Pham Nguyen Khoi

Pham Nguyen Khoi

Thứ năm, 09 Tháng 7 2015 02:58

Dai Hoi Toan Cau 2015

 
     
 
Ban Tổ Chức Đại Hội Bưởi-Chu Văn An Toàn Cầu trân trọng thông báo:
1)- Đặc san Kỷ Yếu. Với sự đóng góp của quý anh chị đồng môn khắp nơi, tập Kỷ Yếu sẽ phát hành trong ngày Đại Hội. Ban BBT đã trình trong buổi họp ngày 28/6/2015 Hình thức và Nội dung tập Kỷ Yếu. Về phần các mẫu bìa, mẫu bìa sau đây đã được chấp nhận. Xim xe đính kèm bên dưới.
Chỉ còn hai ngày nữa BBT sẽ chấm dứt nhận các đóng góp cho Kỷ Yếu. BBT rất mong nếu anh chi nào còn chần chờ xin vui lòng gửi về ngay. Quý anh chị chỉ cần đánh náy trực tiếp và mẫu sau đây và "reply". BBT sẽ nhận được và quý anh chị sẽ có tên trong Kỷ Yếu, thật ra chỉ là một cuốn sách nhưng là một kỷ niệm nhỏ lưu lại sau Đại Hội cho mình, bạn bè và người thân.
BTC và BBT mời tất cả quý anh chị nhận được email, nhờ chuyển đến quý anh chị đồng môn khắp nơi không phâm biệt địa phương, phe nhóm hay gửi về trước 1 tháng 7 năm 2015. Đây là lần kêu gọi chót.
2)- Đêm Đại Hội (30/8/2015) và Tiền Đại Hội (29/8/2015). Vì muốn tổ chức được chu đáo tại khách sạn và nhà hàng Mỹ nên chúng tôi buộc lòng phải thông báo những điểm sau:
    (1)- Ngày cuối ghi danh đóng tiền Đại Hội: 1 tháng 8 năm 2015.
    (2)- Sẽ không bán vé tham dự tại cửa
    (3)- Khi ghi danh vui lòng cho biết năm cuối tại CVA để BTC sẽ xếp ngồi theo Niên khóa.
    (4)- Nếu quý anh chị thuộc một nhóm, BTC sẽ trao vé cho vị Đại diện nhóm.
    (5)- Trường hợp quý anh chị mua qua website hay trực tiếp gửi thư, nếu BTC nhận được phiếu ghi danh và trả tiền trước ngày 7 tháng 8 năm 2015, BTC sẽ gửi vé đến quý anh chị. Sau ngày này BTC sẽ giữ vé và giao cho quý anh chị trong buổi gặp gỡ giới thiệu từ 4:00PM-6:00PM ngày 28/8/2015 tại Thư Viện Việt Nam
    (6)- Nếu địa chỉ nhận thơ không cùng địa chỉ trên tờ check vui lòng cho biết.
3)- Du Lịch.
    (1)- Cruise 5 ngày 4 đêm: BTC sẽ thực hiện vì đủ túc số. Nhạc sĩ CVA Nguyễn Ngọc Phúc đã chấp nhận và sẽ là one man band trên du thuyền. Chắc chắn chúng ta sẽ có một mini Đại Hội văn nghệ vui nhộn trên du thuyền.
    (2)- Bus Tour 1 ngày và Bus Tour 3 ngày 2 đêm: Hiện chưa đủ túc số. Sau ngày 15/7/2015, BTC sẽ có quyết định và sẽ loan báo cùng quý anh chị.
4)- Hoàn tiền.
BTC sẽ hoàn tiền 100% lại quý anh chị nếu vì lý do bất khả kháng, không thể tham dự được và cho BTC biết trước ngày 8 tháng 8 năm 2015.
Thưa quý vị,
BTC đã và sẽ cố gắng tổ chức một Đại Hội chu đáo, rất mong quý anh chị giúp để BTC hoàn thành nhiệm vụ mà Đại Hội kỳ 4 tại Houston giao phó cho chúng tôi, bằng cách quý anh chị quyết định và mua vé định sớm.
Đa tạ quý anh chị.
T/M Ban Tổ Chức Đại Hội B-CVA Toàn Cầu Kỳ 5
Bùi Đức Uyên
Danh sách BTC đính kèm
     
CHƯƠNG TRÌNH TỔNG QUÁT
ĐẠI HỘI B-CVA TOÀN CẦU Kỳ 5
 
* Thứ Sáu 28/8/2015 từ 4:00PM - 6:00PM: Hướng dẫn quý Đồng Môn ở xa về.
Địa điểm: Thư Viện Việt Nam. 10872 Westminster Ave. Garden Grove, CA 92843 - Điện Thoại: (714) 590-6190. Vui lòng liên lạc với BTC.
* Thứ Bẩy 29/8/2015 từ 4:00PM-10:00PM: Tiền Hội Ngộ ($30): TINH THẦN CHU VĂN AN
Địa điểm: Tượng Đài Việt Mỹ và Rose Center - 14140 All American Way Westminster, CA 92683 - Điện Thoại: (714) 793-1150
* Chủ Nhật: 30/8/2015 từ 5:00PM: Đại Hội ($75): 70 NĂM TRƯỜNG THEO GIÒNG LỊCH SỬ
Địa điểm: Khách sạn Hotel Irvine (trước là Hyatt). 17900 Jamboree Rd, Irvine, CA 92614 - Điện thoại:(949) 230-4452
CHƯƠNG TRÌNH SAU ĐẠI HỘI
* Thứ Hai: 31/8/2015: 3 chương trình du lịch sau Đại Hội. BTC có 3 tour để phù hợp với nhu cầu của quý đồng môn:
1)- Cruise  Mexico (5 ngày 4 đêm) - Khởi hành 5:30PM ngày 31/8/2015 (nên đến tầu trước 3:00PM) - $821.78/ một phòng cho 2 người (mỗi người $410.86) - Hạn chót ghi danh là 30/5/2015. Túc số tối thiểu: 8 cặp - Ghi danh và Trả tiền lạc qua link: https://secure.vacationstogo.com/vtg/group/home.cfm?uuid=50B4804C13724B310506049F24DDB53D
2)- Bus Tour Khám Phá Los Angeles (1 ngày) - Khởi hành 9:00AM ngày thứ Hai 31/8/2015 - Chi phí $30/người. Tối thiểu 30 người tham dự. Hạn chót ghi danh là 30/6/2015.
3)- Bus Tour Nevada – Las Vegas - Zion National Park - Utah (3 ngày 2 đêm)  - Khởi hành 6:30AM ngày thứ Ba 1/9/2015 - Chi phí $550/một phòng 2 người (mỗi người $275) - Hạn chót ghi danh là 30/5/2015.
GHI DANH & TRẢ TIỀN
Ghi danh: CVA Phạm Quang Tuấn – Trả tiền: Check ghi: B-CVA Alumni Assn. Gửi về địa chỉ: 9114 Adams Ave. #362 Huntington Beach CA. 92646. Xin nhớ ghi Memo: ghi rõ Mục gì mà quý anh chị muốn trả.
KHÁCH SẠN TẠM TRÚ
Các Khách sạn đòi phải book 10 phòng để được gía đặc biệt và các dịch vụ khác nếu có. Khi book phòng nhớ dùng code B-CVA. Khách sạn từ * đến **** để tùy quý anh chị quyết định.
* Khách sạn tiện tham dự ngày Đại Hội nhưng xa Little Saigon
- Hotel Irvine (Cùng nơi Đại Hội) **** - $159/ngày - Không Breakfast, Parking: $18 - 17900 Jamboree Rd, Irvine, CA 92614 - Điện thoại: (949) 230-4452.
* Khách sạn tiện thăm Little Saigon
- The Hotel Huntington, Huntington Beach. *** (BTC đề nghị vì: Cạnh khu shopping lớn. Sẽ có xe chở tham dự ngày Đại Hội) - $134.47/ngày - Continental breakfast - Parking: $0 - Wifi. 7667 Center Ave. Huntington Beach, CA. 92647 - Điện thoại: (714) 891-0123. Runion B-CVA
- Ramada Inn, Garden Grove ** - $114/ngày. Không breakfast - Parking: $0 - Wifi. Gần Little Saigon
10022 Garden Grove Blvd. Garden grove, CA 92844 - Điện thoại: (714) 534-1818.
- Little Saigon Inn, Westminster * - $87/ngày-. Không breakfast - Parking: $0. 14052 Brookhurst St Garden Grove, CA 92843 - (714) 636-4890. Khu Little Saigon
PHI TRƯỜNG (ĐỀ NGHỊ THEO THỨ TỰ TIỆN DI CHUYỂN)
Long Beach (LGB), Orange County John Wayne (SNA) và Los Angeles (LAX)
 
 
 
 
BAN TỔ CHỨC
Giáo Sư Cố Vấn: GS HT CVA Dương Minh Kính, GS CVA Trịnh Xuân Vụ, GS CVA Nguyễn Xuân Vinh, GS CVA Vũ Ngọc Ánh, GS Lưu Trung Khảo, GS CVA Phạm Biển Thước, GS CVA Nguyễn Sâm
Ban Thực Hiện
Trưởng Ban Tổ Chức: CVA64 Bùi Đức Uyên  (714) 330-6002
Phó Trưởng Ban Tổ Chức Trách Nhiệm Đặc Biệt:
Cổ Động và Liên Lạc: CHT CVA58 Nguyễn Đức Năng  (714) 531-8275
Cổ Động Đồng Môn Trẻ: CVA76 Phan Kim Điềm  (405) 474-6849
Cổ Động Miền Đông Mỹ: CVA61 Nguyễn Đức Nam, CVA73 Vũ An Đạt (301) 370-8269, CVA 67 Nguyễn Văn Khiêm (586) 744-9582
Cổ Động Miền Trung Mỹ: CVA65 Đỗ Danh Bản (713) 679-9601, CVA59 Nguyễn Trân
Cổ Động Miền Bắc Mỹ: CHT/BC CVA59 Lê Duy San  (408) 464 8888, HT/BC CVA63 Nguyễn Đức Lâm, CVA65 Vũ Trọng Tiến, CVA65 Lê Văn Tỉnh. Nguyễn Đức Nam CVA61
Cổ Động Châu Âu: HT CVA59 Hà Đức Long (33622970473)
Cổ Động Châu Úc: CVA65 Trần Cao Hoài, CVA57 Nguyn Bát Tuấn
Ngày Đại Hội: TTK CVA65 Phạm Gia Đại  (714) 262-6128, Vũ Quốc Phong (714) 425-1451, Đặng Quỳnh (714) 653-0227
Ngày Tiền Đại Hội: TKS CVA59 Nguyễn Huy Hiền (714) 924-2721
Văn Nghệ: CHT CVA59 Nguyễn Mạnh Hiền “B” (626) 674-8897, TBVN CVA 63 Nguyễn Quốc Hùng (562) 619-4237
Du Lịch và Di Chuyển: CHT CVA63 Nguyễn Đức Khoát  (310) 324-9101, CHT Trần Quang Đôn (949) 910-6930, Nguyễn mạnh Hiền “A”. (714) 878-5833
ĐặcSan KỷYếu/Triễn Lãm: TBBGS CVA64 Nguyễn Địch Hà  (347) 853-4899, CVA59 Phạm Đình San (714) 553-8281
Tài Chánh: CVA68 Phạm Quang Tuấn (714) 883-6534
Thủ Quỹ: TQ CVA65 Nguyễn Mậu Tùng  (714) 717-2302
1.        Thư Ký: CVA76 Daniel Lưu (619) 888-6963
CVA thành viên còn lại của BTC: CHT Phạm Đình Tuân. Trần Huy Bích. CHT /BC Lại Quốc Ấn, Lê Tuấn. Phạm văn Thịnh. Nguyễn Đình Vĩnh. Nguyễn Song Thuận. Nguyễn Mạnh Kính. Nguyễn Quý Khôi. Trần Đình Khoa. Trần Minh Côi. Nguyễn Thế Dũng. Trần Lê Tuấn. Nguyễn Thế Nam. Lê Trọng Huy. Nguyễn Tấn Cường. Trần Đức Hoàng. Đỗ Đức Hiếu. Anh Phi. Nguyễn Ngọc Phúc. Tạ Kỳ Linh.
 
 
 
 
 
 
Thứ năm, 09 Tháng 7 2015 02:49

NHỮNG ĐỊA-DANH

NHỮNG  ĐỊA-DANH 

LIÊN-HỆ  ĐẾN  DANH-SƯ  CHU VĂN AN

 

HÀ  MAI-PHƯƠNG  &  LƯU-CHU  THANH-TAO

 

Lời Dẫn Nhập  :  Ngoài hai trường trung-học CHU VĂN-AN  nổi tiếng ở Hà-Nội trước năm 1954 và ở Sài-Gòn sau năm 1954,  cùng nhiều đường, phố vinh-danh Chu Văn-An khắp nơi trong nước; trong các sách cũ khi nhắc tới sự-tích và hành-trạng của vị danh-sư “hưng quốc” đời Trần này còn có nhiều địa-danh nổi tiếng có liên-hệ tới Chu Văn-Trinh Tiên-sinh.  Nay xin ghi chép trong bài viết này để các đồng-môn CVA đỡ mất công tra-cứu.

                                                                        H.M.P.  (CVA 1958-1959)

SINH-QUÁN  CỦA  VĂN-TRINH  TIÊN-SINH :  XÓM  VĂN

Sinh-quán của Chu Văn-An hay Chu-An [1292-1370] (1) ở Xóm Văn  hay Thôn Văn  thuộc xã Thanh-Liệt  tức Làng Quang hay xã Quang-Liệt cũ (2) ở bên bờ sông Tô-Lịch  [ngọn nguồn của Nhuệ-Giang], huyện Thanh-Trì, phủ Thường-Tín, trấn Sơn-Nam Thượng; sau này thuộc tỉnh Hà-Đông cũ; nay là huyện ngoại-thành Hà-Nội.  Sau khi Chu Văn-An mất, làng Quang-Liệt (tức Thanh-Liệt sau này),  thờ Chu Văn-An làm thành-hoàng ở Đình Nội thuộc Thôn Văn  (3).  Xã Thanh-Liệt có 4 thôn :  Thôn Cự,  Thôn Đương,  Thôn Quang [hay Làng Quang] và Thôn Văn [xưa là Xóm Văn].   Xã Thanh-Liệt giáp-giới với làng Hoàng-Cung ở bên kia sông Tô-Lịch, có Cầu Bươu bắc ngang sông này để hai làng thuận-tiện qua lại...

Hiện còn một số tục-ngữ, phong-dao về quê-hương danh-sư Chu Văn-An :

-- Hỡi cô đội nón quai thao,

Đi qua Thanh-Liệt thì vào làng anh.

Làng anh Tô-Lịch trong xanh,

Có nhiều vải, nhãn ngon lành em ăn !

-- Vải [làng] Quang, húng [làng Láng], ngổ Đầm [làng Linh-Đàm].

-- Hồng Làng Quang, vàng Làng Tó; kéo vó Xóm Văn.

-- Làng Quang dưa, vải khắp đồng,

Ngô, khoai khắp ruộng, nhãn lồng Xóm Văn…

LÀNG  HOÀNG-CUNG  VÀ  CUNG-HOÀNG  HỌC-HIỆU

Theo Đại-Nam Nhất-Thống-Chí  tại làng Hoàng-Cung có đền thờ danh-sư Chu Văn-An ở  Cung-Hoàng Học-Hiệu, nơi Quốc-tử-giám Tư-nghiệp Chu Văn An từng mở trường dạy học và đào-tạo được nhiều nhân-tài lỗi-lạc… Xã Hoàng-Cung [hay Huỳnh-Cung] ở tổng Cổ-Điển, ngay bên cạnh xã Quang-Liệt, cũng thuộc huyện Thanh-Trì, phủ Thường-Tín, trấn Sơn-Nam-Thượng; thời Pháp-thuộc, thuộc tỉnh Hà-Đông; nay là thôn Hoàng-Cung, xã Tam-Hiệp, huyện Thanh-Trì ngoại-thành Hà-Nội.

 Theo Dư-Dịa-Chí (trong Lịch-Triều Hiến-Chương Loại-Chí của Phan Huy-Chú, bản dịch của Tố-Nguyên Nguyễn Thọ-Dực, Phủ Quốc-Vụ-Khanh Đặc-trách Văn-hoa Xuất-bản, Sải-Gòn, 1971),  nhà đọc sách cũng là trường dạy học của Chu Văn-An tiên-sinh ở trên một gò đất lớn, quay mặt xuống một đầm nước rộng.  Sau khi tiên-sinh mất, hàng huyện lập đền thờ Chu Văn-An ở đấy…  Đền dựng từ năm nào không được rõ.  Năm 1717 đền được tu-bổ và có dựng bia ca-tụng công-đức danh-sư Chu Văn-An.  Văn bia do Ngự-sử Nguyễn Công-Thái [1684-1758] soạn. 

Tới năm 1785, đền thờ lại được trùng-tu, do quan Tham-tụng Bùi Huy-Bích khởi xướng.  Hàng năm, xuân thu nhị kỳ, theo lệ cũ, Triều-Đình đều có cử quan Khâm-mạng tới đền tế-lễ cùng với các văn-thân... 

Năm 1807  --  dưới đời vua Gia-Long  --   Nguyễn Huy-Vịnh [là con danh-sĩ Nguyễn Huy-Tự, tác-giả truyện thơ Hoa-Tiên ] có làm bài ký Thăm Đền Chu Văn-An.  Theo bài ký này, bấy giờ đền thờ Chu Văn-Trinh Tiên-sinh  [tức Chu Văn-An] có tòa chính-đường 5 gian và 2 tòa giải-vũ (mỗi tòa 3 gian); đắp tường đất bao-quanh đền,   Bài vị sơn son thếp vàng đề các chữ Trần Triều Quốc-Tử-Giám Tư-Nghiệp, Tiến tặng Văn-Trinh Công Phu-Tử, Tứ Thụy Khang Tiên-Sinh Thần Vị  (có nghĩa là : vị Tư-Nghiệp ở Quốc-Tử-Giám triều nhà Trần, được tiến tặng bậc Phu-tử là ông Văn-Trinh  --  tức Chu Văn-An  --  lập thần-vị với tên thụy được ban là Khang Tiên-sinh).  Trước đền có Thạch Hương Kỷ là cái bàn bằng đá trên có lò hương khắc bài văn ca-tụng phong-cách và gương sáng của Chu Văn An Tiên-sinh... Bia của Ngự-sử Nguyễn Công-Thái dựng trên lưng rùa đá ở bên hữu Thạch Hương Kỷ...

Năm 1860  --  dưới đời vua Tự-Đức  --  người trong huyện Thanh-Trì là các ông Trịnh Lý-Hanh và Hoàng Đình-Chuyên lại gia công tu-bổ đền và công ích này đã được nhắc tới trong văn bia do danh-sĩ Nguyễn Văn-Siêu soạn và dựng ở đền.

Đền thờ Chu Văn-An ở xã Hoàng-Cung đã bị hủy-hoại trong thời-kỳ “Tiêu-thổ Kháng-chiến chống Pháp” vào năm 1946; nay chỉ còn lại ít dấu-tích như nền tường và hai cột cửa...

ĐỀN  HIỂN-KHÁNH  VÀ  ĐỀN  XÀ-KIỀU

Đền Hiển-Khánhxã Linh-Đàm hay Linh-Đường, tổng Thanh-Liệt [Quang-Liệt cũ], huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Đông cũ; nay là thôn Linh-Đàm, xã Hoằng-Liệt, huyện Thanh-Trì ngoại-thành Hà-Nội.  Đền Hiển-Khánh thờ một vị Thủy-thần, tương-truyền là học-trò của Chu Văn-An, được tôn xưng là Hoằng-Trạch Đại-Vương.

Theo Tang-thương Ngẫu lục,  ở xã Bằng-Liệt [tổng Thanh-Liệt] có đền Xà-Kiều thờ vị Thủy-thần con Long-vương ở Sông Nhuệ.  Tương-truyền vị thủy-thần này là học-trò của danh-sư Chu Văn-An.  Theo truyền-thuyết, đời vua Trần Minh-Tông [ở ngôi từ năm 1314 đến năm 1323], có năm đại-hạn.  Bấy giờ Chu Văn-An dạy học ở Linh-Đàm, thấy một người học-trò có tướng lạ thường từ Đầm Đại là hồ nuớc ở Linh-Đàm đi lên.  Chu Văn-An có ý ngờ người học-trò này là một vị thủy-thần.  Ông đã ngỏ lời nhờ người học-trò này hóa phép làm mưa để cứu nạn hạn-hán của dân-chúng địa-phương.  Người học-trò này đã vâng lời Thày, tạo mưa cứu nạn khô-hạn cho cả vùng Thanh-Liệt.  Xong việc, người học-trò “hóa” [kính-ngữ dành cho các vị thánh, thần từ-trần].  Dân-chúng địa-phương nhớ ơn người học-trò ấy và lập đền thờ…

Ngoài đền thờ Thủy-thần ở Bằng-Liệt và  Linh-Đàm,  các làng Tứ-Kỳ, Tựu-Liệtxã Đại-Từ [nay thuộc xã Đại-Kim] đều thờ vị Thủy-thần tương-truyền là học-trò của Chu Văn-An Tiên-sinh...

PHƯỢNG-HOÀNG SƠN

Đời vua Trần Dụ-Tông, sau khi dâng “Thất Trảm Sớ” xin chém 7 tên quyền-thần gian-nịnh trong triều mà vua không thuận, Chu Văn-An xin từ quan, về ở ẩn ở núi Phượng-Hoàng,  tự xưng là Tiều-Ẩn [có nghĩa là người tiều-phu ở ẩn].

Theo Dư-Địa Chí,  vùng núi Phượng-Hoàng thuộc xã Kiệt-Đặc  --  cho nên cũng gọi là núi Kiệt-Đặc  --  ở huyện Chí-Linh, trấn Hải-Dương; nay thuộc xã Văn-An – tên xã này là để vinh-danh lương-sư Chu Văn-An  --  ở huyện Chí-Linh, tỉnh Hải-Dương.  Vùng núi này, ngọn ở giữa cao chót-vót, hai bên trải dài như đôi cánh chim phượng cho nên gọi là núi Phượng-Hoàng hay Phượng-Hoàng Sơn… Nơi đây có lăng mộ và đền thờ danh-sư Chu Văn-An và những di-tích thời Chu Văn-An ẩn-cư ở đấy như  Giếng Son [ đáy giếng có bùn màu đỏ; người ta lấy bùn này phơi khô để làm son] (4); bên giếng có ao Miết-Trì  hay Ao Rùa hoặc ao Ba-Ba,  tục gọi là Đĩa Son [Chu Văn-Trinh từng làm thơ vịnh ao Miết-Trì]… và những địa-danh vào đời nhà Trần nay chỉ còn thấy ghi ở trong sử sách như chùa Huyền-Thiên, cung Tử-Cục, điện Lưu-Quang…

Theo Đại-Nam Nhất-Thống Chí  [tỉnh Hải-Dương],  núi Phụng-Hoàng hay Phượng-Hoàng Sơn  ở xã Kiệt-Đặc, cách huyện-lỵ Chí-Linh khoảng 12 dặm ta về phía bắc.  Đời vua Lê Hiển-Tông [ở ngôi từ 1740 đến 1786], Hiến-sát-sứ trấn Hải-Dương là Lê-Đản, dựng bia ở nơi nhà cũ danh-sư Chu Văn-An ẩn-cư với các hàng chữ “Chu Văn-An Tiên-Sinh Ẩn-Cư Xứ”.  Năm 1841 [dưới đời vua Thiệu-Trị],  Án-sát tỉnh Hải-Dương là Nguyễn-Thu [1799-1855; hiệu là Định-Phủ] đứng ra quyên góp và dựng đền ở nền nhà ẩn-cư xưa của Chu Văn-An, gọi là Phượng-Sơn Từ  tức đền Phượng-Sơn.  Đền có tự-điền để dân địa-phương cày cấy lấy hoa-lợi phụng-tự.  Các tác-phẩm và thơ văn về Chu Văn-An cũng được thu-thập biên-soạn thành tập  Phượng-Sơn Từ Chí Lược.  Năm 1904,  Đốc-học tỉnh Thanh-Hóa là Vương Duy-Trinh và  Đốc-học tỉnh Ninh-Bình là Nguyễn Thượng-Hiền đứng ra quyên góp và cho khắc mộc-bản để in tập sách nói trên.

Vùng núi Kiệt-Đặc hay Phượng-Hoàng Sơn từng được ca-tụng trong sách An-Nam Chí  là “nơi có suối trong rửa đá, hang thẳm thổi gió, cảnh-vật thật là siêu-thoát”.

Dư-Địa-Chí  của Phan Huy-Chú  cũng chép bài thơ của Tư-đồ Trần Nguyên-Đán [1325-1390; ông ngoại của Nguyễn-Trãi] vịnh núi Phượng-Hoàng,  nguyên-tác Hán-văn; phiên âm như sau :

Song Phụng du du, vọng yểu minh; 

Phụng-Hoàng vạn cổ ái phương-danh. 

Lân phong tháp đảo như cù ảnh, 

Miết thủy tuyền minh tác vũ thanh.

 Nguy đặng kinh niên, thương tiễn hợp. 

Tân  kiều, đái-lộ hắc chi sinh. 

Tùng phong nhật noãn huyên không hưởng, 

Tương tự lai nghi tấu cửu thành

Tố-Nguyên Nguyễn Thọ-Dực dịch ra thơ như sau :

Thấy đâu song phụng cõi mơ-màng,

Muôn thuở danh thơm nức Phượng-Hoàng.

Tháp ngã núi Lân hình sấu lộn,

Suối tuôn hồ Miết tiếng mưa vang.

Năm nhiều cỏ tiễn che ghềnh thác,

Cầu mới bông chi nở móc sương.

Êm-ấm thông reo thành chín khúc,

Giống như lại múa giữa triều-đường.

Sách Hải-Dương Phong-Vật Khúc  của Trần Đạm-Trai  (bản dịch của Nguyễn Đình-Diệm, Bộ Văn-hóa Giáo-dục và Thanh-Niên, Sài-Gòn, 1968), cũng ca-tụng nơi ở ẩn của Chu Văn-An như sau :

…Cánh Phượng-Hoàng mạch liền Phượng-Nhãn,

Nước cùng son bao cạn đĩa nghiên.

Xưa nay còn tiếng để truyền,

Có cung Tử-Cực có đền Lưu-Quang.

Tán kình thiên hàng ngàn tùng bách.

Cảnh thanh-u quy khách quý nho,

Am mây nối gót thầy Chu,

Rành-rành bia tạc ngàn thu bao mòn !

            Sách  Dư-Địa Chí cũng chép hai bài thơ của Chu Văn-Trinh Tiên-sinh khi ngọan-cảnh ở vùng núi Phượng-Hoàng. 

            Tại sườn núi Phượng-Hoàng có chùa Lệ-Kỳ, thời Trần-sơ, đạo-sĩ Huyền-Vân ẩn-cư ở đó để luyện thuốc tiên.  Chu Văn-Trinh Tiên-sinh có thơ vịnh cảnh ấy, nguyên-tác Hán-văn như sau :

            Vạn điệp thương sơn thốc họa bình,

            Tà dương đảo quải bán khê minh.

            Lục la kinh lý vô nhân đáo,

            Sơn thước đề yên thời nhất thanh.

            Tố-Nguyên  Nguyễn Thọ-Dực dịch ra thơ :

            Muôn lớp non xanh như bức vẽ,

            Bóng chiều ngã sang nửa dòng khe.

            Rêu phong đường tắt không người tới,

            Tiếng khách kêu mù có lúc nghe.

            Khi lên núi Thanh-Lương ở xã Hắc-Động; dưới núi có bến đò Vạn, đó là sông Thanh-Lương; trên đỉnh núi có chùa cổ, lên đây ngắm cảnh, tất cả núi sông của 7 huyện Kinh-Môn đều lọt vào tầm con mắt.  Chu Văn-Trinh Tiên-sinh có thơ vịnh, nguyên-tác Hán-văn như sau :

            Sơn yêu nhất mạt tịch dương hòanh,

            Lưỡng luỡng ngư châu ngạn bạn hành.

            Độc lập Thanh-Lương giang thượng vọng,

            Hàn phong táp táp nộn triều sinh.

            Tố-Nguyên tạm dịch ra thơ :

            Bóng tà một vạch ngang lưng núi,

            Thuyền chài đi đôi lối ven sông.

            Sông Thanh-Lương mãng đứng trông,

            Hiu-hiu gió lạnh đến cùng triều sinh.

           

            Ngoài Văn-Miếu Hà-Nội thờ danh-sư Chu Văn-An, trước thời Pháp-thuộc còn có đình  thôn Phương-Viên  [xưa là Hương-Viên] ở tổng Hậu-Nghiêm  [sau đổi là tổng Thanh-Nhàn], huyện Thọ-Xương, thành-phố Hà-Nội, cũng thờ Chu Văn-An.  Đình này đã bị chiến-tranh hủy-hoại năm 1951; các bài-vị và đồ thờ ở đình dời sang chùa Phương-Viên [chưa rõ hiện-trạng của chùa này].  Còn nền đình cũ nay là nhà cao-tầng…

CHÚ-THÍCH

1.  Chưa biết vì nguyên-do nào mà Tự-điển Nhân-Vật Lịch-Sử Việt-Nam [của Nguyễn Q.Thắng và Nguyễn Bá-Thế; Nhà Xuất-bản Văn-Hóa, 1993], tại trang 81 lại dùng họ CHÂU thay cho họ CHU và Tự-điển này không có họ CHU, theo đó  Chu-An hay Chu Văn-An đã chính-thức được đổi ra là CHÂU-AN (Chu Văn An).  Nếu cho rằng các tác-giả này là người Nam, quen dùng các họ gọi theo tiếng Miền Nam, thì tại sao, trong tự-điển nói trên lại có cả hai họ VÕ và họ VŨ ?  Chẳng hạn như trang 958 ghi là VÕ HỮU-LỢI;  trang 959 lại ghi là VŨ KHÂM-LÂM.  Vả các nhân-danh hay địa-danh dân-chúng đã quen dùng, nay đổi theo ý các soạn-giả hay nhà xuất-bản hoặc nhà nước thì khi nói tới thi-sĩ VŨ HOÀNG-CHƯƠNG  mà đổi là VÕ HOÀNG-CHƯƠNG, độc-giả sẽ rất bỡ-ngỡ;  ngay cả dùng họ này trong các dấu ( ) : Chẳng hạn như :  CHÂU-AN (CHU-AN).

2.  Theo Các Tổng Trấn Xã Danh Bị Lãm,  đầu đời nhà Nguyễn,  tổng Quang-Liệt có có các xã :  Quang-Liệt,  Tựu-Liệt,  Bằng-Liệt  [có 2 xóm Bằng Thượng và Bằng Hạ],  Linh-Đường [hay Linh-Đàm; có 2 thôn Linh-Đường và Đại-Từ] và Hoằng-Liệt.  Đời vua Thiệu-Trị, năm 1844, vì kỵ húy, đổi tên tổng và xã Quang-Liệt ra là Thanh-Liệt. Theo Danh-mục Các Làng xã Bắc-Kỳ  của Ngô Vi-Liễn,  tổng Thanh-Liệt  có 6 xã :  Thanh-Liệt  [Quang-Liệt cũ],  Bằng-Liệt [có 2 làng Bằng-Liệt Thượng và Bằng-Liệt Hạ],  Linh-Đàm [hay Linh-Đường],  Pháp-Vân  [hay Kẻ Vân; nguyên là một thôn của xã Hoằng-Liệt], Tứ-Kỳ  [tục danh là làng Đình Gạch hay Làng Tứ; nguyên là một thôn của xã Hoằng-Liệt] và Tựu-Liệt.

3. Thôn Văn còn có Đình Ngoại thờ Ông Phạm-Tu  [476-548],  một vị tướng của Lý-Bôn tức vua Lý Nam-Đế.

4.  Theo Chí-Linh Phong-Thổ Ký  [khuyết-danh],  chân núi Kiệt-Đặc tức Phượng-Hoàng Sơn có Giếng Son, đáy giếng có bùn đỏ; người ta dùng ống tre cắm xuống đáy giếng lấy bùn đỏ lên,  đem phơi khô có được thứ son “nhất hạng”.  Những son lấy được trên mặt đất ở vùng núi này không phải là son hảo-hạng như ở Giếng Son.  Vì đặc-sản này mà dân  địa-phương bị đánh thuế nặng, nên họ đã lấp giếng đi nay không rõ giếng ở đâu.  Tiến-sĩ Thái-Thuận  [trong Tao-Đàn Nhị-Thập-Bát Tú  đời vua Lê Thánh-Tông] làm thơ có nhắc về việc này như sau :  Tăng hộ thường quan nhân úy hổ;  Thanh nham đa quật vị tầm châu;  có nghĩa là : Vì sợ cọp, cửa thiền vẫn đóng; Muốn tìm châu [tức “son”] mà hang đá bị đào tung [để tìm Giếng Son].  “Châu  hay “chu” là màu son đỏ [dùng để chấm bài cho học-trò].  Bút phê của Vua gọi là  Châu-Phê  và những giấy tờ có lời phê màu son đỏ của Vua gọi là  Châu Bản.  Bản dịch Dư-Dịa Chí của Tố-Nguyên về giếng ở chân núi Phượng-Hoàng, không rõ nguyên-bản ra sao, đã dịch lầm như sau : “Dưới núi có giếng, đáy giếng có ngọc châu tốt nhuyễn như bùn, phơi khô thành ngọc”. 

* Các Địa-danh trên trích trong Sơ-thảo Bách-khoa Tự-điển ĐỊA-DANH VIỆT-NAM  của H.M.P. & L.C.T.T. [chưa xuất-bản]

 

HÀ  MAI-PHƯƠNG  &  LƯU-CHU  THANH-TAO

 

Thứ năm, 09 Tháng 7 2015 02:35

Di cư 54 và tôi

DI CƯ 54 VÀ TÔI 

Đàm Trung Phán
(CVA 1960)

Sau khi tôi đã bước vào tuổi 50, trong những buổi chiều tà ngồi trong phòng vắng một mình tại trường nơi tôi dậy, tôi thường đặt câu hỏi trong đầu:”Tại sao tôi lại ở đây, ở cái xứ lạnh rất xa lạ với quê hương cội nguồn VN của tôi? ”

Tôi đi bộ dọc theo hành lang Campus cho dãn gân, dãn cốt và thả hồn vào bên trong nội tâm. Tôi cũng vẫn thường tự vấn:”Giá không có biến cố 54, liệu tôi có trở về đất Bắc sau khi đã thành tài tại ngoại quốc? Ừ nhỉ, giá mà về lại quê hương tôi tại Bắc Việt để dậy học như bây giờ, có chắc là tôisẽ vui hơn”?  Tôi miên man tìm câu trả lời …

Canada mấy hôm nay lạnh cóng hơn các năm trước. Bây giờ ngồi trong căn phòng ấm cúng tại nơi “Đất Lạnh Tình Nồng” Canada, tôi cảm thấy rất may mắn đã được về hưu non và không còn phải lo về “Nợ nần đời cơm áo” nữa, tôi ngồi miên man nghĩ ngợi. Chợt những hình ảnh của ngày xưa khi tôi còn bé tại Hà Nội hiện về. Tôi ghi vội vài dòng trước khi tôi lại bị lôi kéo vào những truyện tào lao khác.

Có lẽ biến cố di cư 54 đã ảnh hưởng rất lớn đến sự khôn lớn và đời tôi về sau này. Nó đã lắng sâu vào Tiềm Thức của tôi. Những lớp phù sa cuộc đời đã lắng xuống, lớp nọ đè sát lên lớp kia. Dòng đời từ từ trôi chẩy và dường như những lớp phù sa này đã trở thành thủy tra thạch được chôn lấp tự nhiên đến nỗi là tôi đã quên hẳn rất nhiều thứ. Nhưng rồi một biến cố nào đó chợt đến với tôi như những cú “shock” mạnh đã làm đẩy bật lớp Thủy Tra Thạch và trong một khoảng thời gian rất ngắn tôi đã thấy rõ được một số hình ảnh của thời thơ ấu.

Cuối năm 1995, một chị bạn đi du học cùng năm, cùng tuổi với tôi (tên là TAT) đã bị bạo bệnh mà mất . TAT mất đi trong sự đau sót tột cùng của 4 đứa con còn nhỏ dại: cháu lớn nhất mới 15, cháu nhỏ nhất mới 5 tuổi. Tôi đã ở trong nhà thương khi Bác Sĩ tắt đi hệ thống “Life Support” của T. Chính tôi đã thấy chồng của T. vuốt mắt cho T. Nhưng một mắt vẫn còn mở và người bạn gái thân nhất của T. đã vuốt mắt này để T. vĩnh viễn ra đi. 

Buổi tối hôm đó, trời mưa to và rất lạnh. Tôi về tới nhà, đã nửa đêm. Tôi vừa mệt vừa bàng hoàng: bên này là cửa dương, bên kia là cửa tử.Tôi cảm thấy mình như đang muốn ốm. Uống một viên thuốc Tylenol và năm Thiền Thở để tránh cái shock nội tâm. Sáng sớm hôm trước, tôi đã nằm mơ thấy TAT hiện về, ăn mặc rất chỉnh tề, chào tôi rồi biến dạng.Tôi đã thấy sững sờ. Thế rồi, chính tôi đã chứng kiến sự ra đi của T. trong nhà thương!

Nhìn đàn con T. nheo nhóc khóc mẹ, bỗng đâu tôi thấy tôi trở lại với gia đình tôi tại Saigon khi Mẹ tôi đột ngột ra đi khi bà mới 50 và tôi mới 13 tuổi! Tôi thiếp đi  lúc nào không hay để rồi khi tôi tỉnh giấc giữa đêm khuya , tôi thấy mặt mũi đầy nước mắt . Trong giấc mơ, tôi đã thấy cả gia đình tôi đang ở trong Bắc Việt Nghĩa Trang đưa đám tang mẹ tôi. Tôi thấy tôi đang lăn ra khóc thương sót mẹ tôi vĩnh viễn ra đi. Anh P., hơn tôi 1 tuổi, đang cố dỗ tôi cho nguôi cơn khóc. Anh P. dỗ tôi không xong phải nhờ anh T., hơn tôi 7 tuổi, dỗ dùm. Cuối cùng, anh T. cũng chẳng “làm tròn bổn phận”! Và tất cả các anh chị em cùng khóc như nhau! Làn phù sa tưởng đã hóa thành đá bỗng đâu bị phá vỡ như trong cơn động đất nội tâm để rồi để hiện nguyên hình trong ký ức của một đứa bé 13 tuổi nay đã là một người đàn ông 53 tuổi! Tôi thức giậy thấy vừa nhẹ nhõm lại vừa buồn tênh, nhất là lúc này tôi đang sống một mình và đang bị dòng đời lôi cuốn tôi vào một đoạn đường hoàn toàn mới lạ mà tôi chẳng thể nào tiên đoán được ra sao.

Oi cũng chỉ vì di tản! Mẹ tôi mất sớm, năm 1955, khi bà mới 50 tuổi, chỉ vì cuộc di cư 1954! Bạn tôi,TAT, người gốc Saigon, qua đời ở tuổi 53, chỉ vì phải quá vất vả với đời sống ngoại quốc sau biến cố 75 ?

Tôi ít có cái may mắn được sống gần với Mẹ tôi. Lên 7 tuổi, tôi phải theo Cha và anh chị tôi đi chạy loạn từ Bắc Ninh lên Bắc Giang. Mẹ tôi không thể chạy loạn được cùng với gia đình vì khi đó em trai út tôi mới sinh ra đời được mấy tháng. Gia đình tôi phải đi bộ chạy loạn trong đêm tối vì sợ ban ngày máy bay của Tây trông thấy bắn chết. Ban đêm tôi vừa buồn ngủ, vừa đói bụng lại vừa nhớ Mẹ! Ở Bắc Giang chẳng được bao lâu, Bố tôi lại phải mang anh chị em chúng tôi về lại Bắc Ninh để sum họp gia đình với Mẹ và em tôi. Sau đó Bố tôi bị Tây bắt đi tù. Rồi Bố tôi được trở lại nghề dậy học, dậy tại Phúc Yên. Anh P. và tôi được gửi lên Phúc Yên để theo Bố đi học vào năm 1950. Năm 1952, Mẹ tôi bị Việt Minh theo dõi phải thu xếp ra Hà Nội để đoàn tụ lại với gia đình, bỏ hết lại nhà cửa, ruộng nương tại Bắc Ninh. Gia đình sống yên ổn được 2 năm thì Hiệp Định Genève ra đời. Lúc này, Mẹ tôi không còn được khỏe như xưa nữa vì phải lo nghĩ nhiều. Bố tôi nhất quyết di cư vào Nam vì Cụ đã thấy Việt Minh lòi cái đuôi Cộng Sản. Mẹ tôi đã bàn với Bố tôi: một nửa ở lại Bắc, một nửa di cư vào Nam. “Phái đoàn Bắc Bộ” gồm có Mẹ, em Ut và tôi! Mẹ tôi không muốn vào Nam vì Bà cần phải ở lại để trông nom ruộng vườn, nhà cửa tại Bắc Ninh và cái nhà ở Hà Nội mà Bố Mẹ tôi mới tậu (mua) năm 1952. Vào Nam với tất cả gia đình ư? Làm sao mà Bố Mẹ chúng tôi có thể nuôi được cả 5 anh chị em chúng tôi, nhất là 3 anh em trai út chúng tôi khi đó mới 13, 12 và 6 tuổi. Bố Mẹ tôi chẳng còn nhiều tiền bạc sau khi đã mua căn nhà tại phố Kim Liên, Hà Nội, vả lại Bố tôi lại là một ông giáo sắp về hưu ! Cuối cùng, Mẹ tôi cũng đành chiều Chồng, chiều Con mà đau lòng vào Nam trong ngày cuối cùng trước khi Cộng Sản tiếp thu thành phố Hà Nội.

Những ngày tháng cuối ở Hà Nội, tôi thường đi xe đạp ra Chợ Trời xem người ta bán đồ, bán rẻ bán tháo được đồng nào hay đồng ấy trước khi những gia đình này di cư vào Nam. Nào là xe đạp, nào là giường phản, nào là xập gụ … Tuy là một cậu bé 12 tuổi, tôi thấy tiếc thương cho họ: sao mà lại phải bán rẻ như thế trước khi họ phải “bỏ của mà chạy lấy người“?

Việc di cư vào Nam của gia đình tôi, Bố Mẹ tôi không hề cho họ hàng biết, nhất là những người đang sống ở nhà quê với Việt Minh Cộng Sản. Bố Mẹ tôi cũng chẳng bán đồ đạc gì hết trong Chợ Trời. Riếng tôi, tôi thấy tưng tức: “Người ta” vừa mới thi đậu xong Tiểu Học và được Bố Mẹ hứa sẽ mua cho cái xe đạp Peugeot sau khi thi đậu, thì lại có cái vụ”Giơ Ne, Giơ Nung” vớ vẩn này! Từ hồi học lớp Nhì, tôi đã mê xe đạp Peugeot lắm rồi! Cô tôi (thực ra “Cô” là chị ruột của Bố tôi) đã muốn mua cho anh P. và tôi mỗi đứa một chiếc Peugeot rồi. Thế mà Bố tôi cứ cản mũi kỳ đà không cho mua. Mà Cô tôi đâu có nghèo gì, Cô có một căn nhà trên phố Phúc Kiến cho một ông Lang Tầu thue . Con trai độc nhất của cô còn mải đi kháng chiến, chẳng biết còn sống hay đã chết. Mấy đứa tụi tôi, cô coi như con của cô vậy. Hà Nội lúc này cũng chẳng có gì được vui: trong lúc tôi học lớp Nhì, lớp Nhất, ngày nào báo chí cũng đăng tin tức về Điện Biên Phủ và dội bom. Nhà tôi ở trên đường Kim Liên, tôi thấy các đoàn “convoy” xe nhà binh của Pháp bít bùng thường xuyên chạy qua nhà.

Mẹ tôi quyết định di cư vào Nam cùng gia đình gần như vào giờ phút chót vì Bà “dùng kế hoãn binh”! Thế rồi, một buổi sáng sớm tinh mơ, Bố Mẹ tôi khóa chặt cổng chính của căn nhà còn đầy đủ đồ đạc và gia đình tôi lên xe để sửa soạn sang phi trường Gia Lâm. Tôi còn nhớ, khi xe đi qua Hồ Hoàn Kiếm, một làn sương mỏng đang vây quanh Tháp Rùa. Lần đầu tiên, tôi được đi máy bay, máy bay 2 động cơ. Có lúc ở trong máy bay, tôi thấy thật là lạnh và phải đắp chăn. Máy bay còn lâu lâu đi vào các “ổ gà khí quyển” làm tôi cảm thấy buồn nôn. Gia đình tôi được chở thẳng từ Phi Trường Tân Sơn Nhất tới Nhà Hát Lớn ở Saigon. Đường xá rất xa lạ đối với tôi. Một người cháu họ của tôi (gọi Bố tôi bằng Ong Cậu) , vào Nam đã từ mấy năm trước , ra đón gia đình tôi về ở tạm với họ hàng tại Thị Nghè . Trong Taxi, tôi nghe cháu tôi nói tiếng Nam với Ong Tài xế người Nam, thật tình tôi chẳng hiểu gì hết vì tiếng Nam nghe rất lạ tai. Vài bữa sau, gia đình tôi dọn về ở tạm với gia đình anh họ của tôi tại Bến Tắm Ngựa trên đường Yên Đổ. 

Tôi may mắn đậu thi vào Đệ Thất trường Công sau khi gia đình tôi “tạm cư” tại Bến Tắm Ngựa. Anh tôi, anh P., đã học xong Đệ Thất CVA tại Hà Nội trước khi di cư. Để tiện việc đi học, cả hai anh em tôi đi học trường Trần Lục (lúc đó học nhờ trường Đồ Chiểu tại Tân Định) cho gần nhà. Trong thời gian này, Bố tôi bắt đầu đi dậy tại trường Phú Nhuận và em Ut tôi theo học lớp Năm tại trường này. Bố Mẹ tôi mua một căn nhà nhỏ tại một cái hẻm trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận.

Anh em tôi phải học buổi trưa tại Trần Lục, vì là trường mượn. Hai anh em tôi, thật ra, tụi tôi từ bé cho đến bây giờ là một đôi bạn mới đúng, ngày xưa đi đâu cũng có nhau. Hai đứa “khám phá” ra các cây Trứng Cá, cây Tầm Ruộc, cây Vú Sữa, cây Trứng Gà trên đường đi đến trường. Hai đứa thoạt nhìn quả Vú Sữa khi còn non, đoán hoài mà chẳng biết là quả gì. Rồi hai đứa còn “khám phá“ ra Đá Nhận, Bánh Loọc Đậu Đỏ, các loại sôi, chè miền Nam. Đi vào chợ trong Bến Tắm Ngựa, hai đứa ngạc nhiên hết sức khi thấy mấy bà bán hàng xé tiền 1 đồng làm hai mảnh để “thối” tiền “ Năm Cắc” cho người mua, ngạc nhiên đến trợn tròn con mắt ! Miền Nam mưa nắng hai mùa đã để lại trong đầu óc anh em tôi rất nhiều hình ảnh khó quên nhất là giọng ca Cải Lương Nam Kỳ. Đến bây giờ, mỗi lần nghe Cải Lương miền Nam, tôi lại bồi hồi nhớ lại Saigon của tôi hồi 54, 55! Oi Sài Gòn thương yêu của tuổi dại khờ!

Khi dọn vào căn nhà tại Phú Nhuận, Mẹ tôi hay đau yếu bất thường và bắt đầu lo nghĩ nhiều vì Bố tôi sắp về hưu trong khi đó ba anh em tôi còn nhỏ dại. Nhiều lần, khi đi học về, tôi hay nghe Mẹ tôi nói: “ Thôi, làm sao tụi mày cho Tao về lại Hà Nội đi, để Tao còn giữ lại được nhà cửa, ruộng vườn! Vào đây mất hết, Bố mày lại sắp về hưu, lấy gì mà nuôi chúng mày?”  Bà vừa nói, tay vừa đan bít tất cho con nít mới sinh để bán lấy tiền phụ Bố tôi nuôi ba anh em nhỏ tụi tôi!Thấy Mẹ càng ngày càng gầy gò, ốm yếu, tôi chẳng biết làm gì giúp Mẹ, tôi chỉ thấy thương Mẹ vô cùng. Để cho Mẹ vui, anh P. và tôi cố gắng học hành cho giỏi, đó là một món quà duy nhất mà hai anh em tôi có thể làm được để tặng cho Bố Mẹ trong những ngày tháng đầu của gia đình chúng tôi tại Saigon.

Khi tôi đang học Đệ Lục tại Trần Lục, buổi chiều ngày Rằm Trung Thu năm 1955, chị lớn tôi từ nhà thương Hồng Bàng về nhà báo tin động trời là Mẹ chúng tôi đã mất. Đêm Trung Thu năm đó, khi các con nít khác cỡ tuổi tôi đi rước đèn lại là lúc tất cả các anh chị em chúng tôi vào nhà xác để thăm viếng Mẹ. Khi viết những dòng này, 48 năm sau khi Mẹ tôi qua đời, tôi vẫn còn nhớ hình ảnh Mẹ tôi trong nhà xác và về sau này, ở tuổi 50, tôi đã ghi lại những gì đã xẩy ra trong Nội tâm của một đứa con trai mất mẹ lúc 13 tuổi:

… Mẹ thương yêu
Gặp gian nan
Lúc tôi còn nhỏ
Xác Mẹ nằm đó
Nhưng hồn Mẹ
Đã chìm sâu vào thế giới bên kia.
Tôi chơi vơi trong biển lệ
Mẹ đã đi rồi
Còn gì ở lại với tôi ?

Những ngày sau đó là những chuỗi ngày buồn tênh, đầy vắng lặng. Đã thế, trong cái hẻm đường Võ Duy Nguy, Phú Nhuận một số con nít người Nam cỡ tuổi anh em tôi không ưa gì dân Bắc Kỳ Di Cư và chúng đã ăn nói rất thô lỗ với hai anh em tôi (chú Ut còn quá trẻ nên “được” miễn!) . Nhiều lúc chúng còn cậy đông người và gây sự muốn đánh nhau với hai anh em tôi. Vì vậy hai đứa thường phải luôn luôn đi đôi với nhau và phải “thủ” một cây gậy để hộ thân. Chúng tôi thường phải nghe những câu như:” Nước nhà đã hòa bình và độc lập, tại sao đồ dân Bắc Kỳ ăn cá rô cây còn dzô Nam làm chi?” 

Xin mở một cái ngoặc kép ở đây: Đầu thập niên 80 tại Toronto, tôi gặp một ông người miền Nam mới di tản sang Canada. Ong ta hỏi tôi: “Có phải Chú là dân Bắc Kỳ Di Cư 54 không?” Tôi gật đầu và ông ta tâm sự:” Tôi vừa mới từ Đảo qua đây. Bây giờ tôi, một dân Nam Kỳ chính cống, mới thấy thương dân Bắc Kỳ Di Cư 54. Tụi tôi đã chửi dân Bắc Kỳ Di Cư 54 các Chú quá xá cỡ! Tôi đã phải sống với Cộng Sản mấy năm và còn phải ở tù nữa, tôi mới biết bộ mặt thật của Cộng Sản! Sorry nghe Chú!” Tôi bắt tay ông ta thông cảm và “ma cũ Bắc Kỳ Di Cư 54 “ bèn chỉ đường dần lối cho  “ma mới Nam Kỳ vượt biên 1983 “. Hữu tình ta lại gặp ta!

Sau khi Mẹ tôi qua đời, Chị lớn tôi xuống Hậu Giang đi làm để phụ giúp Bố tôi về vấn đề tài chính. Anh T. được học bổng đi học trường Nông Lâm Mục tại Blao. Gia đình tôi còn lại ở Saigon chỉ còn lại một ông bố già với 3 đứa con trai còn nhỏ tuổi. Anh P. và tôi lo việc chợ búa, cơm nước. Nhiều lần, hai anh em tôi đi chợ, phải đi qua cái “cửa ải” của mấy đứa con trai người Nam ăn nói lỗ mãng . Có những bữa ăn buổi tối, tôi chẳng thấy đói mà chỉ thấy buồn hiu hắt vì thấy cảnh ly tán, mất bóng người Mẹ, người Chị ở trong nhà. Phải sống qua giai đoạn này rồi lớn lên sau khi tôi đã có con, tôi mới thấu hiểu được cảnh cơ cực “ Gà trống nuôi con” của Bố tôi. Nỗi buồn có khi day dứt, có khi man mát này đã in sâu vào tâm thức của tôi, và cho đến khi tôi đã 55 tuổi đầu nó mới “tha” cho tôi!

Cha tôi đi học chữ Nho khi còn nhỏ. Hán học bị lỗi thời khi Cha tôi mới lớn lên, Cha tôi phải nhẩy sang “Tây” học (học tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ). Cha tôi không có cơ hội để học cho đến nơi đến chốn vì Ong nội tôi bị mù mắt từ hồi còn nhỏ nên Ong tôi rất nghèo. Vốn liếng chữ Nho, chữ Nôm, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ đều do Cha tôi tự học lấy, đủ để được bổ nhiệm làm chức Giáo Học trường làng tại tỉnh Phúc Yên , dậy cho tới hồi 1945 .

Để tránh cảnh anh em chúng tôi hư vì không có Mẹ trông nom đàng hoàng và để ước ao cho ba đứa con trai nhỏ dại được học hành như ý Cha tôi muốn, sau mỗi bữa ăn, như thường lệ, Cha tôi ngồi đọc sách, chấm bài, hay dịch sách chữ Nho, chữ Nôm và tiếng Pháp sang tiếng Việt. Mỗi đứa con cũng phải ngồi xuống bàn học. Anh P. và tôi đã quen lối sống này rồi vì hai đứa đã theo Bố đi học tại Phúc Yên khi hai đứa mới 8 và 9 tuổi. Chỉ tội cho chú Ut mới 7 tuổi đã mất Mẹ, bắt ngồi xuống bàn học suốt cả đêm thì làm sao mà chú ngồi được? Chú thường lỉnh ra ngoài chơi với con nít khác nên chú hay bị Bố cho ăn đòn, nghĩ lại thấy thương tình. Cũng may là tất cả các anh em tôi được học hành thành tài và nên người, chắc nhờ phúc đức bên nội và bên ngoại để lại? Chú Ut đã trở thành một Bác Sĩ Chuyên Khoa, có vợ , có con đàng hoàng và còn là một tay trồng lan thiện nghệ !

Những năm tôi du học xa nhà, trong những ngày gần Tết Nguyên Đán, cứ mỗi lần nghĩ thấy một mình Cha già đang sửa soạn Tết với chú Ut, lòng tôi thật xót sa thương cho Cụ trong cảnh đơn côi lúc xế chiều. Lúc này anh P. tôi cũng đang du học bên Mỹ và tôi đang ở Miền Nam Bán Cầu.  Những day dứt nhớ thương Cha già đã được tôi đột nhiên ghi chép lại bằng vần thơ mộc mạc trong lúc ngồi chấm bài vào năm 1991 trước bàn thờ của Cha Mẹ tôi:

… Con còn nhớ
Năm con mười ba tuổi
Một đêm Trung Thu
Bất thần, Mẹ ra đi vĩnh cửu
Bố gánh chịu thân Gà Trống Nuôi Con!
Mười chín tuổi, con ra đi
Máy bay cất cánh
Bố ở lại
Bạn đời với văn chương, chữ nghĩa
Bần thần thương nhớ con trai.
Vì tương lai, sự nghiệp?
Hay vì con vướng mộng giang hồ?

Cha tôi đã “ở vậy” nuôi nấng anh chị em chúng tôi từ năm 1955 đến năm 1988 khi Cụ qua đời tại Montreal, Canada. Cả gia đình chúng tôi đã suýt bị Tây bắn chết tại Bắc Ninh vì mưu mô sảo quyệt của Việt Minh Cộng Sản nên Cụ đã nhất quyết di cư vào Nam năm 54.  Rồi định mệnh cũng lại bắt Cha tôi phải di tản bất đắc dĩ sang Mỹ rồi Canada vào năm 1975, khi Cụ đã 80 tuổi. Cụ không muốn đi, nhưng chính chú Ut đã là người “bốc” Cụ đi. Cụ đã phải trải qua biết bao nhiêu mất mát của cuộc di cư 1954, để rồi sau đó, cuộc di tản 1975 đã là một cú đòn quá nặng cho một ông già đã 80 tuổi mà cuộc đời chỉ toàn là mất mát và nhớ thương quê hương, con, cháu !

Giá mà không có biến cố Di Cư 1954, Cha tôi đã được dân làng của tỉnh Phúc Yên lập đền thờ vì Cụ đã dậy học 3 đời: Đời Ong, Đời Cha, Đời Con đã là học trò của Cụ!Giá mà không có biến cố Di cư 54, biết đâu anh em chúng tôi đã không mất Mẹ một cách mau chóng?? Giá mà Mẹ tôi đã quyết định ở lại ngoài Bắc cùng với chú Ut và Tôi, thì chắc gì chú Ut và tôi đã được học hành đến nơi đến chốn vì Mẹ tôi sẽ được “vinh danh” là Địa Chủ, mất hết nhà cửa ruộng vườn trước khi “được người ta chiếu cố “ bằng ngón đòn Tố Khổ. Ai sẽ là người nuôi nấng chú Ut và tôi? Thà là vào Nam mà mất Mẹ, nhưng còn có Bố để được ăn học nên người và giữ được nền tảng đạo đức con người, còn “sướng” hơn là ở lại ngoài Bắc với “Bác” và “Đảng”!

Tôi không còn dám nghĩ đến chữ “Giá mà …” nữa. Tôi thầm nghĩ: mỗi người chúng ta đều có một cái nghiệp mà mỗi quốc gia cũng có một cái nghiệp riêng của nó. Những kẻ độc tài, khát máu, vô thần rồi sẽ phải trả giá rất đắt cho những việc họ làm. Thương hại thay cho những kei vô thần, độc đoán, độc tôn! Rồi Luật Nhân Quả sẽ trả lời họ mà thôi.

Giờ đây các anh chị em chúng tôi có người đã thành ông bà nội ngoại. Chúng tôi hẹn nhau cứ hai năm một lần, tất cả anh em chúng tôi lại gặp nhau tại một nơi nào đó. Gặp nhau để nói lên lòng thành kính và biết ơn với Cha Mẹ chúng tôi.  Gặp nhau để nhớ lại truyện ngày xưa tại ngoài Bắc và trong Nam. Gặp nhau để kể cho nhau nghe những truyện khôi hài. Gặp nhau để cười đùa như để bù lại những lúc đơn côi hồi còn nhỏ khi mà chúng tôi chỉ biết có thở dài!

Mẹ tôi cũng đã được “đoàn tụ” với anh chị em chúng tôi tại Hoa Kỳ vào đầu thập niên 90: Chị dâu tôi, khi được bảo lãnh sang Hoa Kỳ đã mang theo tro cốt của Cụ . Cụ cũng đã bắt buộc phải Di Tản, vì “người ta” đã khai quật hết tất cả các mồ mả tại Bắc Việt Nghĩa Trang! Và Cụ đang “sống” cùng với gia đình anh T., anh lớn của chúng tôi tại Hoa Kỳ. 

Cha tôi đang yên nghỉ tại một nghĩa trang yên tĩnh ở Montreal và mỗi lần anh chị em chúng tôi gặp nhau tại nhà chú Ut tại Montreal, tất cả anh em chúng tôi rất lấy làm vui mừng ra nghĩa địa đốt nén nhang , khấn bái thăm Cụ .

“ Rồi một chiều tóc trắng như vôi!”  và “Cát bụi sẽ trở về với Cát bụi “ , anh em chúng tôi cũng sẽ lặng lẽ ra đi . Hy vọng rằng ít nhất là các con cháu chúng tôi cũng không phải vất vả, khổ cực như hàng triệu người Việt đã phải trải qua những kềm kẹp  cũng như các biến cố Di Cư 54, biến cố Di Tản 75 và biến cố Thuyền Nhân. 

Cuộc đời, thật sự, có ai mà đoán trước và hiểu dược, phải không, thưa Quý Vị?

Đàm Trung Phán
Tháng Hai, 2003
Toronto, Canada

Thứ năm, 09 Tháng 7 2015 02:00

Hop Mat Tan Nien 2015

Họp Mặt Tân Niên CVA Bắc Cali, tháng 3 năm 2015

tại nhà hàng Dynasty, San Jose

Hop Mat Tan Nien 2015 1 01

Hop Mat Tan Nien 2015 2 01

 

Hop Mat Tan Nien 2015 3 01Hop Mat Tan Nien 2015 5 01

Hop Mat Tan Nien 2015 4 01

 

Nguyen Cong Bac Nguyen Dang Khoi

Lam Huu Trai Nguyen Thanh Son Nguyen Trong Dzung Le Quoc Tan

Hop Mat Tan Nien

CVA67 68

CVA67 & 68

Nam va Bac Cali

Phái đoàn CVA Nam California chụp hình lưu niệm với Bắc Cali

Cac nang dau CVA

Các nàng dâu CVA

Cac nang dau CVA2

Các nàng dâu CVA

 

 

 

 

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 2014-2016

Hội Trưởng: Nguyễn Đức Lâm

Phó Hội Trưởng: Nguyễn Quốc Long (*)

Tổng Thư Ký: Lê Văn Tỉnh.

Phó Tổng Thư Ký: Vũ Trọng Tiến.

Thủ Qũy: Nguyễn Khắc Điệp (**)

Ghi chú:

(*) Anh Nguyễn Quốc Long từ trần ngày 9 tháng 4 năm 2016

(**) Anh Nguyễn Khắc Điệp từ nhiệm tháng 10 năm 2014

-----------------------------------

 

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 2012-2014

Hội Trưởng: Lê Duy San.

Phó Hội Trưởng: Nguyễn Đăng Khôi.

Tổng Thư Ký: Nguyễn Văn Hiến

Phó Tổng Thư Ký: Nguyễn Quốc Long

Thủ Quỹ: Nguyễn Công Bắc

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn. Phạm Hữu Độ. Nguyễn Thanh Giản. Nguyễn Hoàng Hải. Nguyễn Văn Hiền. Phạm Nguyên Khôi. Vũ Mạnh Phát.  Bùi Văn Rậu.  Nguyễn Văn Thịnh.  Phạm Huy Thịnh. Vũ Trọng Tiến.

 ------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 2010-2012

Hội Trưởng: Lê Duy San.

Phó Hội Trưởng: Nguyễn Đăng Khôi.

Tổng Thư Ký: Vũ Văn Tới.

Phó Tổng Thư Ký: Đoàn Đình Quý.

Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Mão.

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn. Phạm Hữu Độ. Nguyễn Thanh Giản . Nguyễn Hoàng Hải. Nguyễn Văn Hiền. Phạm Nguyên Khôi. Vũ Mạnh Phát. Bùi Văn Rậu.  Nguyễn Văn Thịnh.  Phạm Huy Thịnh.  Vũ Trọng Tiến.

 -----------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 2008-2010

Hội Trưởng: Lê Duy San.

Phó Hội Trưởng: Đỗ Đình Lợi.

Tổng Thư Ký: Nguyễn Đình Phương.

Phó Tổng Thư Ký: Nguyễn Trọng Dzũng (từ 6/2008 đến 6/2009).

Thủ Quỹ: Nguyễn Quốc Long.

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn.  Phạm Hữu Độ. Nguyễn Thanh Giản .  Nguyễn Hoàng Hải.  Nguyễn Văn Hiền.  Phạm Nguyên Khôi.  Vũ Mạnh Phát.  Bùi Văn Rậu.  Nguyễn Văn Thịnh.  Phạm Huy Thịnh.  Vũ Trọng Tiến.

 ---------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2006-2008 

Hội Trưởng: Lê Duy San.

Phó Hội Trưởng Nội Vụ: Trần Trung Chính.

Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ: Hà Mạnh Tuấn.

Tổng Thư Ký: Nguyễn Đình Phương.

Phó Tổng Thư Ký: Đỗ Đình Lợi.

Thủ Quỹ: Nguyễn Quốc Long.

Ban Báo Chí: Trần Trị Chi (TB) & Phạm Tài Tấn

Ban Văn Nghệ: Lê Duy San (tạm kiêm), Bảo Ngọc, Trịnh Như Toàn

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn.  Phạm Hữu Độ.  Nguyễn Thanh Giản .  Nguyễn Hoàng Hải.  Nguyễn Văn Hiền.  Phạm Nguyên Khôi.  Vũ Mạnh Phát.  Bùi Văn Rậu.  Nguyễn Văn Thịnh.  Phạm Huy Thịnh.  Vũ Trọng Tiến.

 --------------------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2004-2006 

Hội Trưởng: Phạm Nguyên Khôi (CVA 1968)

Hội Phó: Đoàn Phan Trí (CVA 1968)

Tổng Thư Ký: Nguyễn Thanh Hà (CVA 1978)

Phó Tổng Thư Ký: Nguyễn Văn Mão (CVA69)

Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Hiến (CVA 1964)

Phụ giúp phần Văn Nghệ: Nguyễn Phục Hưng

 

Ban Cố Vấn:

Tất cả quý vị cựu Hội Trưởng và quý vị trong các Ban Chấp Hành tiền nhiệm.

 -----------------------------------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2002-2004 

Hội Trưởng: Phạm Nguyên Khôi (CVA 1968)

Hội Phó: Đoàn Phan Trí (CVA 1968)

Tổng Thư Ký: Nguyễn Thanh Hà (CVA 1978)

Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Hiến (CVA 1964)

Phụ giúp phần Văn Nghệ: Trần Ngọc

 

Ban Cố Vấn:

Tất cả quý vị cựu Hội Trưởng và quý vị trong các Ban Chấp Hành tiền nhiệm.

 -------------------------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2000-2002:

Hội Trưởng : Vũ Mạnh Phát

Phó Hội Trưởng: Nguyễn Huy Lãng

Tổng Thư Ký: Phạm Phúc Hưng & Phạm Nguyên Khôi (*)

Phó Tổng Thư Ký: Phạm Nguyên Khôi

Thủ Quỹ: Bùi Công Thắng

ỦY VIÊN LIÊN LẠC:  HOÀNG UÔNG LỄ – NGUYỄN HUY TIÊN

(*) Ghi chú:  Vài tuần sau khi bầu Ban Chấp Hành mới, TTK Phạm Phúc Hưng xin từ nhiệm vì lý do sức khỏe.  Vì vậy, Phó TTK Phạm Nguyên Khôi được chỉ định giữ chức vụ Tổng Thư Ký cho đến hết nhiệm kỳ còn lại.  

 

Ban Chấp Hành mở rộng:  

Bốn đồng môn sau đây được mời vào trong Ban Chấp Hành mở rộng:  Nguyễn Văn Hiến, Nguyễn Đình Phương, Trần Minh Phương, Phạm Huy Thịnh.

 ---------------------------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 1998-2000 

Hội Trưởng : Phạm Huy Thịnh 

Phó Hội Trưởng: Phạm Phúc Hưng 

Tổng Thư Ký : Phạm Nguyên Khôi 

Phó Tổng Thư Ký: Vũ Mạnh Phát 

Thủ Quỹ : Nguyễn Đình Phương 

Trưởng Ban Văn Nghệ : Trần Minh Phương 

Liên Lạc: Nguyễn Huy Tiên & Hoàng Uông Lễ 

 

BAN CỐ VẤN
LẠI QUỐC ẤN - PHẠM HỮU ĐỘ - NGUYỄN THANH GIẢN - NGUYỄN HOÀNG HẢI - HOÀNG DUY HIỆU – ĐỖ ĐÌNH LỢI - LÊ DUY SAN - LƯU VĂN VỊNH

 ----------------------------------

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 96-98:

HT: Phạm Huy Thịnh

PHT: Hoàng Uông Lễ & Nguyễn Lê Tiến

TTK : Trần Minh Phương

PTTK: Phạm Phúc Hưng

TQ: Nguyễn Đình Phương

Trưởng Ban Văn nghệ: Lê Quốc Tấn

Trưởng Ban Báo chí : Vũ Mạnh Phát.  Phụ tá: Phạm Nguyên Khôi

Ban cố vấn

Toàn thể thành viên của ban Chấp Hành cũ được mời vào ban Cố Vấn 

 ----------------------------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 1994-1996

Hội Trưởng:Nguyễn Thanh Giản.

Phó Hội Trưởng: Lê Duy San.

Tổng Thư Ký: Hoàng Uông Lễ.

Thủ Quỹ: Hoàng Duy Hiệu.

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn.  Phạm Hữu Độ.  Nguyễn Hoàng Hải.  Nguyễn Văn Hiền.  Nguyễn Trung Hòa.  Cung Đình Qùy.  Bùi Văn Rậu.  Bùi Ngọc Tô.  Lưu Văn Vịnh. Nguyễn Văn Xuyên.

 -----------------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 1992-1994

Hội Trưởng: Lại Quốc Ấn.

Phó Hội Trưởng: Phạm Tài Tấn.

Tổng Thư Ký: Lê Duy San.

Phó Tổng Thư Ký: Đào Khanh.

Thủ Quỹ: Đỗ Thị Nhuận.

 

Ban Cố Vấn:

Phạm Hữu Độ. Nguyễn Hoàng Hải.  Nguyễn Văn Hiền.  Nguyễn Trung Hòa.  Cung Đình Qùy.  Bùi Văn Rậu.  Bùi Ngọc Tô.  Lưu Văn Vịnh.  Nguyễn Văn Xuyên.

 ---------------------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 1990-1992

Hội Trưởng: Phạm Hữu Độ.

Phó Hội Trưởng: Bùi Ngọc Tô.

Tổng Thư Ký: Lê Duy San.

Phó Tổng Thư Ký: Phạm Tài Tấn.

Thủ Quỹ: Đỗ Thị Nhuận.

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn. Nguyễn Trung Hòa.  Nguyễn Hữu Hưng.  Đinh Tiến Lãng.  Nguyễn Huy Lãng.  Trần Quang Lãng.  Vũ Gi Mưu.  Cung Đình Qùy.  Đào Văn Sơn. Cung Nhật Tân.

 ------------------------------------------------

Ban Chấp Hành Nhiệm Kỳ 1988-1990

Hội Trưởng: Nguyẽn Hoàng Hải.

Phó Hội Trưởng: Phạm Hữu Độ.

Tổng Thư Ký: Lê Duy San.

Phó Tổng Thư Ký: Nguyễn Khắc Điệp.

Thủ Quỹ: Đỗ Thị Nhuận.

 

Ban Cố Vấn:

Lại Quốc Ấn. Nguyễn Trung Hòa.  Nguyễn Hữu Hưng.  Đinh Tiến Lãng.  Nguyễn Huy Lãng.  Trần Quang Lãng.  Vũ Gi Mưu.  Cung Đình Qùy.  Đào Văn Sơn.  Cung Nhật Tân.

                    

 

Bạn đang ở trang: Home Giới Thiệu Pham Nguyen Khoi