào Ủy Ban, chọn vị Chủ Tịch Ủy Ban và ấn định mục tiêu của Ủy Ban.

Điều 7 (mới). Ban Cố Vấn.

Đoạn 1. Thành phần.

Các cựu Hội Trường đương nhiên là thành viên của Ban Cố Vấn. Cựu Hội Trưởng niên trưởng sẽ là Chủ Tịch Ban Cố Vấn và có nhiệm vụ điều hành Ban Cố Vấn.

Đoạn 2. Nhiệm vụ và quyền hạn.

a) Ban Cố Vấn có quyền yêu cầu Ban Chấp Hành tường trình về những hoạt động cũng như về sự chi tiêu của Hội nếu thấy có điều gì không được rõ ràng về tài chánh cũng như về lập trường của Hội.

b) Nếu nhiệm kỳ Ban Chấp Hành đã mãn qúa 3 tháng mà Ban Chấp Hành không chịu tổ chức bầu Ban Chấp Hành mới, Ban Cố Vấn có quyền triệu tập phiên họp đặc biệt để bầu Ban Chấp Hành mới.

Điều 8. Chi Phiếu, Giấy Nợ, Giao Kèo.

Mọi chi phiếu, giấy nợ, lệnh chi trả và mọi giấy tờ về nợ nần của Hội sẽ được Thủ Qũy ký tên và Hội Trương ký bồi thự. Mọi giao kèo, khế ước , hay những tài sản đứng tên Hội hay nhân danh Hội sẽ do Tổng Thư Ký ký tên và Hội Trưởng ký tên bối thự và phải có đính kèm quyết định của Ban Chấp Hành do Tổng Thư Ký ký tên xác nhận quyền được phép thi hành.

Điều 9. Tài Khóa.

Tài khoá của Hội bát đầu từ ngày 1 tháng 01 và chấm dứt vào ngày 31 tháng 12 mỗi năm.

Điều 10. Tu Chính.

Mọi tu chính về bản Nội Quy này đều phải có đa số phiếu cửa hội viên chấp thuận.

Thỏa thuận của Ban Chấp Hành Lâm Thời về bản Nội Quy.
Chúng tôi, những ngưới ký tên dưới đây là những thành viên trong Ban Chấp Hành Lâm Thời của Hội Ái Hữu Cực Học Sinh Chu Văn An, một hội đoàn bất vụ lợi tại California, đồng thỏa thuận những điều quy định trên đây của bản Nội Quy và xem đây là bản Nội Quy chính thức của Hội.

California ngày 2 tháng 8 năm 1988.

Ký tên
Nguyễn Hoàng Hải, MD.    Hội Trưởng
Phạm Hữu Độ                 Phó Hội Trưởng
Lê Duy San                    Tổng Thư Ký
Nguyễn Khắc Điệp           Phó Tổng Thư Ký
Đỗ Thị Nhuận                 Thủ Quỹ

Đại hội Thường niên Hội Ái hữu Cựu Học sinh Chu Văn An Bắc California họp tại 1247 Persian Drive, Sunnyvale, CA 94086 ngày 22 tháng 6 năm 2008 đã biểu quyết chấp thuận những điều sửa đổi được in nghiêng và đậm trong bản Tu Chính Nội Quy này.

Làm tại California ngày 22 tháng 6 năm 2008

Chủ tọa đoàn : Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Đoan Phi
Thư ký buổi họp : Phan Quang Nại

Thứ năm, 18 Tháng 6 2015 05:07

Ban Chấp Hành Đương Nhiệm

 

Ban Chấp Hành Đương Nhiệm 2016-2018

Hội Trưởng: Lê Văn Tỉnh

Phó Hội Trưởng: Vũ Trọng Tiến.  

Phụ Tá Phó Hội Trưởng: Vũ Doanh Châu

Tổng Thư Ký: Nguyễn Đức Vượng

Phó Tổng Thư Ký: Phan Quang Tuấn

Thủ Qũy: Bùi Công Thắng

 

 

   

Thứ năm, 18 Tháng 6 2015 04:22

Lịch Sử Thành Lập Hội

Từ đầu năm 1982, khi làn sóng người Việt tỵ nạn tập trung về California, nhiều anh em cựu học sinh Chu Văn An đến định cư tại San Jose và vùng phụ cận. Họ đã tìm tới nhau và tổ chức những buổi họp mặt bỏ túi tại gia. Người đầu tiên đứng ra tổ chức là anh Nguyễn văn Hiền, kế tiếp là các anh Đinh Xuân Thảo, Nguyễn An Cường, Vũ Ngọc Anh, Lê Duy San, Đỗ Đình Lợi. Tháng 11 năm 1987, các anh Vương Tứ Cảnh, Phạm Hữu Độ, Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Hoàng Hải, Nguyễn Văn Hiền, Lê Duy San, Hoàng Đức Trí và một số anh em khác quyết định tổ chức một buổi họp mặt nới rộng tại nhà hàng Thiên Nam vào ngày 20/12/1987 để tiến tới việc thành lập Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An tại Bắc Cali. Trong buổi họp này, hầu hết các anh chị em tham dự đã tín nhiệm ban tổ chức và đề cử thêm một số người tham gia để bầu lên một ban Chấp Hành Lâm Thời. Ngày 18/01/88, ban Chấp Hành Lâm Thời của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc Cali đã ra đời với thành phần như sau:

    • Hội Trưởng: Anh Nguyễn Hoàng Hải.
    • Phó Hội Trưởng: Anh Phạm Hữu Độ.
    • Tổng Thư Ký: Anh Lê Duy San.
    • Phó Tổng Thư Ký: Anh Nguyễn Khắc Điệp.
    • Thủ Qũy: Chị Đỗ Thi Nhuận.

Anh Lê Duy San đã được trao trọng trách soạn thảo bản Điều lệ và Nội quy cùng lo thủ tục pháp lý thành lập Hội. Ngày 18 tháng 11 năm 1988 Hội Ái hữu Cựu Học sinh Chu Văn An Bắc California được Tiểu bang California cấp giấy phép chính thức hoạt động.

Tiếp theo sau anh Nguyễn Hoàng Hải là các anh Phạm Hữu Độ, Lại Quốc Ấn, Nguyễn Thanh Giản, Phạm Huy Thịnh, Vũ Mạnh Phát, Phạm Nguyên Khôi, Lê Duy San đã lần lượt đảm nhận chức vụ Hội Trưởng.

Trang 1 / 2
Bạn đang ở trang: Home Giới Thiệu Super User